Đề Xuất 1/2023 # Di Tích Lịch Sử Chiến Trường Điện Biên Phủ (Bổ Sung 23 Điểm Di Tích) # Top 2 Like | Asianhubjobs.com

Đề Xuất 1/2023 # Di Tích Lịch Sử Chiến Trường Điện Biên Phủ (Bổ Sung 23 Điểm Di Tích) # Top 2 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Di Tích Lịch Sử Chiến Trường Điện Biên Phủ (Bổ Sung 23 Điểm Di Tích) mới nhất trên website Asianhubjobs.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Di tích lịch sử Chiến trường Điện Biên Phủ (Bổ sung 23 điểm di tích)

Di tích lịch sử Chiến trường Điện Biên Phủ là bằng chứng lịch sử về chiến thắng lẫy lừng của dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, thể hiện ý chí quyết tâm của cả dân tộc trước một lực lượng quân sự hùng mạnh, phương tiện chiến tranh hiện đại. Chiến thắng Điện Biên Phủ đánh dấu một bước ngoặt lịch sử của cách mạng Việt Nam, giải phóng hoàn toàn một nửa đất nước, mở đầu thời kỳ cách mạng xã hội chủ nghĩa trên miền Bắc, góp phần thúc đẩy quá trình tan rã từng mảng lớn hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc.

Với ý nghĩa và tầm vóc đặc biệt, di tích lịch sử Chiến trường Điện Biên Phủ đã được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt năm 2009. Tuy nhiên, còn một số địa điểm in đậm dấu ấn của chiến dịch lịch sử này chưa được xác định kiểm kê, lập hồ sơ khoa học để xếp hạng. Chính vì vậy, việc nghiên cứu bổ sung những địa điểm di tích Chiến trường Điện Biên vẫn tiếp tục được thực hiện.

23 điểm bổ sung vào di tích lịch sử Chiến trường Điện Biên Phủ phân bố trên địa bàn: thành phố Điện Biên Phủ, huyện Tuần Giáo, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên, có tổng diện tích các khu vực bảo vệ là: 545.505,75m2, trong đó: khu vực bảo vệ I: 349.708,72 m2, khu vực bảo vệ II: 195.797,03 m2.

1. Hệ thống di tích tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ

1.1. Di tích Đồi D (D1, D2, D3), (phường Mường Thanh và phường Tân Thanh, thành phố Điện Biên Phủ),

Đồi D1 đã được xếp hạng là di tích thành phần thuộc Di tích quốc gia đặc biệt Chiến trường Điện Biên Phủ. Riêng Đồi D2, D3 chưa được xếp hạng, vì vậy, đợt này được đề nghị bổ sung . Đồi D2, khu vực bảo vệ I là 8.279,85m2 (không có khu vực bảo vệ II). Đồi D3, khu vực bảo vệ I là 800m2, khu vực bảo vệ II là 7.600m2.

Thực dân Pháp đã xây dựng và biến cứ điểm Đồi D để trực tiếp khống chế khu Trung tâm và sân bay Mường Thanh. Đúng 17 giờ ngày 30/3/1954, pháo của ta đồng loạt dội xuống đồi D và các cao điểm phía Đông khu trung tâm Mường Thanh, tạo điều kiện cho các đơn vị bộ binh tiến lên. Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt, quân ta giành giật với địch từng ụ súng, từng mét chiến hào. Sau 2 ngày, quân ta hoàn toàn làm chủ cứ điểm D1, D2, D3.

1.2. Điểm Pháo 105mm của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ (phường Thanh Bình, thành phố Điện Biên Phủ), có diện tích khoanh vùng khu vực bảo vệ I là 334,4m2 (không có khu vực bảo vệ II).

Từ ngày 20 – 22/11/1953 đã có 6 tiểu đoàn dù của Pháp, với khoảng 4.500 lính có mặt tại Điện Biên Phủ. Sau khi chiếm đóng Điện Biên thành công, thực dân Pháp đã cho xây dựng nơi đây thành một Tập đoàn quân sự mạnh, gồm 49 cứ điểm chia thành 8 cụm nằm trong ba phân khu đó là phân khu Bắc, phân khu Trung Tâm và phân khu Nam.

1.3. Di tích Đồi Cháy (phường Mường Thanh, thành phố Điện Biên Phủ) có diện tích khoanh vùng khu vực bảo vệ I là 23.856,1m2 (không có khu vực bảo vệ II).

Trung đoàn 174, Đại đoàn 316 đã lấy đồi Cháy làm nơi đặt trận địa cối và Sở chỉ huy Trung đoàn. Đêm 06/5/1954, Trung đoàn 174 được lệnh công kích vào cứ điểm A1. Sau khi chiếm được A1, Trung đoàn 174 để lại một số đơn vị chốt giữ A1, còn lại thì rút quân về bên Đồi Cháy chỉnh đốn lại đội hình. Các đơn vị súng cối, pháo 75mm trên Đồi Cháy bắn yểm hộ cho các phân đội bộ binh tiến vào trung tâm của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

1.4. Di tích Đồi F (phường Mường Thanh, thành phố Điện Biên Phủ), diện tích khoanh vùng khu vực bảo vệ I là 59.535,97m2 (không có khu vực bảo vệ II). 

Cùng với đồi A1, đồi F là một trong các điểm cao quan trọng nhất, có tác dụng che sườn cho phân khu Đông, đồng thời cùng các điểm cao khác tạo thành bình phong bảo vệ cho khu trung tâm Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Về phía ta, nếu chiếm được đồi F thì nơi đây có thể dùng làm trận địa hoả lực, đặt trung liên, đại liên, DKZ trực tiếp uy hiếp Al, C1, C2, phong toả cả bên sườn và chính diện trận địa Pháp về phía Đông, chi viện cho bộ binh xung phong thuận lợi. Đồi F được Quân đội ta làm chủ hoàn toàn vào rạng sáng ngày 07/5/1954.

