Đề Xuất 2/2023 # Cách Hướng Dẫn Học Sinh Giải Một Số Dạng Cơ Bản Môn Toán 6 # Top 11 Like | Asianhubjobs.com

Đề Xuất 2/2023 # Cách Hướng Dẫn Học Sinh Giải Một Số Dạng Cơ Bản Môn Toán 6 # Top 11 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Cách Hướng Dẫn Học Sinh Giải Một Số Dạng Cơ Bản Môn Toán 6 mới nhất trên website Asianhubjobs.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Các bước hướng dẫn học sinh lớp 6 giải Toán cơ bản

Bước 1: Quan sát, tiếp thu

Giáo viên/ Cha mẹ giúp học sinh nắm kiến thức cơ bản, tối thiểu và quan trọng nhất. Cần kết hợp vừa giảng, vừa luyện, phân tích chi tiết để học sinh hiểu khái niệm không hình thức. Đồng thời cung cấp kiến thức mới, củng cố và khắc sâu thông qua ví dụ, chú ý phân tích các sai lầm thường gặp. Sau đó, tổng kết kiến thức có trong bài, đây là bước khó khăn nhưng quan trọng nhất, từ làm quen tiến tới hiểu kiến thức mới. Kết quả cho thấy khi hoàn thành tốt bước 1, học sinh sẽ tiếp thu hiệu quả hơn.

Bước 2: Làm theo hướng dẫn

Giáo viên/ Cha mẹ cho ví dụ tương tự để học sinh bước đầu làm theo hướng dẫn và có thể tự áp dụng. Dưới sự hướng dẫn đó, học sinh bước đầu vận dụng hiểu biết của mình vào giải Toán. Ở bước thứ 2 này, các em thường vẫn còn lúng túng và sai lầm do chưa hiểu sâu sắc nội dung vừa được học. Tuy nhiên, chúng ta không được mất bình tĩnh hay quát mắng khiến học sinh sợ sệt, cần nhẹ nhàng nhắc lại các em sẽ làm được và tự tin hơn.

Bước 3: Học sinh tự làm theo mẫu

Giáo viên/ Cha mẹ đưa ra một bài tập khác để học sinh tự làm theo mẫu đã được dạy. Lúc này, học sinh độc lập thao tác, nếu hiểu bài thì có thể hoàn thành nhanh chóng và chính xác, chưa hiểu bài còn lúng túng. Điều này giúp chúng ta biết được tình trạng của học sinh để có giải pháp hỗ trợ con nắm bắt kiến thức dễ hơn. Giáo viên có thể bao quát mức độ hiểu bài của cả lớp thông qua bước 3, từ đó đề ra biện pháp thích hợp cho từng học sinh.

Bước 4: Thực hành giải bài Toán

Giáo viên/ Cha mẹ cho bài tập tại lớp hay bài tập về nhà để học sinh tự thực hành. Các em sẽ áp dụng kiến thức được đã được học vào giải Toán mà không có sự hướng dẫn của ai hết. Bước cuối cùng này có tác dụng rèn luyện kỹ năng tự học, tự hành cho học sinh. Việc cho học sinh làm bài tập thêm sẽ giúp các em hiểu sâu kiến và nắm vững kiến thức.

Hiện nay có rất nhiều trường hợp học sinh chưa hiểu bài nhưng ngại hỏi, đây là một thực tế báo động. Điều này dẫn đến bản thân các em không thể vận dụng kiến thức vào giải Toán, kéo theo kết quả học tập kém và tâm lý lo sợ. Nếu phụ huynh chưa hiểu hết các bước hướng dẫn trên, hay muốn thuê gia sư Toán lớp 6 cho con. Vui lòng liên hệ với Gia Sư Việt qua số 096.446.0088 để được tư vấn và hỗ trợ 24 / 7

Tìm hiểu thêm:

♦ Những điều cần biết để hoàn thiện tư duy Toán học cho con

♦ Những ưu điểm khi đổi mới phương pháp dạy học môn Toán

Hướng Dẫn Học Sinh Trung Bình, Yếu Và Kém Giải Một Số Dạng Toán Tìm X Ở Lớp 6

– Sau khi cho học sinh nắm được các dạng toán tìm x cơ bản và đã làm được bài tập của các dạng toán này một cách thành thạo thì việc nâng cao các bài toán tìm x là một điều quan trọng và không thể thiếu khi hướng dẫn cho học sinh trung bình và yếu kém. Giáo viên đóng vai trò là người dẫn dắt, chỉ đường cho học sinh với phương pháp: ” Chuyển bài toán lạ, phức tạp và chưa biết cách giải về dạng toán quen thuộc, đơn giản đã bết cách giải”.

– Sau khi đã dạy xong 6 dạng toán trên, giáo viên đưa ra các bài tập sau:

Bài tập 5: Tìm số tự nhiên x, biết

6.x + 20 = 50 (được phát triển từ bài toán: x + 20 = 50)

+ Gặp bài tập này học sinh sẽ cảm thấy bỡ ngỡ vì bài toán mình đã làm có dạng là x + 20 = 50, còn đây là 6.x + 20 = 50

– Giáo viên hướng dẫn học sinh: Nếu coi tích 6.x như một số hạng chưa biết, thì bài toán có dạng nào?

