Đề Xuất 1/2023 # Giải Nobel Y Học Năm 2022 # Top 5 Like | Asianhubjobs.com

Đề Xuất 1/2023 # Giải Nobel Y Học Năm 2022 # Top 5 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Giải Nobel Y Học Năm 2022 mới nhất trên website Asianhubjobs.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Hình cơ chế của sự tự thực bào

Ngày 03/10/2016, nhà Sinh học Yoshinori Ohsumi, thuộc Viện Kĩ thuật Tokyo (Tokyo Institute of Technology), đã thắng giải Nobel Y học cho nghiên cứu về cơ chế tự thực bào (autophagy) của tế bào, cơ chế giúp tế bào tái chế một phần vật chất của nó.

Các nhà khoa học đã bắt đầu nhận thức cơ chế tự thực bào từ những năm 1960 nhưng hiểu biết rất ít về nó. Đến năm 1990, thí nghiệm tiên phong của Ohsumi với nấm men của bánh mì đã giúp sáng tỏ hơn về cơ chế hoạt động của quá trình tự thực bào.

Vậy tự thực bào (autophagy) có nghĩa là gì?

Thuật ngữ “tự thực bào” (autophagy) có thể dịch ra là “tự ăn” (self eating), lần đầu tiên được đưa ra bởi các nhà khoa học nghiên cứu biểu hiện của tế bào trong những năm 1960 (nhà khoa học Laureate Christian de Duve, 1963).

Tại thời điểm đó, các nhà nghiên cứu thấy rằng một tế bào có thể phá hủy một phần của nó bằng cách vận chuyển vào một túi khác gọi là các lysosome để phân rã từ từ.

Nhưng Juleen Zierath thành viên của Hội đồng Nobel giải thích, Ohsumi cho thấy lysosome không phải là một túi chứa chất thải mà đó là một nhà máy tái chế. Trong những năm 1990, thí nghiệm của Ohsumi đã sử dụng nấm men bánh mì để xác định các gen cần thiết cho quá trình tự thực bào.

Quỹ Nobel đã đưa ra một tuyên bố “Sau đó, ông ấy đã làm sáng tỏ cơ chế cơ bản của quá trình tự thực bào trong nấm men và cho thấy sự tương đồng trong cơ chế tinh vi được sử dụng trong các tế bào”.

Theo CNN

Kiều Oanh

Nhịp Sinh Học Và Giải Nobel Y Học Năm 2022

*LTS: Tiến sĩ Benjamin L Smarr là một nhà thời sinh học trẻ đang làm việc tại Đại học California. Nếu bạn muốn biết giải Nobel Y học 2017 vừa được trao hồi đầu tuần cho nghiên cứu về đồng hồ sinh học có ý nghĩa thế nào với chúng ta, không ai khác ngoài Benjamin sẽ giải thích cho bạn hiểu. Đó chính là lĩnh vực khoa học mà anh đang nghiên cứu:

Thời đại của những chiếc đồng hồ sinh học đã bắt đầu.

Vài ngày trước (2/10), giải Nobel Y học năm 2017 đã được trao cho ba nhà khoa học – Jeffrey Hall, Michael Rosbash và Michael Young – ghi nhận công trình nghiên cứu của họ về chu kỳ sinh học hàng ngày trong cơ thể.

Nói một cách đơn giản, mục đích của lĩnh vực khoa học này là tập trung tìm hiểu cách thức vận hành của chiếc đồng hồ sinh học bên trong mỗi chúng ta.

Từng khoảnh khắc trong chu kỳ 24 giờ của chiếc đồng hồ này, chính là thứ quyết định khi nào bạn mệt mỏi cũng như cảm thấy đói. Nó cũng kiểm soát tất cả mọi thứ, từ hiện tượng jet lag khi đi máy bay đến thời điểm rụng trứng ở phụ nữ, khi nào bạn có nguy cơ gặp cơn đau tim và khoảng thời gian nào trong ngày chúng ta học tập hay làm việc hiệu suất nhất.

” Những khám phá của họ giải thích làm thế nào thực vật, động vật và con người thích ứng với nhịp điệu sinh học cũng như đồng bộ nó với chuyển động tự quay của Trái Đất“, hội đồng giải Nobel tuyên bố.