1.5. Di tích Đồi E2 (phường Tân Thanh và phường Him Lam, thành phố Điện Biên Phủ) có diện tích khoanh vùng khu vực bảo vệ I là 76.466,5m2 (không có khu vực bảo vệ II).

Đồi E2 được chọn làm địa điểm để xây dựng Sở chỉ huy phía trước của Đại đoàn 312. Khi quân ta tấn công cứ điểm E1, địch điều lực lượng lên cứ điểm E2 để chiếm giữ nhưng đã bị pháo và súng cối của ta khống chế, buộc địch phải rút lui không thể tiến lên và chúng lại rút về cứ điểm E1.

2.2. Hệ thống di tích của Quân đội Nhân dân Việt Nam

2.1. Di tích Đài quan sát chiến dịch Điện Biên Phủ tại Mường Phăng (xã Mường Phăng, huyện Điện Biên) có diện tích khoanh vùng khu vực bảo vệ I là 160m2 và khu vực bảo vệ II là 5.230,5m2.

Ngọn núi Pu Tó Cọ được Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái chọn để đặt Đài quan sát, nằm gần Sở chỉ huy chiến dịch. Bộ chỉ huy chiến dịch đóng tại khu rừng Mường phăng cũng như Đài quan sát của Sở chỉ huy đóng trên đỉnh Pú Tó Cọ được giữ bí mật tuyệt đối, từ khi chuyển tới cho đến khi kết thúc chiến dịch.

2.2. Di tích Trận Hậu cần hỏa tuyến Nà Tấu Km62 (xã Nà Nhạn, huyện Điện Biên) có diện tích khoanh vùng khu vực bảo vệ I là 380,5m2 và khu vực bảo vệ II là  4.520,5m2.

Trạm hậu cần hỏa tuyến Nà Tấu đóng ở đây trong vòng 13 ngày (từ 18 đến 30/01/1954) cùng với Bộ chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ.

2.3. Di tích Đèo Pha Đin (xã Tỏa Tình, huyện Tuần Giáo), có diện tích khoanh vùng khu vực bảo vệ I là 137.083,4m2 và khu vực bảo vệ II là 137.686,53m2.

Đèo Pha Đin dài 32 km, điểm đầu thuộc xã Tỏa Tình, huyện Tuần Giáo (tỉnh Điện Biên) và kết thúc ở xã Phỏng Lái, huyện Thuận Châu (tỉnh Sơn La). Đây là tuyến đường huyết mạch của Quân đội ta nối từ hậu phương ra chiến dịch. Với vị thế chiến lược, muốn vào Điện Biên Phủ thì bắt buộc phải qua đèo Pha Đin. Vì thế, địch cho máy bay tuần tiễu khu vực đèo hàng chục lần mỗi ngày, thả hàng trăm quả bom các loại (bom phá, bom nổ chậm, bom bi, bom Na-pan…). Đèo Pha Đin được ví như “túi bom”, có ngày địch ném xuống đây 160 quả bom, trung bình mỗi ngày chịu 16 tấn bom đạn. Tại đây, đã có hơn 8.000 thanh niên xung phong ngã xuống để đảm bảo thông xe, thông tuyến, phục vụ kịp thời cho việc chuyển quân, chuyển vũ khí, lương thực thực phẩm.

2.4. Di tích Đường Kéo pháo bằng tay (xã Nà Nhạn, huyện Điện Biên) có diện tích khoanh vùng khu vực bảo vệ I là 27.239,5m2 và khu vực bảo vệ II là 15.557,2m2

Sau khi cân nhắc tình hình tại Điện Biên Phủ, Bộ chỉ huy mặt trận quyết định đưa pháo hạng nặng lên chiếm lĩnh trận địa. Những khẩu pháo nặng hàng tấn vượt qua núi cao, vực thẳm lên địa điểm tập kết chỉ dựa vào sức người. Với khẩu hiệu “mở đường thắng lợi”, sáng ngày 15/01/1954, lực lượng mở đường với hơn 5.000 người, với những công cụ thô sơ như dao, rìu, cuốc, xẻng, xà beng,… đào vào các sườn núi cao hiểm trở, vừa cắm mốc, vừa làm hầm trú ẩn, hầm công sự, trong khi quân địch luôn cho máy bay thả bom phá hủy… Sau 20 giờ, một con đường kéo pháo bằng tay dài là 15km, rộng 3m đã được hoàn thành vượt thời gian quy định 4 giờ.

2.5. Di tích Sở chỉ huy Chiến dịch ở hang Thẳm Púa (xã Chiềng Đông, huyện Tuần Giáo), diện tích khoanh vùng khu vực bảo vệ I là 2.869,3m2 và khu vực bảo vệ II là 16.586,75m2

Đây là vị trí đặt chân đầu tiên của Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ trong 32 ngày (từ 17/12/1953-17/01/1954). Tại đây, ngày 19/12/1953, Bộ chỉ huy chiến dịch đã triển khai kế hoạch đánh địch ở Lai Châu không cho rút về Điện Biên Phủ và bao vây quân địch ở Điện Biên Phủ, chốt chặt không cho chúng rút chạy về Thượng Lào.

2.6. Di tích nơi anh Bế Văn Đàn hy sinh (xã Mường Pồn, huyện Điện Biên) có diện tích khoanh vùng khu vực bảo vệ I là 8.761,5m2 (không có khu vực bảo vệ II).