+ Học sinh thấy ngay đây là dạng toán I

đặc thù riêng lẻ. Mặt khác cần khuyến khích học sinh tìm hiểu các giải để học sinh phát huy được khả năng tư duy linh hoạt, nhạy bén khi trình bày bài giải bài toán. Tạo được lòng say mê, sáng tạo, ngày càng tự tin, không còn tâm lý e ngại đối với các bài toán tìm x. Học sinh thấy được môn toán rất gần gũi với các môn học khác và thực tiễn trong cuộc sống b, Nhiệm vụ của đề tài Nhiệm vụ của đề tài là đưa ra phương pháp giải và cách trình bày bài giải của một số dạng toán tìm x cơ bản mà học sinh trung bình và yếu, kém thường hay gặp ở chương trình toán lớp 6 mà học sinh còn chưa biết cách giải hay thường hiểu sai về phương pháp giải các dạng toán đó. 3. Đối tượng nghiên cứu Học sinh có học lực trung bình và yếu, kém của hai lớp 6A và 6B trường THCS Băng Adrênh- Krông Ana - Đăklăk. 4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu Đề tài được áp dụng trong một số dạng toán tìm số tự nhiên x ở chương trình toán lớp 6 mà học sinh trung bình và yếu, kém vẫn chưa thể tự mình giải và trình bày bài giải được. 5. Phương pháp nghiên cứu - Tìm hiểu tình hình học tập của học sinh. - Cách hình thành kĩ năng giải toán cho học sinh thông qua các tiết luyện tập - Học hỏi kinh nghiệm thông qua dự giờ, rút kinh nghiệm từ đồng nghiệp. - Phương pháp đọc sách và tài liệu - Nói chuyện cởi mở với học sinh, tìm hiểu suy nghĩ của các em về dạng toán tìm x. - Triển khai nội dung đề tài và kiểm tra, đối chiếu kết quả học tập của học sinh từ đầu năm học đến cuối năm học của các năm học trước. II. Phần nội dung 1. Cơ sở lí luận Từ năm 2002 đến nay, chương trình sách giáo khoa có nhiều thay đổi, đặc biệt là những năm gần đây, việc giảm tải, thay đổi khung phân phối chương trình đồng nghĩa với việc thay đổi cách nhìn, cách học, cách dạy của thầy và trò. Trước tình hình đó môn toán cũng không nằm ngoài xu hướng đó. Để dạy và học tốt môn toán lớp 6, nhất là các dạng toán tìm x, đòi hỏi cả thầy và trò phải nỗ lực nghiên cứu, tìm hiểu tài liệu một cách sâu sắc. Trước khi học "tường minh" về phương trình và bất phương trình, học sinh đã được làm quen một cách "ẩn tàng" về phương trình và bất phương trình ở dạng toán "Tìm một số chưa biết trong một đẳng thức", mà ta hay gọi là các bài toán tìm x. Các bài toán "tìm x" ở lớp 6 và ở tiểu học là cơ sở để học sinh dần dần học tốt phương trình và bất phương trình ở lớp 8. Đồng thời giúp các em làm quen và rèn luyện cách giải phương trình sau này thông qua giải các bài toán tìm x. Lý thuyết phương trình không chỉ là cơ sở để xây dựng đại số mà còn giữ vai trò quan trọng trong các bộ môn khác của toán học và trong cuộc sống. Người ta nghiên cứu không chỉ phương trình đại số mà còn nghiên cứu những phương trình vi phân, phương trình tích phân, phương trình hàm... Tuy nhiên, với trình độ hiện nay của học sinh, nhất là học sinh trung bình và yếu, kém không thể tự mình lĩnh hội một khối lượng lớn kiến thức cùng một lúc. Vì vậy, rèn luyện kĩ năng giải toán tìm x trong chương trình toán lớp 6 là một vấn đề quan trọng trong việc dạy và học môn toán lớp 6. Tạo nền tảng kiến thức vững chắc cho học sinh bước vào các năm học tiếp theo. 2. Thực trạng Trong quá trình học toán, học sinh hiểu phần lý thuyết có khi chưa chắc chắn hoặc còn mơ hồ về các định nghĩa, các khái niệm, các công thức nên thường dẫn đến sai lầm khi làm bài tập. Có những dạng bài tập tìm x, nếu học sinh không chú tâm để ý hay chủ quan xem nhẹ hoặc làm theo cảm nhận tương tự là có thể vấp phải sai lầm. Đa số học sinh cảm thấy khó học dạng bài toán tìm x này do các em đã mất gốc ở tiểu học. Do các e không chịu học phần định nghĩa, khái niệm, tính chất ở các phép toán cộng, trừ, nhân, chia đã học ở tiểu học, ở lớp 6, mà đây lại là vấn đề quan trọng yêu cầu học sinh phải nắm và hiểu được trước khi làm bài tập. Khối lớp 6 có số lượng học sinh không đồng đều về nhận thức và học lực nên gây khó khăn cho giáo viên trong việc lựa chọn phương pháp phù hợp. Nhiều học sinh có hoàn cảnh khó khăn cả về vật chất lẫn tinh thần do đó việc đầu tư về thời gian và sách vở cho học tập bị hạn chế nhiều và ảnh hưởng không nhỏ đến sự nhận thức và phát triển của các em. Sau khi nhận lớp và dạy một thời gian tôi đã tiến hành điều tra cơ bản thì thấy: + Lớp 6A: Số em không thể giải, không thể tự trình bày giải bài toán tìm x chiếm khoảng 75%, số học sinh nắm chắc kiến thức và biết vận dụng vào bài tập có khoảng 25%, số học sinh biết phối hợp các kiến thức, kỹ năng giải các bài toán tìm x chiếm khoảng 15%. + Lớp 6B: Số em không thể giải, không thể tự trình bày giải bài toán tìm x chiếm khoảng 65%, số học sinh nắm chắc kiến thức và biết vận dụng vào bài tập có khoảng 35%, số học sinh biết phối hợp các kiến thức, kỹ năng giải các bài toán tìm x chiếm khoảng 20%. Số học sinh trung bình và yếu, kém tập trung ở cả hai lớp nên gây khó khăn trong quá trình giảng dạy, cũng như việc truyền đạt các phương pháp giải các dạng toán tìm x cho học sinh. Đối với học sinh khá giỏi thì việc làm các dạng bài tập này không có gì khó khăn nhưng đối với học sinh trung bình và yếu, kém thì đây là dạng toán khó. Nếu giảng giải sâu về phương pháp thì gây nhàm chán cho học sinh khá, giỏi. 3. Nội dung và hình thức của giải pháp: a. Mục tiêu của giải pháp - Đầu tiên cần cho học sinh trung bình và yếu, kém nắm chắc phương pháp giải những dạng toán tìm x cơ bản đã được học ở tiểu học. - Chuyển thể từ dạng toán tìm x phức tạp thành dạng toán tìm x đơn giản đã biết cách giải. Giáo viên đưa liều lượng kiến thức vừa phải, thích hợp với năng lực và điều kiện của học sinh. - Tạo hứng thú cho học sinh bằng cách cho các bài tập dễ rồi tăng dần lượng kiến thức. Tạo cho học sinh cảm giác yêu thích dạng toán này rồi mới phát triển nâng cao. - Tạo tâm lí cho học sinh đây là một dạng toán dễ, không có gì khó khăn khi giải và trình bày. Cần khuyến khích học sinh tự giải và tự trình bày sau khi giáo viên đã giảng giải. - Giáo viên đóng vai trò là người hướng dẫn, dẫn dắt học sinh tìm ra lời giải bài toán, học sinh chủ động lĩnh hội kiến thức. - Giáo viên luôn tạo môi trường thân thiện giữa thầy và trò. Không quá tỏ vẻ xa cách hay quá lớn lao và cao cả đối với học sinh. Luôn tạo cho học sinh một cảm giác gần gũi, không làm cho học sinh cảm thấy sợ hãi. Dạy thật, học thật ngay từ đầu. Dạy theo điều kiện thực tế không quá áp đặt chủ quan. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp. Dạng 1: " Tìm một số chưa biết của một tổng". Ví dụ: Số hạng 1 Số hạng 2 Tổng - Muốn tìm số hạng 1 ta làm thế nào? HS: Tổng - số hạng 2 - Muốn tìm số hạng 2 ta làm thế nào? HS: Tổng - số hạng 1 - Nếu thay hoặc , muốn tìm x ta làm thế nào? HS: Tổng - số hạng đã biết Vì thế giáo viên đưa ra công thức tổng quát cho dạng toán này: Nếu (b,c là các số đã biết) ( dạng I) (Muốn tìm một số chưa biết của tổng, ta lấy tổng trừ đi số hạng đã biết) - Sau khi đưa ra công thức tổng quát và phát biểu lại thành lời, học sinh sẽ dễ dàng làm các bài tập thuộc dạng này, ví dụ: Bài tập 1: Tìm số tự nhiên x, biết: a, x + 20 = 50 b, 30 + x = 50 Học sinh sẽ dễ dàng giải nhờ công thức tổng quát đã cho: " Muốn tìm một số chưa biết của tổng, ta lấy tổng trừ đi số hạng đã biết". Giải: a, x + 20 = 50 x = 50 - 20 x = 30 b, 30 + x = 50 x = 50 - 30 x = 25 Dạng 2: "Tìm một số chưa biết trong một hiệu" Ví dụ : Số bị trừ Số trừ Hiệu - Muốn tìm số trừ ta làm thế nào? HS: Số trừ = số bị trừ - hiệu - Muốn tìm số bị trừ ta làm thế nào? HS: Số bị trừ = Số trừ + Hiệu - Nếu thay muốn tìm x ta làm thế nào? HS: Hiệu + số trừ - Nếu thay , muốn tìm x ta làm thế nào? HS: Số bị trừ - Hiệu + Xuất phát từ ví dụ trên, giáo viên đưa ra công thức tổng quát: ( Số bị trừ bằng Hiệu trừ đi số trừ) ( Số trừ bằng số bị trừ trừ đi hiệu) (b, c là các số đã biết) + Đối với dạng toán này học sinh trung bình và yếu, kém rất hay nhầm lẫn giữa số trừ và số bị trừ, ví dụ: Tìm số tự nhiên x, biết: 95 - x = 60 - Học sinh thường thực hiện: x = 60 - 95 và dẫn đến học sinh không tìm được kết quả của bài toán. + Nhưng khi cho học sinh học thuộc công thức và phát biểu thành lời được thì học sinh sẽ dễ dàng làm bài, ví dụ: Bài tập áp dụng : Tìm số tự nhiên x, biết: x - 15 = 35 50 - x = 35 + Giáo viên đạt câu hỏi hướng dẫn học sinh: - Ở câu a, x đóng vai trò là số gì trong hiệu. Muốn tìm x ta làm như thế nào? - Ở câu b, x đóng vai trò là số gì trong hiệu. Muốn tìm x ta làm như thế nào? + Học sinh dễ dàng trả lời; - Ở câu a, x đóng vai trò là số bị trừ trong hiệu. Muốn tìm x, ta lấy hiệu cộng với số trừ - Ở câu b, x đóng vai trò là số trừ trong hiệu. Muốn tìm x, ta lấy số bị trừ trừ đi hiệu. Giải: a) x - 15 = 35 x = 35 + 15 x = 50 b) 50 - x = 35 x = 50 - 35 x = 15 Dạng 3: "Tìm một thừa số chưa biết trong một tích " Ví dụ : Thừa số 1 Thừa số 2 Tích - Muốn tìm thừa số 1 ta làm thế nào? HS: Thừa số 1 = Tích : thừa số 2. - Muốn tìm thừa số 2 ta làm thế nào? HS: Thừa số 2 = Tích : thừa số 1 - Nếu thay thì x đóng vai trò là thừa số 1 hay thừa số 2, lúc này muốn tìm x ta làm thế nào? HS: + x là thừa số 1 + Tìm x = tích : thừa số 2 + Xuất phát từ ví dụ trên, giáo viên đưa ra công thức tổng quát cho học sinh Nếu (b,c là các số đã biết) (dạng IV) (Muốn tìm một thừa số chưa biết của tích, ta lấy tích chia cho thừa số đã biết) + Sau khi nắm vững công thức và có thể phát biểu thành lời công thức trên, học sinh dễ dàng làm các bài tập thuộc dạng toán này, ví dụ: Bài tập áp dụng Tìm số tự nhiên x, biết: 6x = 60 b) 6(x - 2) = 60 + Giáo viên có thể đặt câu hỏi gợi ý: Muốn tìm thừa số chưa biết của một tích ta làm như thế nào? - Học sinh có thể trả lời ngay: Muốn tìm một thừa số chưa biết của tích, ta lấy tích chia cho thừa số đã biết. Và giải bài toán. Giải: a) 6x = 60 x = 60 : 6 x = 10 - Ở câu b, học sinh sẽ thấy bỡ ngỡ, nên giáo viên sẽ hướng dẫn cho học sinh: Nếu coi (x - 2) là một thừa số chưa biết, thì x - 2 tính như thế nào. Học sinh sẽ hiểu và tính được ngay: x - 2 = 12, bài toán quay về dạng toán 2 mà học sinh đã biết cách giải. b) 6(x - 2)= 60 x - 2 = 60 : 6 x - 2 = 10 (Dạng II) x = 10 + 2 x = 12 + Ở câu b, khi chưa được học công thức tổng quát, nhiều học sinh yếu kém thường tính toán sai một cách đáng tiếc như sau: 6(x - 2) = 60. 