Giải Nobel Y học năm 2017 đã được trao cho ba nhà khoa học: Jeffrey Hall, Michael Rosbash và Michael Young ghi nhận sự phát hiện cơ chế phân tử kiểm soát nhịp sinh học

Là một nhà thời sinh học (chronobiologist – lĩnh vực nghiên cứu về chu kỳ sinh học của sinh vật), với tôi giải Nobel Y học năm nay là một lời tuyên bố cực kỳ thú vị.

Thường xuyên, tôi vẫn luôn phải cố gắng để giải thích cho người khác biết những gì mình đang làm, và lĩnh vực khoa học của tôi đang trên đà trỗi dậy như thế nào. Nhưng rồi mọi cố gắng ấy đều chỉ được đền đáp lại bằng một ánh mắt duy nhất, tựa như họ đang nghĩ ” Ok, anh ta bị điên rồi “.

Bạn biết đấy, các cụm từ như ” cấu trúc sinh học trong thời gian” và ” dao động mạng tế bào nội bộ” là thứ không dễ gì nói cho người khác hiểu được.

Nhịp sinh học là lời đáp lại của tiến hóa với chu trình tuần hoàn ngày-đêm trên Trái Đất.

Giống như bất cứ điều gì trong vũ trụ, cuộc sống của muôn loài lẽ ra cũng có thể bất ổn định. Vậy nên, nếu sự sống trên Trái Đất nên dựa dẫm vào một điều gì, thì thứ đáng tin cậy nhất chính là chu trình mọc rồi lặn của Mặt Trời mỗi ngày.

Có một quy luật thế này, nếu bạn đoán trước được những thay đổi sẽ diễn ra trong tương lai, bạn có thể chuẩn bị sẵn sàng để đối phó với nó. Vậy nên, ngay từ khi những hình thức cơ bản nhất của sự sống được hình thành, chúng đã có thể thích nghi để dự đoán trong mỗi chu trình 24 giờ, khi nào thì môi trường sống của mình sáng và nóng hơn, và khi nào thì trời tối lại và trở nên lạnh đi.

Đối với bạn, điều này là hiển nhiên. Đi làm vào sáng sớm trước khi mặt trời lên đỉnh sẽ giúp bạn ít bị cháy nắng hơn. Nhưng đối với một sinh vật đơn bào, đoán được điều này có ý nghĩa sống còn khi nó sẽ tránh được nguy cơ bị giết chết bởi nhiệt và tia UV.

Đối với thực vật, nắm được chu kỳ ngày đêm sẽ giúp quang hợp hiệu quả hơn. Và đối với các loài thú, đó là cách chúng đoán khi nào là lúc kẻ thù hoặc con mồi của mình xuất hiện.

Tua nhanh qua vài thiên niên kỷ, cơ thể của chúng ta cũng mang trong mình những chiếc đồng hồ được di truyền gửi vào từng tế bào. Nhưng một trong những thách thức với sinh vật đa bào to lớn như chúng ta, đó là phải đảm bảo tất cả những chiếc đồng hồ này chạy đồng bộ.

Sự phối hợp này cho phép tuyến yên của phụ nữ và buồng trứng kết hợp được với nhau khi kích thích rụng trứng; tuyến tụy, ruột, và vùng dưới đồi kết nối khi tạo ra phản ứng đói giúp chúng ta sẵn sàng tiêu hóa; giấc ngủ được đặt giờ khi cơ của chúng ta sẵn sàng giảm nhiệt độ cho phép mọi thứ hồi phục, cũng như khi bộ não của chúng ta được giải phóng nhiều dung lượng nhất để bảo trì hoặc hình thành ký ức.

Nếu sự sống trên Trái Đất nên dựa dẫm vào một điều gì, thì thứ đáng tin cậy nhất chính là chu trình mọc rồi lặn của Mặt Trời mỗi ngày.