Trận chiến 12/12/1953 ở Mường Pồn, trong một tình thế khẩn cấp, Bế Văn Đàn tuy đã bị thương nhưng vẫn dũng cảm nhấc hai chân súng tiểu liên đặt lên vai mình làm bệ đỡ để đồng đội siết cò, trút đạn về phía quân địch, bẻ gãy đợt tấn công. Bế Văn Đàn bị thêm hai vết thương nặng (do 2 chân súng tỳ lên vai), máu chảy ròng ròng, đã anh dũng hi sinh trong tư thế hiên ngang, hai tay còn giữ chặt chân súng… Tấm gương hi sinh oanh liệt của anh đã cổ vũ cán bộ, chiến sĩ trên toàn mặt trận kiên quyết xông lên đánh quân thù.

2.7. Di tích Trận địa cao xạ 37mm của Tiểu đoàn 394, Trung đoàn 367, Đại đoàn 351 ở Bản Mển (xã Thanh Nưa, huyện Điện Biên), có diện tích khoanh vùng khu vực bảo vệ I là 2.870,2m2 (không có khu vực bảo vệ II).

Đây là vị trí trận địa pháo để khống chế và tiêu diệt địch tại phân khu Bắc (Độc lập và Bản Kéo), tạo điều kiện để bộ binh đánh vào sào huyệt của địch. Sau khi tiêu diệt được Độc Lập, Bản Kéo, trận địa pháo của Tiểu đoàn 394 chuyển đến bản Tâu, tiếp tục hiệp đồng với bộ binh tiêu diệt các cứ điểm thuộc Trung tâm tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

2.8. Di tích Trận địa cao xạ 37mm của Tiểu đoàn 394, Trung đoàn 367, Đại đoàn 351 ở Bản Tâu (xã Hua Thanh, huyện Điện Biên) có diện tích khoanh vùng khu vực bảo vệ I là 2.972,15m2 (không có khu vực bảo vệ II).

Vào lúc 15 giờ 30 phút, ngày 14/3/1954 khi các đơn vị bộ binh của Đại đoàn 308, 312 chuẩn bị tiến công cụm đồi Độc Lập, có hai tốp máy bay của địch từ hướng Đông bay tới. Tiểu đoàn pháo cao xạ 394, Trung đoàn 367 đã bắn rơi tại chỗ chiếc Hen Đi Vơ đi đầu. Những chiếc khác, trước lưới lửa mãnh liệt của pháo cao xạ ta, ném bom loạn xạ rồi tháo chạy. Đêm hôm đó, quân ta tiêu diệt cụm cứ điểm đồi Độc Lập.

2.9. Di tích Trận địa cao xạ 37mm của tiểu đoàn 383, Trung đoàn 367, Đại đoàn 351 ở Bản Hồng Líu (phường Noong Bua, thành phố Điện Biên Phủ), diện tích khoanh vùng khu vực bảo vệ I là 3.012,59m2(không có khu vực bảo vệ II)

Sáng ngày 14/3/1954, Tiểu đoàn 383 đã bắn cháy chiếc máy bay đầu tiên của Pháp trên bầu trời Điện Biên Phủ. Tiểu đoàn 383 đã sử dụng pháo cao xạ 37mm, cùng các đơn vị khác khống chế bầu trời để bộ binh yên tâm tiêu diệt cứ điểm Độc Lập. Trong đợt tấn công thứ hai và thứ ba của chiến dịch, Tiểu đoàn 383 đã sử dụng pháo cao xạ 37mm khống chế bầu trời, tạo điều kiện cho bộ binh tiêu diệt các cứ điểm của Pháp, tiến đến tổng công kích vào chiều ngày 07/5/1954.

2.10. Di tích Khu vực tập kết Hậu cần tại ngã ba Tuần Giáo (thị trấn Tuần Giáo, huyện Tuần Giáo), diện tích khoanh vùng khu vực bảo vệ I là 50m2 (không có khu vực bảo vệ II). Đây là địa điểm tập kết lương thực, thực phẩm cho chiến dịch Điện Biên Phủ được vận chuyển đến từ các hướng.

2.11. Trận địa pháo 105mm của Đại đội 806, tiểu đoàn 594, Trung đoàn 54, Đại đoàn 351 ở xã Thanh Minh (xã Thanh Minh, thành phố Điện Biên Phủ), diện tích khu vực bảo vệ I là 1.233,6m2 (không có khu vực bảo vệ II)

Tại đây, quân ta đã bắn những loạt đạn pháo 105mm đầu tiên vào cứ điểm Him Lam mở màn cho chiến dịch Điện Biên Phủ. 22 giờ 30 phút ngày 13/3/1954, Đại đoàn 312 đã tiêu diệt trung tâm đề kháng Him Lam, xóa sổ Tiểu đoàn 3 của địch, sau đó, pháo 105mm đã tấn công vào cứ điểm Độc Lập, uy hiếp Bản Kéo.

2.12. Di tích Trận địa pháo H6 của tiểu đoàn 224, Trung đoàn 675, Đại đoàn 351 ở xã Thanh Minh (xã Thanh Minh, thành phố Điện Biên Phủ) có diện tích khoanh vùng khu vực bảo vệ I là 1.108,76m2 (không có khu vực bảo vệ II).

Đêm 06/5/1954, Tiểu đoàn H6 tham gia hỏa lực, bắn 3 đợt (618 viên) vào các mục tiêu, góp phần làm cho địch suy sụp tinh thần. Sáng sớm ngày 07/5/1954, Tiểu đoàn được phổ biến thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “hôm nay địch sẽ ra sức đối phó, tập trung lực lượng pháo kích và oanh tạc. Ta phải tích cực, cương quyết, bền bỉ đánh bại đợt phản kích cuối cùng của địch”. Đến 9 giờ 30, Tiểu đoàn được lệnh bắn 2 loạt đạn (144 viên) vào khu vực Mường Thanh, trong đó có cả 3 mục tiêu cấp trên đã chỉ định. Một cột lửa khói khổng lồ bao trùm khu vực  mục tiêu. 15 giờ chiều, quân ta được lệnh tổng công kích trên toàn mặt trận đánh thẳng vào Sở chỉ huy địch bắt sống tướng Đờ Cát và toàn bộ Ban tham mưu của Tập đoàn cứ điểm. Đến 24giờ, chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ kết thúc toàn thắng.