6x = 60 - 2 6x = 58 x = 58:6 Dạng 4: "Nếu tích của hai thừa số bằng 0 thì ít nhất một thừa số bằng 0" + Giáo viên cho bài tập sau: Bài tập 1: Tìm số tự nhiên x, biết: a, x . 52 =0 b, (x - 27).52 = 0 + Ở câu a, học sinh có thể biết được ngay x = 0 + Ở câu b, giáo viên hướng dẫn học sinh: Nếu xem x - 27 như một thừa số chưa biết, thừa số 52 khác 0, vậy thừa số x - 27 = ? (Thừa số chưa biết phải bằng 0). Khi đó, học sinh có thể tự giải như sau: Giải: b, (x - 27).52 = 0 x - 27 = 0 x = 0 + 27 x = 27 + Giáo viên có thể nâng cao thêm cho học sinh bằng cách thay x - 27 bằng 3x - 27 trong bài tập 1 (b) ta được bài tập sau Bài tập 2: Tìm số tự nhiên x, biết: a, (3x - 27).52 = 0 + Hay thay thừa số 52 bằng thừa số x chưa biết trong bài tập 3.1 (b) ta được bài tập sau Bài tập 3.2: Tìm số tự nhiên x, biết: b, (x - 27).x = 0 Dạng 5 : "Tìm một số chưa biết trong một thương " Ví dụ 1: Số bị chia số chia Thương - Muốn tìm số bị chia ta làm thế nào? HS: Số bị chia = Thương . số chia - Muốn tìm số chia ta làm thế nào? HS: Số chia = Số bị chia : thương - Nếu thay thì x đóng vai trò là số bị chia hay số chia, lúc này muốn tìm x ta làm thế nào? HS: + x là số bị chia + Tìm x = thương . số chia + Xuất phát từ ví dụ trên, giáo viên đưa ra cho học sinh nắm công thức: (b,c là các số đã biết) (Muốn tìm số bị chia, ta lấy thương nhân với số chia) (Muốn tìm số chia, ta lấy số bị chia chia cho thương) (b,c là các số đã biết) + Khi chưa học phương pháp giải dạng toán 6, học sinh yếu, kém rất hay nhầm lẫn giữa số bị chia và số chia nên thường tính toán nhầm như ví dụ sau: Ví dụ 2: Tìm số tự nhiên x, biết: a, 36 : x = 12. - Học sinh thường giải bài toán này như sau: 36 : x = 12 x = 12 . 36 x = 432 + Sau khi học xong các dạng toán 5 và 6, học sinh có thể tự làm bài tập ở dạng này một cách dễ dàng, ví dụ: Bài tập : Tìm số tự nhiên x, biết: a, x : 3 = 12 b, 36 : x = 12 + Giáo viên đạt câu hỏi hướng dẫn học sinh: - Ở câu a, x đóng vai trò là số gì của phép chia. Muốn tìm x ta làm như thế nào? - Ở câu b, x đóng vai trò là số gì của phép chia. Muốn tìm x ta làm như thế nào? + Học sinh dễ dàng trả lời; - Ở câu a, x đóng vai trò là số bị chia trong phép chia. Muốn tìm x, ta lấy thương nhân với số chia - Ở câu b, x đóng vai trò là số chia của phép chia. Muốn tìm x, ta lấy số bị chia chia cho thương. Giải: a, x : 3 = 12 x = 12 . 3 x = 36 b, 36 : x = 12 x= 36 : 12 x= 3 4. Phát triển các dạng toán tìm x - Sau khi cho học sinh nắm được các dạng toán tìm x cơ bản và đã làm được bài tập của các dạng toán này một cách thành thạo thì việc nâng cao các bài toán tìm x là một điều quan trọng và không thể thiếu khi hướng dẫn cho học sinh trung bình và yếu kém. Giáo viên đóng vai trò là người dẫn dắt, chỉ đường cho học sinh với phương pháp: " Chuyển bài toán lạ, phức tạp và chưa biết cách giải về dạng toán quen thuộc, đơn giản đã bết cách giải". - Sau khi đã dạy xong 6 dạng toán trên, giáo viên đưa ra các bài tập sau: Bài tập 5: Tìm số tự nhiên x, biết 6.x + 20 = 50 (được phát triển từ bài toán: x + 20 = 50) + Gặp bài tập này học sinh sẽ cảm thấy bỡ ngỡ vì bài toán mình đã làm có dạng là x + 20 = 50, còn đây là 6.x + 20 = 50 - Giáo viên hướng dẫn học sinh: Nếu coi tích 6.x như một số hạng chưa biết, thì bài toán có dạng nào? + Học sinh thấy ngay đây là dạng toán I - Giáo viên yêu cầu học sinh tìm 6x + Học sinh sẽ tìm được 6.x = 30 và thấy ngay đây lại là dạng toán IV đã biết cách giải, và học sinh có thể trình bày: x + 20 = 50 x = 50 - 20 x = 30 (Dạng IV) x = 30:6 x = 5 Bài tập 6: Tìm số tự nhiên x, biết: (x - 2) + 20 = 50 (Phát triển từ bài toán 6x + 20 = 50) + Vì học sinh đã giải được bài tập 5, nên đối với bài này, học sinh cũng hiểu rằng phải xem 6(x - 2) là một số hạng chưa biết và tìm 6(x - 2). Sau đó bài toán được đưa về dạng toán 4. và đã biết cách giải như bài tập 3câu b. (x - 2) + 20 = 50 (x - 2) = 50 - 20 (x - 2) = 30 (Bài tập 3 câu b) x - 2 = 30:6 x - 2 = 5 x = 7 Bài tập 7: Tìm số tự nhiên x, biết: (7x - 2).6 + 20 = 50 (Phát triển từ bài tập 6: 6(x - 2) + 20 = 50) + Ở bài tập này học sinh thấy ngay sẽ phải giải như bài tập 6 Giải: (7x - 2).6 + 20 = 50 (7x - 2).6 = 50 - 20 (7x - 2).6 = 30 7x - 2 = 30 : 6 7x - 2 = 5 7x = 7 x = 1 Bài tập 8: Tìm số tự nhiên x, biết: 5x - 15 = 35 (Phát triển từ bài tập 2: x - 15 = 35) + Khi làm được bài tập 5, học sinh hiểu bài này thuộc dạng toán 2 và sẽ giải được như sau: 5x - 15 = 35 5x = 35 + 15 5x = 50 (Dạng IV) x = 50: 5 x = 10 Bài tập 9: Tìm số tự nhiên x, biết: 5x - 15 = 33 + 23 (Phát triển từ bài tập 8: x - 15 = 35) + Áp dụng quy tắc thứ tự thực hiện phép tính học sinh sẽ dễ dàng đưa bài toán trên về bài tập 8. Bài tập 10: Tìm số tự nhiên x, biết: (5x - 15) : 7 = 5 (Phát triển từ bài tập 8: 5x - 15 = 35) + Khi gặp bài toán này học sinh sẽ cảm thấy lúng túng và không biết cách giải, giáo viên sẽ gợi ý cho học sinh: "Nếu coi (5x - 15) là số bị chia thì bài toán này thuộc dạng toán nào? ". Học sinh có thể biết ngay đây là dạng toán 5 và đã biết cách giải. Học sinh có thể làm được như sau: (5x - 15) : 7 = 5 5x - 15 = 5 . 7 5x - 15 = 35 + Tới đây, học sinh thấy ngay bài toán đã được đưa về Bài tập 8 đã giải được ở trên. Bài tập 11: Tìm số tự nhiên x, biết: (5x - 15) . 72 = 5 . 73 (Phát triển từ bài tập 8: 5x - 15 = 35) + Ở bài tập này, giáo viên hướng dẫn học sinh áp dụng quy tắc thứ tự thực hiện phép tính (tính trong ngoặc trước) để đưa bài toán về bài tâp 8. Và học sinh có thể trình bày như sau: (5x - 15) . 72 = 5 . 73 (5x - 15) = 5. 73:72 (5x - 15) = 5 .(73:72) (5x - 15) = 5 . 7 5x - 15 = 35 (Bài tập 8) Như vậy, với cách phát triển các dạng bài tập như trên thì các bài tập tìm x sẽ trở nên dễ dàng hơn với các em. Các em có thể tự làm tốt, tự trình bày được các bài giải tìm x một cách dễ dàng. Đối với học sinh khá giỏi thì các em được luyện tập kĩ năng tính toán và có thể tự ra đề cho mình làm. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu, phạm vi và hiệu quả ứng dụng, Trong quá trình giảng dạy học kỳ I vừa qua khi áp dụng kinh nghiệm của mình để soạn giảng và vận dụng vào thực tế tôi nhận thấy có sự thay đổi đáng mừng: - Học sinh đã có khả năng hạn chế hoặc không để xảy ra những sai lầm đáng tiếc trong khi làm bài tập tìm x khi làm bài ở lớp, ở nhà hay bài kiểm tra. Tuy nhiên vẫn còn một số trường hợp học sinh vẫn còn mắc phải sai lầm bởi tính chủ quan, xem nhẹ hay làm bài theo cảm nhận thói quen. - Học sinh đã có thái độ học tập tích cực, thích thú hơn trong tiết học khi gặp những bài toán tìm x. Chủ động nêu lên những thắc mắc, khó khăn khi gặp bài tập lạ với giáo viên, các em hưởng ứng rất nhiệt tình. Bên cạnh đó các bài tập tìm x mà giáo viên giao về nhà đã được các em làm một cách nghiêm túc, tự giác học bài và nắm được phương pháp giải cơ bản của mỗi dạng toán. Tuy nhiên một số em vẫn còn mắc sai lầm ở khâu tính toán cộng trừ, nhân, chia. - Phần lớn chất lượng các bài kiểm tra 15 phút và một tiết đã được nâng lên, các em đã xác định đúng hướng đi bài toán, số học sinh biết trình bày bài giải dạng toán tìm x một cách rõ ràng, mạch lạc và có lôgic được tăng lên đáng kể. III. Kết luận và kiến nghị 1. Kết luận: - Đối với học sinh trung bình và yếu kém, việc tự tìm hiểu và khám phá kiến thức mới là rất khó khăn. Chính vì thế nên tôi nghiên cứu đề tài này để giúp các em có một cái nhìn tổng quát hơn về các bài tập tìm x. Mỗi bài tập là một dạng toán nhất định và luôn luôn có cách giải. Để giải được các bài tập tìm x, đòi hỏi các em phải học, phải nắm chắc được các dạng toán và phương pháp giải của nó. Và có một cái nhìn trực quan, tư duy để khi gặp một bài tập cụ thể thì các em có thể định hướng được mình đang gặp dạng bài tập nào, từ đó đưa ra cách giải phù hợp. - Sau khi nghiên cứu và triển khai vấn đề này bản thân tôi nhận thấy: để tạo cho học sinh hứng thú học học tập bộ môn toán, đặc biệt đối với những bài toán tìm x, giáo viên phải từng bước tạo hứng thú cho học sinh qua việc tìm hiểu kiến thức mới, thông qua các buổi thực hành, qua việc phân loại bài tập, thông qua các tiết luyện tập ... . Đồng thời phải luôn gần gũi, tìm hiểu những khó khăn, sở thích của học sinh để từ đó có những biện pháp phù hợp hơn. Bên cạnh đó cần có thời lượng phù hợp áp dụng kiến thức, áp dụng phương pháp giải vào các bài toán tìm x mà học sinh gặp phải để học sinh thấy được tính khoa học, giá trị thực tiễn của phương pháp. - Sau khi tiến hành luyện tập để hình thành kĩ năng giải các dạng toán tìm x cho học sinh tôi nhận thấy: + Đa số các em nắm vững và làm được hầu hết các bài tập tìm x mà giáo viên đưa ra (Dạng bài tập không quá khó). + Nhớ được các thao tác giải bài tập từng dạng cụ thể. + Hầu hết các em nắm vững kiến thức thứ tự thực hiện phép tính áp dụng vào giải các bài tập tìm x. + Học sinh giải toán nhanh và trình bày rõ ràng hơn. + Các em thích thú học toán hơn. 2. Kiến nghị: - Đề nghị cụm chuyên môn của huyện, tổ chuyên môn, nhóm chuyên môn của trường triển khai các chuyên đề nhiều hơn nữa để chúng tôi có cơ hội trao đổi, học hỏi kinh nghiệm từ đồng nghiệp, từ các môn học khác. - Đề nghị hội phụ huynh học sinh cần quan tâm hơn nữa đến việc học tập của con em mình. - Đề nghị ban giám hiệu nhà trường mở và duy trì các lớp học hai buổi, vận động học sinh đi học đây đủ để các em có điều kiện học tập, p