Vâng, đó là những thứ mà tự nhiên đã sắp đặt, dẫu vẫn còn rất lộn xộn. Vậy mà trong thế kỷ 21, chúng ta lại còn làm rối tung sự phối hợp nội bộ của cơ thể ấy, với những thứ như đèn điện, ánh sáng nhân tạo từ màn hình điện thoại, đồ ăn nhanh vào lúc 2 giờ sáng, làm việc ca kíp và lịch học quá sớm của các trường đại học.

Những lịch làm việc cứng kiểu này khiến mọi dòng chảy tự nhiên trong cơ thể chúng ta đảo lộn. Lẽ ra chúng ta phải ngủ và ăn uống theo vị trị của Mặt Trời ở trên bầu trời, nhưng làm việc theo lịch trình của thế giới hiện đại không đồng bộ với đó sẽ tàn phá cơ thể của chúng ta.

Sự gián đoạn đồng hồ sinh học có thể là nguyên nhân gây ra đại dịch béo phì ở Mỹ, tỷ lệ ung thư tăng cao, chứng tự kỷ, bệnh Alzheimer và các chứng mất trí nhớ khác. Và bởi vì mỗi một phần dù nhỏ trong cơ thể chúng ta đã được nhúng vào nhịp sinh học bẩm sinh trong mục đích đồng bộ hóa tất cả những chiếc đồng hồ, gián đoạn nhịp sinh học khiến mọi thứ trong cơ thể của chúng ta đều dễ dàng bị ảnh hưởng.

Dưới sự kiểm soát của nhịp sinh học

Để giúp bạn hiểu thêm về ý nghĩa của giải Nobel Y học 2017 và những gì mà nhịp sinh học ảnh hưởng đến cuộc sống của chúng ta ngày nay, đây là một danh sách những gì được đặt dưới sự kiểm soát của nhịp sinh học:

Jet lag: Khi nhịp thời gian ngày-đêm của bạn đột ngột có sự thay đổi lớn vì hành trình dài trên máy bay, một số cơ quan trong cơ thể sẽ bắt nhịp với thay đổi nhanh hơn những cơ quan khác. Sẽ mất một khoảng thời gian để tự cơ thể bạn căn chỉnh lại. Lúc đó, đồng hồ sinh học của từng cơ quan khác nhau sẽ chạy ở các tốc độ khác nhau. Kết quả là, cơ thể không làm việc hiệu quả, bạn sẽ thấy mệt mỏi và bị suy nhược nhẹ.

Khả năng sinh sản: Khả năng tình dục của bạn có nhịp sinh học, và các kích thích tố giới tính của bạn cũng có. Ví dụ, trứng của phụ nữ rụng vào buổi sáng bởi nó được nhịp sinh học kiểm soát. Tôi được kể rằng một tài liệu lần đầu tiên ghi nhận khi thụ tinh ống nghiệm IVF được phát minh ra ở Pháp, các nhà khoa học thấy phụ nữ bay từ Hoa Kỳ tới có tỷ lệ IVF thành công thấp hơn. Hóa ra, jetlag đã làm rối tung chu trình rụng trứng của họ! Nhân tiện, làm ca kíp cũng có thể khiến điều này xảy ra.

Khả năng tập trung của tâm trí: Vào một thời điểm nào đó trong ngày, bạn sẽ có khả năng học tập tốt nhất. Khoảng thời gian này kéo dài vài tiếng nhưng thời điểm bắt đầu là đặc trưng ở mỗi người. Sự hình thành của các tế bào não mới, những khớp thần kinh mới, giấc ngủ, và sự chú ý đều được điều phối theo thời gian trong ngày. Do đó, giữ một thói quen sinh hoạt điều độ là cách giữ não bộ bạn sắc bén.

Một thực tế thú vị: Thời điểm bạn học một thứ gì đó, chẳng hạn 9 giờ sáng, nó sẽ được dán một tem thời gian. Và bạn cũng sẽ nhớ lại tốt nhất điều bạn đã học vào đúng thời điểm đó, 9 giờ sáng chẳng hạn. Vì vậy, tốt nhất bạn nên xếp thời gian học tập cố định trong ngày.

Dinh dưỡng: Nhịp sinh học không chỉ kiểm soát khi nào bạn thấy buồn ngủ, mà nó còn ấn định thời gian bạn thấy đói. Giống như cơ thể bạn hấp thụ thông tin khác nhau ở những thời điểm khác nhau trong ngày, điều tương tự cũng đúng với thức ăn. Ví dụ, vào ban đêm, thực phẩm dễ được dự trự thành chất béo hơn so với trong ngày.