2.13. Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ ở Hang Huổi He (xã Nà Nhạn, huyện Điện Biên) có diện tích khoanh vùng khu vực bảo vệ I là 443m2 và khu vực bảo vệ II là 1.443,5m2

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Sở chỉ huy của Bộ chỉ huy được đặt tại 3 địa điểm: Hang Thẳm Púa, Hang Huổi He và Mường Phăng. Hang Thẳm Púa là Sở chỉ huy đầu tiên của Bộ chỉ huy trong thời gian 32 ngày (từ 17/12/1953 – 17/1/1954). Hang Huổi He là Sở chỉ huy thứ 2 của Bộ chỉ huy chiến dịch trong thời gian 13 ngày (từ ngày 18 – 30/01/1954).

2.14. Di tích Sở chỉ huy Trung đoàn 98, Đại đoàn 316 (phường Mường Thanh, thành phố Điện Biên Phủ), có diện tích khoanh vùng khu vực bảo vệ I là 2.662,7m2 (không có khu vực bảo vệ II).

Sở chỉ huy Trung đoàn 98 đóng ở Mường Thanh từ tháng 12/1953 – 5/1954. Tại đây, trong đợt tấn công thứ hai, Trung đoàn 98 nhận lệnh tiêu diệt cứ điểm C1, C2, ngoài ra còn có đơn vị khác đánh hiệp đồng. Tại cứ điểm Đồi C, các chiến sỹ Trung đoàn 98 đã đánh tan quân Pháp, mở toang cánh cửa phía Đông để tấn công vào Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

2.15. Di tích Trận địa pháo của Đại đội 815, Tiểu đoàn 383, Trung đoàn 367, Đại đoàn 351 (thuộc bản Púng Tôm, xã Thanh Minh, thành phố Điện Biên Phủ), diện tích khoanh vùng khu vực bảo vệ I là 2.624,2m2 và khu vực bảo vệ II là 8.512m2

Đúng 17giờ 13/3/1954, cùng với pháo 105 mm của ta, pháo cao xạ 37 mm của Đại đội 815, Tiểu đoàn 383 bắt đầu bắn những loạt đạn đầu tiên vào Him Lam, khống chế bầu trời, không cho máy bay địch tiếp tế và viện trợ. Chỉ trong vòng hơn 5 tiếng đồng hồ, Khẩu đội 3 cùng với 3 Khẩu đội khác của Đại đội 815 hiệp đồng với công binh, bộ binh tiêu diệt hoàn toàn cứ điểm Him Lam.

2.16. Di tích Trụ sở Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Lai Châu (xã Mường Phăng, huyện Điện Biên) có diện tích khoanh vùng khu vực bảo vệ I là 4.967,1m2, khu vực bảo vệ II là 18.183,2m2.

Ủy ban Kháng chiến hành chính tỉnh Lai Châu, được thành lập trên cơ sở Ủy ban Kháng chiến hành chính các huyện, xã đã có từ trước (thành lập đầu tiên ở huyện Điện Biên và Tuần Giáo) vào tháng 12/1953, do đồng chí Hoàng Bắc Dũng, Trưởng Ban cán sự Đảng tỉnh làm Chủ tịch, 2 ủy viên là đồng chí Lò Văn Hặc và Hoàng Hoa Thưởng.

2.17. Di tích Tòa soạn tiền phương của Báo Quân đội Nhân dân (xã Mường Phăng, huyện Điện Biên), diện tích khoanh vùng khu vực bảo vệ I là 4.919m2 (không có khu vực bảo vệ II).

Ngày 28/12/1953, báo Quân đội Nhân dân ra số đầu tiên phát hành tại mặt trận Điện Biên Phủ, mang số 116 lấy theo số báo ở hậu phương. Trải qua 140 ngày đêm, báo Quân đội Nhân dân tại mặt trận Điện Biên Phủ đã ra được 33 số, góp phần tuyên truyền, cổ vũ, động viên tinh thần chiến đấu cho toàn quân…

2.18. Di tích Sở chỉ huy Tiền phương của Tổng Cục cung cấp (xã Mường Phăng, huyện Điện Biên), diện tích khoanh vùng khu vực bảo vệ I là 13.666m2 (không có khu vực bảo vệ II).

Sở chỉ huy Tiền phương nằm ở sườn núi Lùng Pá Chả (tiếng Thái có nghĩa là “lán trong rừng tre”), hữu ngạn suối Ta Hiện, gần với Trụ Sở Ủy ban kháng chiến hành chính và Sở chỉ huy chiến dịch tại Mường Phăng. Tại đây, ta đã huy động được số lương – thực phẩm đáp ứng đủ nhu cầu cho chiến dịch.

Với giá trị đặc biệt tiêu biểu, 23 điểm di tích chiến thắng Điện Biên Phủ (thành phố Điện Biên Phủ, huyện Tuần Giáo, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên) đã được Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 2367/QĐ-TTg ngày 23/12/2015 xếp hạng bổ sung vào Hồ sơ di tích lịch sử Chiến trường Điện Biên Phủ (đã được xếp hạng là di tích quốc gia đặc biệt tại Quyết định số 1272/QĐ-TTg ngày 12/8/2009 của Thủ tướng Chính phủ)./.

Chiến Thắng Lịch Sử Điện Biên Phủ (7/5/1954)

Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thắng lợi, thực dân Pháp được sự hỗ trợ của các thế lực đế quốc đã quay trở lại xâm lược nước ta. Ngày 19/12/1946, đáp lời Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch, nhân dân Việt Nam đã anh dũng bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ chống kẻ thù xâm lược.