Hướng Dẫn Học Sinh Lớp 4 Cách Giải Toán “Tìm Số Trung Bình Cộng”

Giải toán tìm số trung bình cộng có vị trí quan trọng trong chương trình giải toán nói chung, giải toán lớp 4 nói riêng.

2 . Cơ sở thực tiễn.

Thực tế kỷ năng giải toán tìm số trung bình cộng của học sinh lớp 4A .

II . Giải quyết vấn đề.

1 . Thực trạng học sinh.

2 . Giải pháp thực hiện.

3 . Kết quả đạt được.

4 . Bài học kinh nghiệm.

III . Kết thúc vấn đề.

Sườn kinh nghiệm Tên kinh ngiệm: Hướng dẫn học sinh lớp 4 cách giải toán "Tìm số trung bình cộng" I . Đặt vấn đề. 1 . Cơ sở lý luận. Giải toán tìm số trung bình cộng có vị trí quan trọng trong chương trình giải toán nói chung, giải toán lớp 4 nói riêng. 2 . Cơ sở thực tiễn. Thực tế kỷ năng giải toán tìm số trung bình cộng của học sinh lớp 4A . II . Giải quyết vấn đề. 1 . Thực trạng học sinh. 2 . Giải pháp thực hiện. 3 . Kết quả đạt được. 4 . Bài học kinh nghiệm. III . Kết thúc vấn đề. 1 . Kết luận. 2 . Đề xuất. I . Đặt vấn đề. ở Tiểu học môn toán có vị trí đặc biệt quan trọng. Nó có vai trò phát triển các thao tác tư duy của con người như khả năng phát triển tư duy logic, khái quát hoá, trừu tượng hoá, phân tích và tổng hợp, so sánh đồng thời nó có vai trò to lớn trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ,suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề có căn cứ khoa học toàn diện, chính xác. Nó có nhiều tác dụng trong việc hình thành và phát triển trí thông minh, tư duy độc lập, linh hoạt, sáng tạo trong việc hình thành và rèn luyện nề nếp, phong cách và tác phong làm việc khoa học rất cần thiết trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người, góp phần to lớn trong việc hình thành và phát triển nhân cách con người. 1 . Cơ sở lý luận: Với học sinh Tiểu học các em nhận biết các sự vật hiện tượng từ trực giác tức là các hiện tượng cụ thể có thể sờ, đếm, nắm bắt được, do đó môn toán đối với các em phần nào cũng dể hiểu. Với những bài toán nâng cao nói chung, toán nâng cao tìm số trung bình cộng nói riêng là điều bí ẩn đối với các em, bởi vì các em phải biết tổng hợp, khái quát kiến thức từ những cái cụ thể. Giải toán giúp cho các em dần dần biết khái quát, tổng hợp các sự vật hiện tượng, các em phát triển trí tuệ một cách hoàn thiện hơn không nhìn sự vật hiện tượng một cách phiếm diện, một mặt. Giải toán còn giúp cho các em phát huy được tính tò mò ham hiểu biết về thế giới xung quanh. Tính ham học được bộc lộ rõ thông qua việc tìm hiểu đề bài, các cách giải, phương pháp giải độc đáo. Chính vì vậy người giáo viên cần phải hiểu rõ tầm quan trọng của môn toán. Đặc biệt phải có phương pháp dạy phù hợp với từng dạng bài, từng bài Mặt khác nó đòi hỏi người giáo viên có lòng kiên trì và hết lòng thương yêu dạy dỗ trẻ, đòi hỏi nhiều thời gian và công sức 2 . Cơ sở thực tiễn Nội dung dạy "Tìm số trung bình cộng" ở chương trình SGK đơn giản và cơ bản các bài tập bồi dưỡng- đa dạng , phức tạp nên học sinh dễ nhầm lẫn, một số giáo viên còn lúng túng trong việc giải một số bài toán nâng cao về "Tìm sồ trung bình cộng" . Với những lý do trên tôi mạnh dạn đưa ra một số kinh nghiệm của bản thân về việc hướng dẫn học sinh lớp 4 có được phương pháp giải toán hợp lý dễ hiểu góp phần bồi dưỡng học sinh giải tốt dạng toán "Tìm sồ trung bình cộng" . II . Giải quyết vấn đề. Như chúng ta đã biết mỗi dạng bài, mỗi bài toán đều giúp các em học sinh phát huy được tính tò mò, ham hiểu biết Tuy nhiên nếu các em nắm chắc kiến thức ở những lớp dưới thì ở lớp 4 các em sẽ nắm kiến thức dễ dàng hơn. Nhưng thực tế khi dạy học sinh cách giải toán "Tìm sồ trung bình cộng" ở lớp tôi phụ trách còn có một số băn khoăn trăn trở. 1 .Thực trạng học sinh . Kỹ năng giải toán "Tìm sồ trung bình cộng" đa số học sinh còn yếu. Qua quá trình giảng dạy tôi thấy nhìn chung học sinh còn yếu trong việc giải toán có lời văn trong đó có "Tìm sồ trung bình cộng" . Sau khi học đến giải toán "Tìm sồ trung bình cộng" trong chương trình toán đại trà tôi đã khảo sát học sinh với đề bài như sau: Lớp 4A và 4B trung bình mỗi lớp có 22 học sinh tiên tiến. Hỏi lớp 4B có bao nhiêu học sinh tiên tiến, biết lớp 4A có 24 học sinh tiên tiến. Kết quả khảo sát như sau. Lớp 4A Số HS Giỏi Khá Trung bình Yếu 24 SL TL SL TL SL TL SL TL 1 4,2 3 12,5 10 41,2 10 41,2 Qua kết quả trên tôi thấy chất lượng giải toán nói chung vá chất lượng giải toán "Tìm sồ trung bình cộng" nói riêng của học sinh nhìn chung còn yếu kể cả học sinh khá giỏi. Đây là một vấn đề làm tôi hết sức băn khoăn lo lắng. Tôi đắn do suy nghĩ và cùng với những kinh nghiệm qua những năm đã giảng dạy tôi đã quyết định tìm giải pháp giúp các em học sinh giải toán "Tìm sồ trung bình cộng" được tốt hơn. 2 . Giải pháp thực hiện. Để nâng cao chất lượng dạy và học toán lớp 4 nói chung, toán "Tìm sồ trung bình cộng" nói riêng tôi đã tìm tòi nghiên cứu qua SGK, sách bài soạn, sách tham khảo để nắm vững kiến thức cơ bản, quan trọng, nòng cốt của chương trình. Từ đó nghiên cứu mở rộng qua các sách toán nâng cao, sách bồi dưỡng học sinh giỏi, các bài toán khó. Sau đó tổng hợp khái quát theo các dạng bài nâng cao dần. Ngay từ đầu tôi đã quan tâm phát hiện những học sinh có năng khiếu về toán. Sau khi phân loại tôi nắm được ưu, nhược điểm của học sinh để có phương pháp dạy phù hợp với từng đối tương học sinh Đặc biệt đối với HS thì việc phân tích đề bài cũng rất cần thiết, HS có làm đúng được bài toán thì điều đầu tiên là phải phân tích được đề bài xác định được yếu tố nào đã có ,yếu tố nào cần tìm và xác định mối quan hệ giữa cái đã có với cái cần tìm. Muốn học sinh phân tích đề được tốt thì giáo viên phải là người hướng dẫn cụ thể những dạng cơ bản để từ đó học sinh biết áp dụng vào các bài có dạng tương tự và nâng cao hơn *Trước hết phải hệ thống, mở rộng kiến thức lý thuyết cơ bản để học sinh vận dụng giải bài tập. - Giúp học sinh nắm kiến thức cơ bản về tìm số trung bình cộng: Muốn tìm số tìm sồ trung bình cộng của nhiều số ta lấy tổng của các số đó chia cho số các số hạng. Sau khi học sinh đã nắm vững kiến thức, lý thuyết cơ bản về tìm số trung bình cộng. Tôi hướng dẫn học sinh giải một số bài toán cụ thể về "Tìm sồ trung bình cộng" theo các bước: Đọc kỹ đề bài. Xác định cái đã cho, cái cần tìm, mối quan hệ giữa cái đã cho. Tìm phương pháp vá kế hoạch giải. + Tóm tắt bài toán. + Phân tích bài toán. + Lập mối quan hệ giữa yếu tố đã cho và yếu tố cần tìm. Tìm lời giải và trình bày bài giải. Kiểm tra bài toán. * Hướng dẫn học sinh giải một số bài toán . Trong quá trình dạy học sinh giáo viên đưa ra những bài có các dữ kiện đầu bài cụ thể mang tính chất cơ bản sau đó mới đưa ra bài tập có dữ kiện trừu tượng hơn để học sinh tìm hiểu phát hiện ra điểm giống so với bài trên từ đó các em tự tìm ra phương pháp giải phù hợp . Muốn phân tích được