Cơn đau tim: Trái tim của bạn có thể đối phó với mọi điều căng thẳng trong ngày. Nhưng sau tất cả, nó sẽ được hồi phục vào ban đêm. Khi cơ thể bạn bị sốc lên vào buổi sáng, trái tim bạn vẫn còn đang lạnh và trong trạng thái nghỉ ngơi. Cũng chính vì vậy mà hầu hết các cơn đau tim sẽ xảy ra vào buổi sáng sớm.

Hãy ra ngoài trời sáng và ngủ trong không gian tối và yên tĩnh ban đêm để giữ cho nhịp sinh học của bạn ổn định. Đó là một bí quyết trường thọ.

Giải Nobel Y Học : Từ 1901 Đến Nay

Năm

Tên nhà khoa học

Quốc tịch

Công trình

2019

William G. Kaelin Jr

Sir Peter J. Ratcliffe

Gregg L. Semenza 

Mỹ

Anh

Mỹ

Khám phá ra cách tế bào cảm nhận và thích nghi với sự thay đổi nồng độ oxy.

2018

James P. Allison

Tasuku Honjo

Mỹ

Nhật Bản

Phát triển liệu pháp miễn dịch chống ung thư bằng cách ức chế điều hòa miễn dịch âm tính (thuốc ipilimumab).

2017

Jeffrey C. Hall Michael Rosbash Michael W. Young

Mỹ

Mỹ

Mỹ

Khám phá cơ chế phân tử kiểm soát nhịp sinh học ngày – đêm.

2016

Yoshinori Ohsumi

Nhật

Khám phá cơ chế tự thực bào (autophage) – là cơ chế các tế bào tự loại bỏ các thành phần đã lão hóa hoặc hư hại của mình để tái sử dụng nguyên liệu thu được hoặc/và để tạo các thành phần mới thay thế (ví dụ các bào quan).

2015

William C. Campbell

Satoshi Ōmura

Mỹ, Ireland

Nhật Bản

Khám phá thuốc điều trị các loại giun tròn ký sinh. Ví dụ thuốc avermectin.

Tu Youyou

Trung Quốc

Khám phá thuốc điều trị sốt rét (artemisinin, dihydroartemisinin).

2014

John O’Keefe

May-Britt Moser

Edvard Moser

Anh, Mỹ

Na Uy

Na Uy

Khám phá các tế bào thiết lập hệ thống định vị trong não.

2013

James E. Rothman

Randy Schekman

Thomas C. Südhof

Mỹ

Mỹ

Mỹ

Khám phá cơ chế điều hòa vận chuyển các túi tiết – là hệ thống vận chuyển chính bên trong tế bào.

2012

John B. Gurdon

Shinya Yamanaka

Anh

Nhật

Khám phá các tế bào trưởng thành có thể được tái lập trình thành các tế bào gốc vạn năng.

2011

Ralph M. Steinman

Canada

Khám phá vai trò của tế bào tua trong miễn dịch tự nhiên thu được.

Bruce A. Beutler

Jules A. Hoffmann

Mỹ

Luxembourg, Pháp

Khám phá về sự hoạt hóa hệ miễn dịch tự nhiên.

2010

Robert Edwards

Anh

Phát triển phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm (IVF).

2009

Elizabeth H. Blackburn

Carol W. Greider

Jack W. Szostak

Mỹ, Australia

Mỹ

Anh, Canada, Mỹ

Khám phá telomere (trình tự lập lại ở đầu mút nhiễm sắc thể) và cơ chế bảo vệ nhiễm sắc thể của enzyme telomerase.

2008

Harald zur Hausen

Đức

Khám phá Human papilloma virus (HPV) gây ung thư cổ tử cung ở người.

Françoise Barré-Sinoussi

Luc Montagnier

Pháp

Pháp

Khám phá virus gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV).