Dựa vào sức mình là chính, với vũ khí thô sơ và tinh thần “cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh”, quân và dân ta đã lần lượt đánh bại các chiến lược quân sự của thực dân Pháp. Đến năm 1953, chúng ta đã làm chủ trên các chiến trường, tạo ra sự so sánh lực lượng có lợi cho ta. Để cứu vãn tình thế, thu – đông năm 1953, thực dân Pháp và can thiệp Mỹ đã triển khai Kế hoạch Nava tăng cường binh lực và phương tiện chiến tranh, mưu toan trong vòng 18 tháng sẽ tiêu diệt phần lớn bộ đội chủ lực của ta, kiểm soát lãnh thổ Việt Nam, giành lại thế chủ động trên chiến trường, làm cơ sở cho một giải pháp chính trị hòng tiếp tục sự chiếm đóng lâu dài. Khi phát hiện hướng tiến công chiến lược của ta vào Tây Bắc, Lai Châu và Thượng Lào, Bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp đã cho quân nhảy dù chiếm Điện Biên Phủ, xây dựng nơi đây thành căn cứ quân sự kiên cố.

Lược đồ Chiến dịch Điện Biên Phủ

Về phía ta, tháng 9/1953, Bộ Chính trị họp bàn và quyết định mở cuộc tiến công chiến lược đông – xuân với phương châm: tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt, tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta, chọn nơi sơ hở và nơi xung yếu của địch mà đánh, đẩy mạnh chiến tranh du kích, giữ vững thế chủ động, buộc địch phải phân tán lực lượng. Quân và dân ta đã phối hợp với quân và dân Lào, Campuchia liên tiếp mở chiến dịch và giành thắng lợi ở Lai Châu, Tây Nguyên, Trung Lào, Hạ Lào, Thượng Lào và Đông Campuchia, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, mở rộng vùng giải phóng buộc quân Pháp lâm vào tình thế bị động chiến lược, phải phân tán lực lượng để đối phó trên khắp các chiến trường.

Điện Biên Phủ là cứ điểm có ý nghĩa chiến lược khống chế cả một vùng rộng lớn của Tây Bắc và Thượng Lào. Tuy nằm ngoài dự kiến ban đầu của Kế hoạch Nava, nhưng các tướng lĩnh Pháp và Mỹ đã tăng cường lực lượng, xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh. Ở đây tập trung 16.200 quân gồm 21 tiểu đoàn trong đó có 17 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội xe tăng, 1 phi đội không quân, 1 đại đội vận tải cơ giới. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được bố trí thành 3 phân khu Bắc, Trung, Nam với 49 cứ điểm, huy động toàn bộ lính dù và 40% lực lượng cơ động tinh nhuệ nhất của Pháp ở Đông Dương; hai sân bay Mường Thanh và Hồng Cúm mỗi ngày có thể vận chuyển khoảng 200 đến 300 tấn hàng và thả dù từ 100 đến 150 quân, đảm bảo nguồn tiếp viện trong quá trình tác chiến. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ là tập đoàn cứ điểm phòng ngự mạnh nhất của Pháp ở Đông Dương lúc bấy giờ, như “một pháo đài không thể công phá”, là nơi thu hút để tiêu diệt bộ đội chủ lực của ta và là quyết chiến điểm của Kế hoạch Nava.

Ngày 6/12/1953, Bộ Chính trị họp và nhận định, đánh Điện Biên Phủ là một trận công kiên lớn nhất của quân đội ta từ trước tới nay và có ý nghĩa quân sự, chính trị và ngoại giao rất quan trọng. Trên tinh thần đó, Bộ Chính trị đã quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ, thông qua phương án tác chiến, thành lập Bộ Chỉ huy chiến dịch, Đảng uỷ mặt trận do Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng uỷ chiến dịch. Chính phủ quyết định thành lập Hội đồng cung cấp mặt trận do đồng chí Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch. Mọi công việc chuẩn bị cho chiến dịch được tiến hành khẩn trương với khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, các đơn vị bộ đội chủ lực nhanh chóng tập kết, bạt rừng, xẻ núi mở đường kéo pháo, xây dựng trận địa, sẵn sàng tiến công địch; dân công, thanh niên xung phong bất chấp bom đạn bảo đảm hậu cần phục vụ chiến dịch.

Ngày 25/1/1954, các đơn vị bộ đội ta ở vị trí tập kết sẵn sàng nổ súng theo phương châm tác chiến “đánh nhanh, giải quyết nhanh”. Nhưng nhận thấy địch đã tăng cường lực lượng phòng ngự vững chắc, Bộ Chỉ huy và Đảng uỷ chiến dịch đã đưa ra quyết định mới: giữ vững quyết tâm tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, thay đổi phương châm tác chiến sang “đánh chắc, tiến chắc”. Thực hiện phương châm mới, trận quyết chiến Điện Biên Phủ đã diễn ra trong 3 đợt:

Từ ngày 13 đến 17/3/1954, quân ta đã dũng cảm tiêu diệt gọn cứ điểm Him Lam và đồi Độc Lập, bức hàng cứ điểm Bản Kéo, phá vỡ cửa ngõ phía bắc của tập đoàn cứ điểm, diệt và bắt sống trên 2000 tên địch, phá hủy 25 máy bay, xóa sổ 1 trung đoàn, uy hiếp sân bay Mường Thanh.