tình huống, lựa chọn phép tính thích hợp, cái gì đã cho cái gì cần tìm, mối quan hệ giữa cái đã cho và cái cần tìm. Trong bước đầu giải toán việc nhận thức này, việc lựa chọn phép tính thích hợp đối với các em là một việc khó, do đó giáo viên phải khéo léo vận dụng linh hoạt các hình thức tổ chức dạy học để học sinh có phương pháp giải tốt nhất. Sau đây là một số bài toán về tìm số TBC ở lớp 4: Bai toán 1:Bài 2( sgk trang 27 Toán 4 ) Bốn em Mai, Hoa, Hưng, Thịnh cân nặng là 36kg, 38kg ,40kg , 34 kg . Hỏi trung bình mổi em cân nặng bao nhiêu kg ? - Đọc kỹ đề bài Bài toán cho biết gì ? Bài toán yêu cầu gì ? Tìm lời giải cho bài toán Giải bài toán này các em tìm ra được TB mỗi em cân nặng ( 36 + 38 + 40 + 34 ) : 4 = 37 kg Bài toán 2 : Bài 4 (trang 26 Toán 4) Có 9 ô tô chuyển thực phẩm vào thành phố ,trong đó 5 ô tô đi đầu , mỗi ô tô chuyển được 36 tạ, và 4 ô tô đi sau , mỗi ô tô chuyển được 45 tạ .Hỏi mỗi ô tô chuyển được bao nhiêu tấn thực phẩm . Hướng dẫn học sinh giải bài toán. Đọc kỹ yêu cầu bài toán. Bài toán này học sinh phải xác định được số thực phẩm của 5 ô tô và số thực phẩm của 4 ô tô . Bài toán cho biết gì ? ( 5 ô tô : Mỗi ô tô 36 tạ ; 4 ô tô :Mỗi ô tô 45 tạ .) Bài toán hỏi gì ? ( TB mỗi ô tô ? tấn ) - Muốn tính số thực phẩm của cả 9 ô tô chở được ta làm thế nào ? ( 5 x 36 + 4 x 45 = 360 tạ ) TB mỗi ô tô chuyển được bao nhiêu tấn thực phẩm ta làm tính gì ? ( 360 : 9 = 40 tạ = 4 tấn ) Tìm lời giải cho bài toán . *Hướng dẫn học sinh trình bày bài giải : Học sinh tìm cách giải bài toán bằng cách nhanh nhất. * Chấm, chữa bài . * Rút ra nhận xet Đối với các bài toán "Tìm sồ trung bình cộng" như trên tôi đã khuyến khích học sinh tự nêu ra các giả thiết đã biết , cái cần phải tìm, cách tóm tắt bài toán và tìm đường lối giải. Sau khi học sinh giải được các bài toán cơ bản ở SGK tôi tiếp tục hướng dẫn các em giải một số bài tập nâng cao hơn. Ví dụ :1 Hoà có 31 viên bi, Bình có 32 viên bi, Thống có 39 viên bi, Nhất có số bi đúng bằng trung bình cộng số viên bi của ba bạn kia. Hỏi Nhất có bao nhiêu viên bi ? Bước 1 : Giúp học sinh tìm hiểu đề bài. Yêu cầu học sinh đọc kỹ đề bài. Bài toán cho biết gì ? ( Hoà: 31 bi. Bình: 32 bi. Thống: 39 bi. Số bi của Nhất = Tổng TBC của ba bạn kia) Bài toán yêu cầu tìm gì ? ( Nhất: ? bi) Bước 2 : Tìm phương pháp giải và lập kế hoạch giải Bài toán cho biết số bi của Nhất bằng TBC số bi của ba bạn Hoà, Bình, Thống. - Muốn tìm TBC số bi của ba bạn Hoà, Bình và Thống ta làm như thế nào ? ( (31 + 32 + 39 ) : 3 = 34bi ) - Đây chính là số bi của bạn nào ? (Số bi của bạn Nhất) - Bài toán có mấy phép tính và lời giải như thế nào ? (Số bi của bạn Nhất là) Bước 3 : Yêu cầu học sinh trình bày bài giải vào vở - Chấm, chữa bài tìm ra chỗ học sinh còn yếu để bổ sung kiến thức kịp thời. Đối với những học sinh đã giải được và giải thành thạo các bài toán cơ bản thì việc đưa ra hệ thống bài tập nâng cao là rất quan trọng và cần thiết để học sinh có điều kiện phát huy năng lực, trí tuệ của mình, vượt xa khỏi tư duy cụ thể mang tính chất ghi nhớ và áp dụng một cách máy móc trong công thức. Qua đó phát triển trí thông minh cho học sinh. Ví dụ như ra một đề toán tương tự yêu cầu học sinh so sánh tìm ra điểm giống nhau và khác nhau để tìm cá ... g bài toán, khi cần thiết, cần thử xem đáp số tìm được có trả lời đúng câu hỏi của bài toán, có phù hợp với các điều kiện của bài toán không. - Hướng dẫn học sinh nhận xét dạng toán và cách giải. + Nhận xét: Một trong các số đã cho = TB của các số còn lại thì số đó chính bằng TBC của tất cả các số đã cho. + Dạng toán : Tìm TBC của n số hạng, trong đó có một số hạng x chưa biết và x bằng TBC của n số hạng. ( nếu có 3 số a,b,c và số chưa biết x, mà x bằng TBC của 4 số a,b,c,x thì TBC của 4 số là ( a+b+c) : 3 hay ( a + b + c + x ) : 4 = ( a + b + c ) : 3 Vậy bài toán vừa giải thuộc dạng nào? ( thuộc dạng 1 ) ở mỗi dạng bài toán giáo viên hướng dẫn học sinh nhận dạng bằng nhiều cách để học sinh dễ hiểu, dễ nắm bài hơn. Không nên dừng lại ở kết quả ban đầu (giải đúng bài toán) giáo viên nên yêu cầu cao hơn đối với học sinh, giáo viên đưa ra bài toán nâng cao hơn để phát huy tính sáng tạo, tự lập, khả năng suy luận giúp các em học sinh nắm chắc kiến thức. Ví dụ:3 Hoà có 31viên bi, Bình có 32 viên bi, Thống có 39 viên bi, Nhất có số bi nhiều hơn TBCsố bi của cả bốn bạn là3 viên. Hỏi Nhất có bao nhiêu viên bi ? Bước 1 : Hướng dẫn tìm hiểu đề Bài toán cho biết gì? ( Hoà: 31 bi ; Bình: 32bi; Thống:39 bi ; Nhất có số bi nhiều hơn TBC của 4 bạn là 3 viên) - Bài toán hỏi gì ? (Nhất ? bi) Bước 2 : Tìm phương pháp giải và lập kế hoạch giải Ví dụ 2 khác ví dụ 3 ở chỗ nào ? ( Cho số bi của Nhất không những bằng TBC số bi của 4 bạn mà còn hơn TBC số bi của 4 bạn là 3 viên) Hãy dùng sơ đồ đoạn thẳng biểu thị số bi của Nhất và số bi của 3 bạn Hoà, Bình, Thống : ( Học sinh vẽ) Muốn tìm số bi của Nhất trước hết ta phải tính gì ? ( Tính TBC số bi của 4 bạn ) Nhìn vào sơ đồ ta thấy 3 lần TBC số bi của 4 bạn = tổng số bi 3 bạn Hoà, Bình, Thống, Nhất và thêm 3 viên nữa. Như vậy TBC số bi của 4 bạn sẽ là bao nhiêu ? ( 31+32+39+3):3= 35 (bi) Số bi của Nhất sẽ là bao nhiêu ? ( 35 + 3 = 38 bi ) Bước 3 : Hướng dẫn trình bày bài giải. TBC Theo bài ra ta có sơ đồ: Số bi của Nhất Tổng số bi. Số bi của Hoà, Bình, Thống Nhìn vào sơ đồ ta có TBC số bi của 4 bạn là . ( 31+32+39 +3):3=35 (bi) Số bi của Nhất là: 35 + 3 =38 (bi) Đáp số : 38 bi Bước 4: Hướng dẫn học sinh kiểm tra bài toán . - Yêu cầu học sinh tính TBC số bi của 4 bạn khi đã biết số bi của bạn Nhất (31+32+39+38) :4 = 35 bi Đối chiếu với kết quả trên ta thấy số bi của bạn Nhất hơn TBC số bi của 4 bạn là 3 viên (đúng theo đề bài) * Hướng dẫn học sinh rút ra dạng toán và cách giải. - Dạng toán : Tìm TBC của n số hạng trong đó có một số hạng x chưa biết và x lớn hơn TBC của n số hạng là a đơn vị . - Cách giải : TBC của n số hạng = ( Tổng của n - 1 số hạng đã cho + a ) : ( n - 1 ) Nhận xét : Nếu có 3 số a,b,c và số chưa biết x mà x lớn hơn TBC của cả 4 số a,b,c,x là n đơn vị thì TBC của cả 4 số là : ( a + b + c + n ) :3 hay ( a + b + c + n ) : 4 = ( a + b + c + n ) : 3 Trong thực tế giảng dạy tôi thấy một số bài toán mà các dữ kiện và điều kện thường nhiều hơn, phức tạp hơn, nhiều khi không được đưa ra trực tiếp hoặc tường minh. Việc tìm ra phương pháp giải nhiều khi phụ thuộc vào việc tìm ra "điểm nút" để tập trung tháo gỡ và việc lựa chọn con đường đúng đắn để tiếp cận nó. Muốn vậy người giáo viên phải từng bước giúp học sinh tháo gỡ bài toán . Ví dụ:4 Hoà có 31viên bi, Bình có 32 viên bi, Thống có 39 viên bi, Nhất có số bi kém TBCsố bi của cả bốn bạn là 3 viên. Hỏi Nhất có bao nhiêu viên bi ? Bước 1 : Hướng dẫn tìm hiểu đề Yêu cầu học sinh đọc kỹ đề toán Bài toán cho biết gì ? (Số bi 3 bạn