17 giờ 30 phút ngày 7/5/1954, bộ đội Việt Nam chiếm sở chỉ huy trung tâm, tướng Đờ Caxtơri cùng toàn bộ Bộ Tham mưu và binh lính tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ kéo cờ trắng ra hàng (Ảnh tư liệu)

Từ ngày 30/3 đến ngày 30/4/1954, quân ta đồng loạt tiến công các cứ điểm phía đông phân khu trung tâm, thắt chặt vòng vây, chia cắt và liên tục tiến công, kiểm soát sân bay Mường Thanh, hạn chế tiếp viện của địch cho tập đoàn cứ điểm. Đây là đợt tấn công dai dẳng, dài ngày nhất, quyết liệt nhất, gay go nhất, ta và địch giành giật nhau từng tấc đất, từng đoạn giao thông hào. Đặc biệt tại đồi C1 ta và địch giằng co nhau tới 20 ngày, đồi A1 giằng co tới 30 ngày. Sau đợt tấn công thứ 2 khu trung tâm Điện Biên Phủ đã nằm trong tầm bắn các loại pháo của ta, quân địch rơi vào tình trạng bị động, mất tinh thần cao độ.

Từ ngày 1/5 đến ngày 7/5/1954, quân ta đánh chiếm các cứ điểm phía đông và mở đợt tổng công kích. Đêm ngày 6/5, tại đồi A1 trận chiến đấu giữa ta và địch diễn ra quyết liệt, quân ta xông lên tiêu diệt từng lô cốt, nổ phá từng hầm ngầm. Tên quan tư chỉ huy đồi A1 và khoảng 400 tên địch còn sống sót đã ra đầu hàng. 17 giờ 30 phút ngày 7/5, ta chiếm sở chỉ huy trung tâm, tướng Đờ Caxtơri cùng toàn bộ Bộ Tham mưu và binh lính tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ kéo cờ trắng ra hàng. Lá cờ “quyết chiến, quyết thắng” của quân đội ta tung bay trên nóc hầm chỉ huy của địch. Ngay trong đêm đó quân ta tiếp tục tiến công phân khu Nam, đánh địch tháo chạy về Thượng Lào, đến 24 giờ toàn bộ quân địch đã bị bắt làm tù binh.

Tướng Đờ Caxtơri cùng toàn bộ Bộ Tham mưu tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ (Ảnh Tư liệu)

Sau 55 ngày đêm chiến đấu dũng cảm, mưu trí, sáng tạo quân và dân ta đã đập tan toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, tiêu diệt và bắt sống 16.200 tên, bắn rơi 62 máy bay, thu 64 ô tô và toàn bộ vũ khí, đạn dược, quân trang, quân dụng của địch. Ngày 7/5/1954 trở thành ngày kỷ niệm kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, chiến thắng Điện Biên Phủ là một trong những đỉnh cao chói lọi, một kỳ tích vẻ vang. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là chiến thắng vĩ đại nhất, giáng đòn quyết định, tạo bước ngoặt làm thay đổi cục diện chiến tranh trực tiếp đưa đến việc ký kết Hiệp định Giơnevơ chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương.

Chiến thắng Điện Biên Phủ đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ; chấm dứt hoàn toàn ách xâm lược của thực dân Pháp trên bán đảo Đông Dương; bảo vệ và phát triển thành quả Cách mạng tháng Tám; giải phóng miền Bắc, tạo cơ sở vững chắc để tiến lên giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Chiến thắng Điện Biên Phủ đã củng cố niềm tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; cổ vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân chiến đấu dưới lá cờ vẻ vang của Đảng vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.

Chiến thắng Điện Biên Phủ mang tầm vóc thời đại, góp phần to lớn vào phong trào đấu tranh vì hoà bình, tiến bộ của nhân loại, đây là là chiến thắng chung của các nước trên bán đảo Đông Dương, của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, của phong trào đấu tranh vì hòa bình, tiến bộ xã hội trên toàn thế giới. Chứng minh một chân lý của thời đại: các dân tộc bị áp bức, bị xâm lược nếu có ý chí kiên cường và đường lối đúng đắn, sáng tạo, biết đoàn kết đấu tranh vì độc lập tự do thì dân tộc đó nhất định giành thắng lợi./.

Ban Tư liệu – Văn kiện (tổng hợp)

Giải Vở Bài Tập Lịch Sử 5 Bài 17: Chiến Thắng Lịch Sử Điện Biên Phủ

Giải sách bài tập Lịch sử lớp 5 tập 1

Giải Vở bài tập Lịch sử lớp 5 bài 17

Giải Vở bài tập Lịch sử lớp 5 bài 17: Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ có đáp án và hướng dẫn giải chi tiết cho từng bài tập trang 37, 38, 39, 40 VBT Lịch sử 5 cho các em học sinh tham khảo củng cố các kiến thức Lịch sử 5. Mời các em học sinh tham khảo chi tiết.

Hướng dẫn giải Vở bài tập Lịch sử lớp 5 bài 17

Câu 1 trang 37 Vở bài tập Lịch sử 5

Trong bài thơ Hoan hô chiến sĩ Điện Biên, nhà thơ Tố Hữu có viết:

“Năm mươi sáu ngày đêm

Khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt” …

Em hãy cho biết “năm mươi sáu ngày đêm” của chiến dịch Điện Biên Phủ được bắt đầu và kết thúc vào thời gian nào?

– Bắt đầu ngày … tháng … năm…

– Kết thúc ngày … tháng … năm….

Trả lời:

– Bắt đầu ngày 13 tháng 3 năm 1954

– Kết thúc ngày 7 tháng 5 năm 1954

Câu 2 trang 37 Vở bài tập Lịch sử 5

Dựa vào SGK và lược đồ chiến dịch Điện Biên Phủ, em hãy:

a) Tóm tắt diễn biến ba đợt tấn công của quân ta trong chiến dịch Điện Biên Phủ:

– Đợt 1:

– Đợt 2:

– Đợt 3:

b) Tô màu vào các mũi tên chỉ hướng tấn công của quân ta trong chiến dịch Điện Biên Phủ (dùng ba màu để phân biệt ba đợt tấn công).