Hoà, Bình, Thống : Số bi của Nhất kém TBC số bi của cả 4 bạn là 3 bi) Bài toán yêu cầu tìm gì ? ( Tính số bi của Nhất ) Bài toán thuộc dạng nào ? ( Dạng 3 ) Bước 2 : Hướng dẫn tìm phương pháp và lập kế hoạch giải. Bài toán ở ví dụ 4 khác bài toán ở ví dụ 3 ở điểm nào ? ( khác số bi của Nhất kém TBC số bi 4 bạn ) Yêu cầu học sinh vẽ sơ đồ biểu thị số bi của Nhất và số bi của 3 bạn Hoà, Bình, Thống . ( học sinh vẽ ) TBC Số bi của Nhất Tổng số bi Số bi của Hoà, Bình, Thống - Dựa vào sơ đồ em nào cho biết 3 lần TBC số bi của 4 bạn được tính như thế nào ? ( Lấy tổng số bi 3 bạn Hoà, Bình, Thống trừ đi 3 viên ) - TBC số bi 4 bạn là bao nhiêu ? (31+32+39- 3 ) : 3 =33 bi. - Muốn tính số bi của bạn Nhất ta làm thế nào ? (33 - 3 = 30 bi ) - Hướng dẫn học sinh trình bày bài giải. Bài toán có mấy phép tính ? ( 2 phép tính ) - Phép tính thứ nhất là gì ? ( Tính TB số bi của 4 bạn ) - Lời giải như thế nào ? ( TB số bi của 4 bạn là ) - Lời giải của phép tính thứ 2 như thế nào ? ( Số bi của Nhất là ) Bước 3 : Hướng dẫn trình bày bài giải. Bước 4 : Hướng dẫn học sinh thử lại Tính TBC số bi của 4 bạn khi đã biết số bi của Nhất (1+32+39+30):4=33 bi Đối chiếu ta thấy số bi bạn Nhất kém TBC số bi 4 ban là 3 viên .Bài toán giải đúng * Hướng dẫn HS rút ra dạng toán và cách giải - Dạng toán: Tìm TBC của n số hạng, trong đó có một số hạng x chưa biết và x kém TBC của n số hạng là a đơn vị. * Cách giải: TBC của n số hạng =(Tổng của n 1 số hạng đã biết - a) : (n - 1 ) Tóm lại : Khi dạy toán "Tìm sồ trung bình cộng" trong chương trình toán lớp 4 chiếm vị trí quan trọng . Có thể coi việc dạy - học và giải toán "Tìm sồ trung bình cộng" là "hòn đá thử vàng" của dạy - học toán .Trong giải toán, học sinh phải tư duy một cách tích cực và linh hoạt, huy động tích cực các kiến thức và khả năng đã có vào các tình huống khác nhau, trong nhiều trường hợp phải biết phát hiện những dữ kiện hay điều kiện chưa được nêu ra một cách tường minh và trong chừng mực nào đó phải biết suy nghĩ năng động sáng tạo . Trong quá trình dạy học giáo viên cần tổ chức hướng dẫn cho học sinh hoạt động học tập dưới sự trợ giúp đúng mức và đúng lúc để từng học sinh tự phát hiện , tự giải quyết vấn đề của bài học để từ đó chiếm lĩnh nội dung kiến thức một cách ững chắc. 3 : Kết quả đạt được . Từ những kinh nghiệm trên tôi đã áp dụng triển khai ở lớp tôi phụ trácg. Tôi thấy các em tiếp thu bài rất tốt 100% học sinh trong lớp biết cách giải toán cơ bản về "Tìm sồ trung bình cộng" ,các em giải toán một cách tự tin hơn, các em trình bày lập luận logic và đặc biệt đã tạo cho các em được niềm hứng thú, say mê trong học toán. Cụ thể tôi đã tiến hành khảo sát với đề bài sau: Nhân dịp khai giảng, Mai mua 10 quyển vở, Lan mua 12 quyển vở. Đào mua số vở bằng TBC của hai bạn trên. Cúc mua hơn TBC của cả 4 bạn là 3 quyển? Hỏi Cúc mua bao nhiêu quyển vở ? Kết quả đạt được . Lớp 4A Số HS Giỏi Khá Trung bình Yếu 24 SL TL SL TL SL TL SL TL 13 54,2 5 20,8 6 25,0 0 0 So sánh đối chiếu kết quả lúc đầu và sau thời gian phụ đạo, bồi dưỡng ta thấy chất lượng đã được nâng lên rỏ rệt. Từ 10 học sinh yếu nay không có em nào yếu học sinh khá lúc đầu là 3 học sinh nay tăng lên 5 em. Có những em tiến bộ rỏ rệt từ chưa biết cách giải nay đã giải được một số bài nâng cao như ( em Duyên , em Thìn ) .Đó là một kết quả đáng mừng. Để đạt được kết quả đó bản thân tôi đã dày công trong quá trình giảng dạy. Nhưng kết quả đó chưa thể đánh giá một cách thoả mản yêu cầu về kỷ năng cần đạt của học sinh. Vì vậy trong quá trình giảng dạy bản thân tôi không ngừng học hỏi thường xuyên nghiên cứu tìm tòi tài liệu để có thêm kiến thức về môn toán nhằm phục vụ cho giảng dạy được tốt hơn. Sau khi các em nắm được các dạng toán và cách giải các dạng toán nói trên, tôi đã ra cho các em một số bài tập để giúp các em củng cố và khắc sâu cách giải các dạng toán đó. Qua chấm bài tôi thấy phần lớn các em đã xác định được dạng toán và đã biết các giải các bài toán "Tìm sồ trung bình cộng" một cách hợp lý, trình bày lời giải rõ ràng, lập luận chặt chẽ, logic 4 : Bài học kinh nghiệm . Việc hướng dẫn học sinh giải toán nói chung và giải toán"Tìm sồ trung bình cộng" nói riêng là một vấn đề không đơn giản. Do vậy đòi hỏi người giáo viên phải nắm vững kiến thức. Không ngừng đổi mới phương pháp dạy học hết sức khéo léo vận dụng các phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh để gây hứng thú trong học tập cho các em. Tìm hiểu nội dung chương trình và những phương pháp dùng để giảng dạy toán "Tìm sồ trung bình cộng" . - Tìm hiểu những kỹ năng cơ bản cần trang bị để phục vụ giải toán "Tìm sồ trung bình cộng" . -Nắm được thực tế hạn chế của từng học sinh để có phương pháp dạy học phù hợp. - Động viên khuyến khích kịp thời tạo không khí sôi nổi trong tiết học. Quan tâm giúp đỡ hơn đối với những học sinh còn yếu. - Nghiên cứu kỹ mục đích yêu cầu của bài dạy . Soạn giáo án cẩn thận chi tiết trước khi lên lớp. - Dạy theo phương pháp dạy học mới : Cho học sinh phát hiện ra vấn đề và tự giải quyết vấn đề. Giáo viên chỉ là người tổ chức hướng dẫn cho các em hoạt động để phát huy tính tích cực của học sinh . Chấm ,chữa bài cẩn thận. Chú trọng cách lập luận chặt chẽ rõ ràng Bổ sung kịp thời kiến thức học sinh còn "hổng" Bản thân tiếp tục trau dồi học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn. III : Kết thúc vấn đề. 1 : Kết luận. Trong quá trình từng bước áp dụng các biện pháp trên vào lớp tôi phụ trách thì kết quả cho thấy chất lượng giải toán "Tìm sồ trung bình cộng" của học sinh được nâng lên rõ rệt. Khí thế trong giờ học sôi nổi, nhẹ nhàng không gò bó, áp đặt. Mặt khác giải toán là một trong 5 mạch kiến thức của môn toán ở bậc tiểu học, dạy học giải toán không phải là một vấn đề dễ, vì vậy đồi hỏi người giáo viên phải có sự tìm tòi, sáng tạo để tìm ra phương pháp , cách thức tốt nhất giúp học sinh trong việc giải toán, giáo viên phải biết phát huy hết tính tích cực độc lập sáng tạo trong suy nghĩ của học sinh ,đồng thời khắc phục ở các em cách suy nghĩ máy móc , rập khuôn ; phải rèn luyện cho học sinh thói quen không bao giờ bằng lòng với kết quả mình đạt được mà phải luôn có sự tìm tòi sáng tạo. Đặc biệt ,người giáo viên cần xây dựng cho học sinh tinh thần tự giác học tập , gây cho học sinh hứng thú , niềm đam mê học toán. Có như vậy mới đạt được kết quả cao. 2 : Đề xuất . Với nội dung đề tài sáng kiến kinh nghiệm trên , trong quá trình giảng dạy đã góp phần nâng cao hơn chất lượng giải toán nói chung giải toán "Tìm sồ trung bình cộng" nói riêng ở lớp tôi phụ trách . Tôi mong muốn được sự giúp đỡ góp ý , bổ sung của cấp trên. Cần tổ chức các hoạt động hội thảo về bồi dưỡng học sinh giỏi Động viên khuyến khích kịp thời đối với giáo viên và học sinh luôn đi đầu trong công tác dạy - học