Trả lời:

a)

– Đợt 1: Ngày 13-3-1954, quân ta nổ súng mở màn chiến dịch, lần lượt tiêu diệt các vị trí phòng ngự của địch ở phía Bắc sau 5 ngày đêm chiến đấu dũng cảm.

– Đợt 2: Ngày 30-3-1954, ta đồng loạt tấn công địch lần thứ hai, phần lớn các cứ điểm phía Đông thuộc quyền kiểm soát của ta.

– Đợt 3: Ngày 1-5-1954, ta mở đợt tấn công thứ ba, đánh chiếm các cứ điểm còn lại.

b)

Lược đồ chiến dịch Điện Biên Phủ

Quân Pháp nhảy dù xuống Điện Biên Phủ

– Mục đích nhảy dù của quân Pháp?

– Điều gì khiến cho mục đích của địch không thành?

Trả lời:

– Mục đích nhảy dù của quân Pháp:

+ Chiếm Điện Biên Phủ bằng một cuộc hành quân không vận.

+ Gây bất ngờ cho quân ta, do không có sự phòng bị nên sẽ thất bại.

– Mục đích của địch không thành do: sự chủ quan của quân Pháp.

Câu 4 trang 39 Vở bài tập Lịch sử 5

Em hãy viết đoạn văn ngắn về một tấm gương chiến đấu tiêu biểu trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ mà em biết.

Trả lời:

Tô Vĩnh Diện (1924 – 1953) là người huyện Nông Cống, Thanh Hóa. Vào bộ đội năm 1949, đến năm 1953. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, ông làm tiểu đội trưởng một đơn bị pháo cao xạ. Đường hành quân kéo pháo vô cùng hiểm trở, khó khăn, ông chỉ huy đưa pháo đến điểm tập kết an toàn. Lệnh trên lại kéo pháo ra. Đêm tối, dốc cao, dây kéo bị đứt, khẩu pháo lao quá nhanh, ông hô đồng đội “thà hi sinh, quyết bảo vệ pháo” và ông đã lấy thân mình chèn bánh xe, chặn khẩu pháo không rơi xuống vực. Tô Vĩnh Diện đại diện cho lớp chiến sĩ hi sinh quên mình trong chiến dịch Điện Biên Phủ để giành độc lập, tự do cho dân tộc.

Câu 5 trang 39 Vở bài tập Lịch sử 5

Trình bày ý nghĩa của chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ.

Trả lời:

Chiến thắng Điện Biên Phủ là mốc son chói lọi, góp phần kết thúc thắng lợi chín năm kháng chiến chống Pháp xâm lược (1945 – 1954).

Câu 6 trang 40 Vở bài tập Lịch sử 5

Sưu tầm và ghi lại một số câu thơ (hoặc lời bài hát) về chiến thắng Điện Biên Phủ.

Trả lời:

Bài thơ 1: “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên” – Tố Hữu

“Hoan hô chiến sĩ Điện Biên

Chiến sĩ anh hùng

Đầu nung lửa sắt

Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt

Máu trộn bùn non

Gan không núng

Chí không mòn!

Những đồng chí thân chôn làm giá súng

Đầu bịt lỗ châu mai

Băng mình qua núi thép gai

Ào ào vũ bão,

Những đồng chí chèn lưng cứu pháo

Nát thân, nhắm mắt, còn ôm…

Những bàn tay xẻ núi lăn bom.

Nhất định mở đường cho xe ta lên chiến trường tiếp viện”

Bài thơ 2: “Về với Điện Biên” – Thiên Ân

Ngày anh về với Điện Biên

Đôi chân ươm mộng trên triền núi cao

Bấy lâu mơ ước gặp nhau

Hẹn hò dốc đá ngày nào còn vương

Mường Thanh mây trắng ngập đường

Cánh đồng tỏa nắng soi gương đầu ngày

Hàng rào, dây kẽm, thép gai…

Điện Biên một thuở đạn bay, lửa hờn.

Kỷ Niệm 66 Năm Chiến Thắng Điện Biên Phủ: Đổi Thay Trên Mảnh Đất Lịch Sử Thanh Nưa

Nghĩa trang Liệt sỹ Độc Lập và Di tích Đồi Độc Lập ngày nay.

Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Đồi Độc Lập (hay còn gọi là Gabrielle) là cứ điểm nằm ở phía đông Bắc vùng lòng chảo huyện Điện Biên, với nhiệm vụ án ngữ phía đông Bắc, nhằm ngăn chặn đường tấn công của bộ đội ta từ Lai Châu xuống và bảo vệ sân bay Mường Thanh. Đây là một quả đồi riêng rẽ ở đầu Bắc cánh đồng, dài 500 mét, rộng 200 mét, không một bóng cây, dày đặc những trận địa, đường hào, ụ súng. Cơ quan tham mưu chiến dịch của Việt Nam đặt tên cho nó là Đồi Độc Lập, còn người Pháp gọi nó là “tàu phóng ngư lôi”.Tại đây, quân đội Pháp đã bố trí nhiều hỏa lực mạnh và tiểu đoàn lính tinh nhuệ đã từng chinh chiến, bất bại ở nhiều nơi trên thế giới.

Đúng 3 giờ 30 phút ngày 15/3/1954, trận tấn công Đồi Độc Lập của Quân đội nhân dân Việt Nam bắt đầu. Trận đánh kéo dài đến 6 giờ 30 phút sáng 15/3/1954 thì kết thúc, cờ Quyết chiến Quyết thắng đã được cắm trên đỉnh Đồi Độc Lập. Cả ngày 15/3/1954, quân Pháp tổ chức phản công tái chiếm Đồi Độc Lập nhưng đều bị đánh lui và tiếp tục chịu thiệt hại nặng nề.

Bia Di tích Đồi Độc Lập nằm trên đỉnh đồi.