Skkn Một Số Biện Pháp Hướng Dẫn Học Sinh Lớp 3 Giải Toán Có Lời Văn

1.1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Để phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ là mục tiêu của xã hội. Nghị quyết Trung ương II của Đảng đã khẳng định giáo dục là quốc sách hàng đầu. Chính vì vậy Đảng và nhân dân ta đã không ngừng quan tâm đến chất lượng giáo dục, đến việc đào tạo nhân tài cho đất nước. Cùng với các môn học khác ở bậc Tiểu học, môn Toán có vai trò vô cùng quan trọng, nó giúp học sinh nhận biết được số lượng và hình dạng không gian của thế giới hiện thực, nhờ đó mà học sinh có những phương pháp, kĩ năng nhận thức một số mặt của thế giới xung quanh. Môn toán còn góp phần rèn luyện phương pháp suy luận, suy nghĩ đặt vấn đề và giải quyết vấn đề; góp phần phát triển óc thông minh, suy nghĩ độc lập, linh động, sáng tạo cho học sinh. Mặt khác, các kiến thức, kĩ năng môn toán ở tiểu học còn có nhiều ứng dụng trong đời sống thực tế. Qua thực tế giảng dạy ở các khối lớp, đặc biệt năm nay tôi đứng lớp ở khối 3, tôi thấy: Toán có lời văn có vị trí rất quan trọng trong chương trình Toán ở trường tiểu học, vì: + Việc giải toán giúp học sinh củng cố, vận dụng và hiểu sâu hơn kiến thức về số học, đo lường, yếu tố đại số, các yếu tố hình học đã được học trong môn toán ở tểu học. Hơn thế nữa phần lớn các biểu tượng, khái niệm, quy tắc, tính chất toán học đều được học sinh tiếp thu qua con đường giải toán. + Thông qua nội dung thực tế đa dạng của bài toán, học sinh sẽ tiếp nhận được những kiến thức phong phú về cuộc sống và có điều kiện để rèn luyện khả năng áp dụng các kiến thức toán học vào cuộc sống. + Việc giải quyết bài toán còn đòi hỏi học sinh phải biết tự xem xét vấn đề, tự mình tìm tòi cách giải quyết vấn đề, tự mình thực hiện các phép tính, tự kiểm tra lại kết quả. Do đó giải toán là một cách tốt nhất để rèn luyện đức tính kiên trì, vượt khó, cẩn thận, chu đáo, yêu thích sự chặt chẽ, chính xác. Đồng thời trong thực tế học tập của học sinh tiểu học, đặc biệt là các lớp đầu cấp việc giải toán còn có những khó khăn như: Khả năng phân tích đề của các em chưa cao, nhất là đối với các bài toán có những dữ liệu chưa rõ ràng, các em thường trình bày lời giải chưa chính xác, cách dẫn dắt lời giải hay sai, có khi các em còn rất ngại làm, ngại giải toán có lời văn. Xuất phát từ những lí do trên, tôi nhận thấy việc giúp học sinh giải toán có lời văn lớp 3 là vấn đề rất cần thiết nên ngay từ đầu năm học( 2016 – 2017) khi được phân công dạy lớp 3 tôi đã trăn trở, suy nghĩ và mạnh dạn tìm hiểu về đề tài: “ Một số biện pháp hướng dẫn học sinh lớp 3 giải toán có lời văn” để tìm ra phương pháp thích hợp hướng dẫn học sinh thực hiện giải từng dạng toán và nhằm giúp cho việc giải toán có lời văn ở học sinh lớp 3 đạt kết quả cao. Trong quá trình nghiên cứu sẽ không tránh khỏi thiếu sót, tôi rất mong được sự góp ý, nhận xét của Hội đồng khoa học, của các đồng nghiệp. 1.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU: Nghiên cứu và làm sáng tỏ một số khó khăn, tồn tại trong quá trình giải toán có lời văn ở lớp 3, cách thức dạy học về nội dung giải toán. Tìm ra một số biện pháp cụ thể, nhằm hình thành và phát triển kĩ năng giải các bài toán có lời văn cho học sinh lớp 3. Giúp học sinh lớp 3 biết cách giải và trình bày bài toán có lời văn, nắm chắc và thực hiện đúng quy trình bài toán. 1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU: Nghiên cứu tài liệu Cải tiến phương pháp dạy học về giải toán có lời văn. Dạy thực nghiệm để kiểm nghiệm các giải pháp đề ra và đề xuất ý kiến về dạy giải toán có lời văn. PHƯƠNG PHÁP: Phương pháp thực hành: Xây dựng và tổ chức các hình thức dạy học giải toán có lời văn. Phương pháp điều tra: Điều tra bằng cách phỏng vấn giáo viên, học sinh. Kiểm tra kết quả học tập để thu thập thông tin, số liệu. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Thông qua việc thiết kế các hình thức dạy học phần giải toán có lời văn và tổ chức các giờ học toán ở trên lớp, từ những kết quả đạt được tổng kết thành kinh nghiệm thực tiễn. II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1. Cơ sở lý luận. 2.1.1. Đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học Ở học sinh tiểu học, nhất là học sinh các lớp đầu cấp, hệ thống tín hiệu thứ nhất còn chiếm nhiều ưu thế so với hệ thống tín hiệu thứ hai, do đó các em rất nhạy cảm với tác động bên ngoài. Điều này phản ánh trong nhiều hoạt động nhận thức ở lứa tuổi học sinh tiểu học. Do khả năng phân tích chưa phát triển, các em thường tri giác trên tổng thể. Tri giác không gian chịu nhiều tác động của trường tri giác gây ra các biến dạng vào “ảo giác”. Ở học sinh tiểu học sự chú ý không có chủ định còn chiếm ưu thế, sự chú ý này chưa bền vững nhất là các đối tượng ít thay đổi. Do thiếu khả năng tổng hợp, sự chú ý của học sinh tiểu học còn phân tán, mặt khác do thiếu cả khả năng phân tích nên các em dễ bị lôi cuốn vào trực quan, gợi cảm. Sự chú ý ở các em thường hướng ra bên ngoài vào hành động chứ các em chưa có khả năng hướng vào trong, hướng vào tư duy. Trí nhớ trực quan hình tượng và trí nhớ máy móc phát triển hơn trí nhớ lôgíc, ghi nhớ máy móc dễ dàng hơn ghi nhớ lôgíc, hình ảnh cụ thể dễ nhớ hơn các câu chữ trừu tượng. Trí tưởng tượng tuy có phát triển hơn nhưng tản mạn, ít có tổ chức và còn chịu tác động nhiều của hứng thú, kinh nghiệm sống và các mẫu hình đã biết. Với đặc điểm nhận thức như trên thì quá trình nhận thức môn Toán của học sinh tiểu học được phát triển qua hai giai đoạn: – Giai đoạn đầu (Từ lớp 1 đến lớp 3): sự nhận thức còn mang tính trực quan. – Giai đoạn hai (Từ lớp 4 đến lớp 5): các hoạt động tri giác phát triển và được hướng dẫn bởi các hoạt động nhận thức khác nên chính xác dần. 2.1.2. Đặc điểm của môn toán ở Tiểu học Môn Toán nói chung và môn Toán ở tiểu học nói riêng ngoài những đặc điểm chung của Toán học còn có những đặc điểm riêng: a. Vào lớp 1, học sinh lần đầu tiên được tiếp xúc với môn Toán, cụ thể là được tiếp xúc với các đối tượng của môn Toán, các quan hệ Toán học, các phép toán của Toán học…Đó là cơ sở ban đầu để làm nền tảng cho quá trình học tập môn Toán sau này. Đặc biệt đó cũng là lần đầu tiên các em được làm quen và rèn luyện các thao tác tư duy trong môn Toán như: quan sát, so sánh, tổng hợp, chứng minh…vv. b. Nội dung môn Toán ở tiểu học không có cấu trúc thành những phân môn riêng biệt như các bậc học trên mà nó là một môn học thống nhất: bao gồm những mặt kiến thức chủ yếu có mối quan hệ hữu cơ với nhau và lấy kiến thức số học làm kiến thức cốt lõi. c. Cấu trúc nội dung môn Toán ở tiểu học quán triệt vào tư tưởng của Toán học hiện đại và phù hợp với từng giai đoạn phát triển của học sinh tiểu học. d. Các kiến thức, kỹ năng của môn Toán ở tiểu học được hình thành chủ yếu bằng thực hành, luyện tập và thường xuyên được ôn tập, củng cố phát triển, vận dụng trong học tập và trong đời sống. 2.1.3. Tầm quan trọng của dạy học giải toán ở Tiểu học: Giải toán là một thành phần quan trọng trong chương trình giảng dạy môn toán ở bậc tiểu học. Nội dung của việc giải toán gắn chặt một cách hữu cơ với nội dung của số học và số tự nhiên, các số thập phân, các đại lượng cơ bản và các yếu tố đại số, hình học có trong chương trình. Vì vậy, việc giải toán có lời văn có một vị trí quan trọng thể hiện ở các điểm sau: a) Các khái niệm và các quy tắc về toán trong sách giáo khoa, nói chung đều được giảng dạy thông qua việc giải toán. Việc giải toán giúp học sinh củng cố, vận dụng các kiến thức, rèn luyện kỹ năng tính toán. Đồng thời qua việc giải toán của học sinh mà giáo viên có thể dễ dàng phát hiện những ưu điểm hoặc thiếu sót của các em về kiến thức, kỹ năng và tư duy để giúp các em phát huy hoặc khắc phục. b) Việc kết hợp học và hành, kết hợp giảng dạy với đời sống được thực hiện thông qua việc cho học sinh giải toán, các bài toán liên hệ với cuộc sống một cách thích hợp giúp học sinh hình thành và rèn luyện những kỹ năng thực hành cần thiết trong đời sống hàng ngày, giúp các em biết vận dụng những kỹ năng đó trong cuộc sống. c) Việc giải toán có thể giúp các em thấy được nhiều khái niệm toán học, ví dụ: các số, các phép tính, các đại lượng v.v… đều có nguồn gốc trong cuộc sống hiện thực, trong thực tiễn hoạt động của con người, thấy được các mối quan hệ biện chứng giữa các dữ kiện, giữa cái đã cho và cái phải tìm v.v.. d) Việc giải toán góp phần quan trọng vào việc rèn luyện cho học sinh năng lực tư duy và những đức tính tốt của con người lao động mới. Khi giải một bài toán, tư duy của học sinh phải hoạt động một cách tích cực vì các em cần phân biệt cái gì đã cho và caí gì cần tìm, thiết lập các mối liên hệ giữa các dữ kiện giữa cái đã cho và cái phải tìm; Suy luận, nêu nên những phán đoán, rút ra những kết luận, thực hiện những phép tính cần thiết để giải quyết vấn đề đặt v.v… Hoạt động trí tuệ có trong việc giải toán góp phần giáo dục cho các em ý trí vượt khó khăn, đức tính cẩn thận, chu đáo làm việc có kế hoạch, thói quen xem xét có căn cứ, thói quen tự kiểm tra kết quả công việc mình làm, óc độc lập suy nghĩ, óc sáng tạo v.v… 2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm: Năm học 2016-2017 tôi được phân công giảng dạy lớp 3A5 Trường Tiểu học Điện Biên 2. Lớp 3A5 do tôi chủ nhiệm và giảng dạy có 41 học sinh. Trong đó: – Con cán bộ công chức: 27 em. – Con gia đìnhlao động tự do: 14 em. – Nam: 21 em; nữ: 20 em. Các em ở trong phường và rải rác trên toàn thành phố, có nhiều học sinh ở xa trường việc đi lại của các em gặp rất nhiều khó khăn điều đó cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng học tập của các em. *Qua quá trình giảng dạy ở trường tiểu học, đặc biệt là được đứng lớp ở lớp 3, tôi thấy: mặc dù mấy năm gần đây các nhà trường đã áp dụng phương pháp mới vào quá trình dạy học, học sinh được hoạt động nhiều hơn, khả năng tư duy, kĩ năng thực hành ở học sinh được phát triển nhiều hơn, xong ở các em vẫn còn một số hạn chế về năng lực tư duy, ở thói quen mà chưa thể khắc phục được: – Một số học sinh vẫn còn tình trạng ghi nhớ máy móc, khả năng phân tích tổng hợp chưa cao, sự chú ý của các em còn dễ bị chi phối, lôi cuốn vào trực giác gợi cảm bên ngoài, khả năng cảm nhận vào bản chất còn hạn chế. -Trong toán có lời văn thì thường là các em giải được những bài toán điển hình, bởi những bài toán này các em đã nắm được công thức tính cụ thể. Còn những bài toán không có dạng điển hình hoặc là đúng dạng nhưng phải qua một vài bước mới ứng dụng được công thức giải thì các em thường không biết làm như thế nào. Từ đó về căn bản chất lượng dạy và học toán có lời văn chưa cao. Sau khi khảo sát chất lượng môn toán đầu năm học vào thời điểm tháng 9/2016(năm học 2016 – 2017) kết quả giải toán của lớp 3A5 đạt được cụ thể như sau : Sĩ số Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành 41 em SL TL SL TL SL TL 20 em 48,8% 15em 36,5 % 6 em 14,7% Từ thực tế trên tôi đã tìm hiểu và rút ra một số nguyên nhân cơ bản sau: Về phía học sinh: -Các em chưa biết cách đọc hiểu đề toán để từ đó biết tóm tắt làm rõ nội dung của đề. Do đó các em chưa biết xác định hướng giải của bài toán là bắt đầu từ đâu. -Lời giải đặt chưa lô gíc với phép tính, lời giải còn thiếu ý, chưa hoàn chỉnh. – Học sinh có thể tiếp thu rất dễ dàng các phép tính số học nhưng khi gặp toán có lời văn các em còn lúng túng và dẫn đến không hứng thú với việc giải toán nên kết quả thực hành giải toán chưa cao. *Về phía giáo viên: -GV chưa tìm hiểu rõ những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến cái sai của học sinh để tìm phương pháp dạy phù hợp giúp học sinh nắm được cách giải có hệ thống và vận dụng cách giải vào bất kì bài toán nào. – GV còn sử dụng phương pháp đàm thoại nhiều trong tiết học. -GV thường cho học sinh lên chữa bài khi mà lớp làm bài chưa xong dẫn đến học sinh dưới lớp chép bài của bạn mà không tự suy nghĩ để tìm ra hướng giải bài toán. Nhưng làm thế nào để học sinh hiểu và giải toán theo yêu cầu của chương trình mới, đó là điều cần phải trao đổi nhiều đối với chúng ta – những người trực tiếp giảng dạy cho các em nhất là việc: Đặt câu lời giải cho bài toán. Như chúng ta đã biết: Trước cải cách giáo dục thì đến lớp 4, các em mới phải viết câu lời giải, còn những năm đầu cải cách giáo dục thì đến học kì 2 của lớp 3 mới phải viết câu lời giảiNhưng với yêu cầu đổi mới của giáo dục thì hiện nay ngay từ lớp 1 học sinh đã được yêu cầu viết câu lời giải, đây quả là một bước nhảy vọt khá lớn trong chương trình toán. Nhưng nếu như nắm bắt được cách giải toán ngay từ lớp 1, 2, 3 thì đến các lớp trên các em dễ dàng tiếp thu, nắm bắt và gọt giũa, tôi luyện để trang bị thêm vào hành trang kiến thức của mình để tiếp tục học tốt ở các lớp sau. 2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề: Qua thực tế giảng dạy ở lớp 3 cũng như sự đúc rút từ kinh nghiệm bản thân và học hỏi đồng nghiệp tôi thấy: để nâng cao chất lượng môn toán ở lớp 3 đặc biệt là giải toán có lời văn, giáo viên nên thực hiện các biện pháp sau: 2.3.1 Tìm hiểu tâm lí học sinh, giúp học sinh có hứng thú học toán có lời văn. Đặc điểm hứng thú môn học Toán của học sinh Tiểu học hiện nay nhìn chung còn phân tán, chưa bền vững, chưa ổn định, chủ yếu là hứng thú gián tiếp . Một trong những nguyên nhân của hiện trạng này là do : việc giảng dạy chưa làm cho HS nhận thức rõ ý nghĩa của môn Toán , chưa thực sự tạo tính chủ động , sáng tạo trong quá trình giải toán , cũng như chưa tạo ra bầu không khí tích cực trong quá trình học toán . Nếu tăng cường một số biện pháp tâm lí sư phạm nhằm thay đổi những nguyên nhân trên theo hướng tích cực thì hứng thú học môn Toán ở học sinh Tiểu học sẽ được nâng cao . 2.3.2 Hướng cho học sinh tự suy nghĩ làm việc, không thụ động bằng cách biết tự lập kế hoạch giải toán Việc giải toán có lời văn góp phần quan trọng vào việc rèn luyện cho học sinh năng lực tư duy và những đức tính tốt của con người lao động mới. Khi giải một bài toán, tư duy của học sinh phải hoạt động một cách tích cực vì các em cần phân biệt cái gì đã cho và cái gì cần tìm, thiết lập các mối liên hệ giữa các dữ kiện giữa cái đã cho và cái phải tìm . Suy luận, nêu lên những phán đoán, rút ra những kết luận, thực hiện những phép tính cần thiết để giải quyết vấn đề đặt ra v.v… Hoạt động trí tuệ có trong việc giải toán góp phần giáo dục cho các em ý chí vượt khó khăn, đức tính cẩn thận, chu đáo làm việc có kế hoạch, thói quen xem xét có căn cứ, thói quen tự kiểm tra kết quả công việc mình làm, óc độc lập suy nghĩ, óc sáng tạo v.v… Các em biết tự lập kế hoạch giải toán mà không thụ động . 2.3.3 Khảo sát phân loại đối tượng học sinh . *Đối với giáo viên được phân công giảng dạy môn toán, để chất lượng học toán nói chung và giải toán có lời văn nói riêng đạt kết quả tốt thì việc đầu tiên là phải khảo sát chất lượng học sinh, phân loại đối tượng học sinh một cách cụ thể để tìm hiểu mức độ học tập ở các em, từ đó đề ra kế hoạch bồi dưỡng cụ thể, áp dụng biện pháp giảng dạy cho phù hợp với từng loại đối tượng học sinh. Những em tiếp thu việc giải toán chậm thì không yêu cầu các em phải giải tất cả các bài toán có trong chương trình mà tập trung rèn cho các em làm chắc dạng toán cơ bản, điển hình. Trong các giờ học không nên ép các em phải làm đủ số lượng bài như các bạn khác trong lớp mà chỉ cho các em làm số lượng bài vừa phải với lực học của mình, nên giao bài từ dễ đến khó và động viên các em kịp thời. Như vậy sẽ giúp cho các em đỡ chán nản khi phải giải những bài toán mà các em cho là khó. 2.3..4 Hướng dẫn học sinh nắm được các bước giải một bài toán: Thông thường nếu là dạng toán điển hình thì giáo viên sẽ hướng dẫn để học sinh nhận ra dạng toán và giải theo công thức của từng dạng. Vậy với dạng toán mà khác dạng hoặc qua những bước phụ mới tìm ra được dạng quen thuộc thì học sinh sẽ lúng túng, do đó cần phải hướng dẫn học sinh nắm được cách giải mà có thể giải được bất kì bài toán nào, dạng toán nào. Ta có thể hướng dẫn học sinh: Bước 1.Hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề: GV không dùng phương pháp đàm thoại để hỏi “ Bài toán cho biết gì? Bài toán yêu cầu tìm gì?” mà sử dụng cách khác, ví dụ như: +Gạch một gạch dưới những điều đã cho. +Gạch hai gạch dưới những điều cần tìm. *Tóm tắt đề toán: Từ bước tìm hiểu bài ở trên đã giúp học sinh tóm tắt bài toán một cách dễ dàng. Học sinh có thể dùng kí hiệu, sơ đồ … để tóm tắt một cách ngắn gọn nhất thể hiện rõ mối quan hệ giữa các yếu tố trong bài toán. Bước 2: Định hướng cho học sinh lập kế hoạch giải bài toán: Để giải được bài toán thì phải có hướng giải, do đó phải có kế hoạch để giải bài toán theo trình tự như thế nào cho hợp lí. Thường các bài toán giải trong toán lớp 3 thường được đưa ra ở 2 dạng chính đó là các bài toán điển hình đơn giản chỉ dựa vào công thức là có thể giải được. Dạng thứ 2 là các bài toán phức tạp hơn, phải qua một vài bước trung gian thì mới vận dụng công thức để giải. Đây là dạng toán có nhiều phép tính. Bước 3: Trình bày bài toán. Ví dụ: Sau khi đọc đề toán ở trang 50 SGK Toán 3. “ Thùng thứ nhất đựng 18 l dầu, thùng thứ hai đựng nhiều hơn thùng thứ nhất 6l dầu. Hỏi cả hai thùng đựng bao nhiêu lít dầu?”. – Yêu cầu học sinh tập nêu bằng lời để tóm tắt bài toán: Thùng 1 có : 18l . Thùng 2 có: nhiều hơn 6l. Hỏi cả hai thùng: ? lít dầu. – Sau khi học sinh nêu được bằng lời để tóm tắt bài toán, tôi hướng dẫn học sinh tập tóm tắt bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng: Thùng 1 Thùng 2 – Sau khi hướng dẫn học sinh tóm tắt được bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng, tôi tiếp tục hướng dẫn học sinh tìm lời giải: + Nhìn vào sơ đồ ta thấy muốn tìm số lít dầu ở cả hai thùng trước hết ta phải tính gì? ( Tính số dầu ở thùng thứ hai). Yêu cầu học sinh trình bày bằng lời nói. Lời giải và phép tính tương ứng. Thùng thứ hai đựng số lít dầu là: Học sinh nêu miệng phép tính: 18 + 6 = 24 (lít) Yêu cầu học sinh nêu miệng tiếp lời giải và phép tính thứ hai: Cả hai thùng đựng số lít dầu là: 18 + 24 = 42 (lít) – Giáo viên khuyến khích các em có cách đặt lời giải khác. Tuy nhiên ở phép tính thứ hai, tôi thấy có một số em thực hiện tìm số dầu cả hai thùng bằng cách lấy 24 + 6 = 30 (lít). Đối với những em này, tôi nhận thấy các em có khả năng tư duy chưa tốt, còn chưa nắm vững yêu cầu bài toán. Đây là những trường hợp nằm trong nhóm đối tượng học sinh chưa hoàn thành. Tôi phải hướng dẫn các em hiểu rõ: Muốn tìm số dầu cả hai thùng ta phải làm gì? để các em nêu được: Lấy số dầu thùng thứ nhất + số dầu ở thùng thứ hai và giúp cho các em thấy được số dầu ở thùng thứ nhất là 18l và số dầu ở thùng thứ hai là 24l. – Sau đó yêu cầu học sinh trình bày bài giải. – Ở dạng bài này, giáo viên cũng cần cho học sinh luyện nêu miệng đề toán và tập tóm tắt đề toán bằng sơ đồ đoạn thẳng nhiều lần để các em ghi nhớ một bài toán. Ví dụ: Bài tập 3 (trang 50 – SGK toán 3) Bao gạo Bao ngô – Tôi cho học sinh đọc thầm, đọc miệng tóm tắt rồi nêu đề toán bằng lời theo yêu cầu. Học sinh: Bao gạo nặng 27 kg. Bao ngô nặng hơn bao gạo 5kg. Hỏi cả hai bao gạo và ngô nặng

Bạn đang đọc nội dung bài viết Cách Hướng Dẫn Học Sinh Giải Một Số Dạng Cơ Bản Môn Toán 6 trên website Asianhubjobs.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!