Cùng với chiến thắng Him Lam, chiến thắng Đồi Độc Lập đã đẩy địch vào thế bị động, buộc địch ở bản Kéo phải ra hàng, phá tan các ổ đề kháng mạnh nhất của Phân khu Bắc, mở ra cục diện và thế trận mới có lợi cho ta; tạo khí thế và quyết tâm cho các đơn vị trên toàn mặt trận tiếp tục tiến công Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Sau giải phóng Điện Biên, nhân dân các bản quanh cứ điểm Độc Lập đoàn kết, hàn gắn vết thương chiến tranh, thi đua phát triển sản xuất. Với sự hỗ trợ của Nhà nước, các trường học, trạm y tế, công trình thủy lợi Nậm Rốm… dần được xây dựng phục vụ đời sống nhân dân. Hủ tục lạc hậu, tệ nạn xã hội bị bài trừ. Cuộc sống mới của nhân dân đã hồi sinh và từng bước cải thiện trên chính mảnh đất bị bom đạn cày xới năm xưa.

Là một người cao tuổi gắn bó với mảnh đất này, ông Nguyễn Ngọc Bá (thôn Độc Lập, xã Thanh Nưa) chia sẻ, trước đây cuộc sống của người dân ở Độc Lập nói riêng và Thanh Nưa nói chung còn rất nhiều khó khăn; đường giao thông chủ yếu là đường đất, nhà cửa của người dân cũng là tranh tre dột nát. Đến nay, nhờ thụ hưởng các chương trình, chính sách của Nhà nước, đặc biệt là chương trình xây dựng nông thôn mới, cuộc sống của người dân đã có sự thay đổi rõ rệt, nhà cửa xây dựng khang trang, đường sá thuận tiện, trẻ em được đến trường.

Nhiều người dân trong xã phát triển kinh tế hiệu quả từ vườn – ao – chuồng.

Theo ông Khiếu Đình Chất, thôn trưởng thôn Độc Lập, xã Thanh Nưa (huyện Điện Biên), thôn Độc Lập có gần 150 hộ, trong đó chỉ còn 4 hộ nghèo. Trong thôn, bà con không chỉ làm ruộng, làm nương mà đã có nhiều hộ phát triển mô hình kinh tế làm giàu hiệu quả từ vườn – ao – chuồng hay hoạt động kinh doanh buôn bán dọc Quốc lộ 12.

Đồi Độc Lập ngày nay đã phủ một màu xanh với những hàng cây hoa ban tươi tốt. Những ngày tháng Năm lịch sử, đứng trên đỉnh Đồi, phóng tầm mắt về phía xa có thể thấy cánh đồng lúa đang độ chín vàng, những nếp nhà ngói mới đỏ tươi. Dưới chân Đồi Độc Lập là Nghĩa trang liệt sỹ Độc Lập với hơn 2.400 ngôi mộ của những anh hùng, liệt sỹ đã hy sinh trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Bao quanh Đồi Độc Lập bây giờ là bản trên, mường dưới trù phú, ấm no. Những con đường bê tông vào từng thôn, bản đêm đêm rực rỡ ánh điện. Từ hệ thống trường học các cấp, trạm y tế, điểm bưu điện cho đến nhà dân đa phần đều đã được xây dựng khang trang, kiên cố. Đói nghèo và lạc hậu năm xưa đã bị đẩy lùi. Tại các thôn, bản văn hóa, nhiều hộ đang vươn lên làm giàu. Bãi chiến trường năm nào nay là cánh đồng lúa 2 – 3 vụ tươi tốt với những mùa vàng bội thu.

Trường học các cấp trong xã được xây dựng khang trang.

Theo bà Lò Thị Vân, Chủ tịch UBND xã Thanh Nưa (huyện Điện Biên), Thanh Nưa là xã biên giới có đường biên giáp với Lào. Hiện toàn xã Thanh Nưa có hơn 1.000 hộ với hơn 4.000 nhân khẩu, trong đó hộ nghèo còn hơn 8%; người lao động có việc làm đạt trên 95%. Tổng diện tích gieo trồng cây lương thực (lúa, ngô, khoai lang) của xã Thanh Nưa hơn 900 ha. Ngoài ra, người dân trong xã cũng đã trồng, phát triển cây công nghiệp (cao su) và cây ăn quả các loại mang lại hiệu quả kinh tế cao. Các mặt giao thông, thủy lợi, y tế, giáo dục đều thuận tiện.

Năm 2017, xã Thanh Nưa cơ bản đạt 19/19 tiêu chí theo quy định Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới. Hiện nay, kinh tế – xã hội của xã phát triển mạnh mẽ, kết cấu hạ tầng nông thôn được đầu tư tạo diện mạo mới. Đặc biệt, thu nhập bình quân đầu người trong xã từ 26 triệu đồng/người năm 2018 đã tăng lên gần 30 triệu đồng/người năm 2019. Xã đang xây dựng mô hình nông thôn mới kiểu mẫu nâng cao tại bản Mển và thôn Thanh Bình – Co Rốm. Bên cạnh đó, xã cũng đang xây dựng mô hình các nhóm liên kết sản xuất, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm; chuyển đổi cơ cấu sản xuất, ứng dụng tiến bộ khoa học sản xuất theo hướng hàng hóa, thực hiện mỗi xã một sản phẩm, tạo hướng đi trong phát triển kinh tế cho người dân…

Từ mảnh đất chịu nhiều vết thương chiến tranh, trải qua 66 năm, Thanh Nưa ngày nay đã chuyển mình mạnh mẽ với diện mạo mới. Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thanh Nưa vẫn đang không ngừng nỗ lực để xây dựng bản làng ngày càng no ấm, xứng đáng với những gì ông cha đã hy sinh để bảo vệ mảnh đất lịch sử này.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Di Tích Lịch Sử Chiến Trường Điện Biên Phủ (Bổ Sung 23 Điểm Di Tích) trên website Asianhubjobs.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!