2007

Mario R. Capecchi

Sir Martin Evans

Oliver Smithies

Mỹ, Italia

Anh

Anh, Mỹ

Khám phá các nguyên lý chuyển gene vào chuột bằng cách sử dụng tế bào gốc phôi.

2006

Andrew Fire

Craig Mello

Mỹ

Mỹ

Khám phá kỹ thuật can thiệp vào RNA, để khóa hoạt động của gene ở mức độ RNA.

2005

Barry Marshall

J. Robin Warren

Australia

Australia

Khám phá vi khuẩn Helicobacter pylori gây viêm loét dạ dày.

2004

Richard Axel

Linda B. Buck

Mỹ

Mỹ

Khám phá các receptor tiếp nhận mùi và tổ chức của hệ thống khứu giác.

2003

Paul Lauterbur

Sir Peter Mansfield

Mỹ

Anh

Khám phá kỹ thuật hình ảnh chụp cộng hường từ (MRI).

2002

Sydney Brenner

H. Robert Horvitz

John E. Sulston

Anh

Mỹ

Anh

Khám phá cơ chế di truyền điều hòa sự phát triển của các cơ quan trong cơ thể và hiện tượng tế bào chết theo lập trình (apoptosis).

2001

Leland H. Hartwell

Tim Hunt

Sir Paul Nurse

Mỹ

Anh

Anh

Khám phá ra các phân tử quan trọng điều hòa chu trình tế bào.

2000

Arvid Carlsson

Paul Greengard

Eric Kandel

Thụy Điển

Mỹ

Áo, Mỹ

Khám phá cơ chế dẫn truyền tín hiệu trong hệ thần kinh (thông qua synap).

1999

Günter Blobel

Mỹ, Đức

Khám phá các phân tử protein chứa một hoặc nhiều trình tự tín hiệu trong cấu trúc của chúng. Các trình tự tín hiệu này giúp định hướng protein đến đúng vị trí của chúng để có thể thự hiện được đúng chức năng.

1998

Robert F. Furchgott

Louis Ignarro

Ferid Murad

Mỹ

Mỹ

Mỹ

Khám phá khí NO (nitric oxide) do tế bào nội mô mạch máu tổng hợp có vai trò như một phân tử tín hiệu giúp điều hòa hệ tim mạch.

1997

Stanley B. Prusiner

Mỹ

Khám phá prion – một phân tử protein có khả năng gây bệnh.

1996

Peter C. Doherty

Rolf M. Zinkernagel

Úc

Thụy Sĩ

Khám phá cơ chế miễn dịch qua trung gian tế bào (Lympho T).

1995

Edward B. Lewis

Christiane Nüsslein-Volhard

Eric F. Wieschaus

Mỹ

Đức

Mỹ

Khám phá cơ chế kiểm soát quá trình biệt hóa tế bào trong giai đoạn phát triển sớm của phôi.

1994

Richard J. Roberts

Phillip A. Sharp

Mỹ

Mỹ

Khám quá protein G (protein liên kết với GTP) và vai trò của protein này trong cơ chế truyền tin nội bào.

1993

Richard J. Roberts

Phillip A. Sharp

Anh

Mỹ

Khám phá cơ chế RNA loại bỏ các trình tự intron ra và kết hợp các trình tự exon lại với nhau để dịch mã thành protein.

1992

Edmond H. Fischer

Edwin G. Krebs

Thụy Sĩ, Mỹ

Mỹ

Khám phá quá trình gắn hoặc loại nhóm phosphate cũng là một cơ chế điều hòa sinh học.

1991

Erwin Neher

Bert Sakmann

Đức

Đức

Khám phá cơ chế vận chuyển các ion ra/vào tế bào thông qua các kênh ion trên màng tế bào.

1990

Joseph E. Murray

E. Donnall Thomas

Mỹ

Mỹ

Khám phá phương pháp giúp chống thải loại mảnh ghép khi cấy ghép tế bào (ghép tủy) và cấy ghép cơ quan (ghép thận…).

1989

J. Michael Bishop

 Harold E. Varmus

Mỹ

Mỹ

Khám phá nguồn gốc của các gene sinh ung thư (oncogene) của virus là từ tế bào vật chủ.

1988

Sir James W. Black

Gertrude B. Elion

George H. Hitchings

Scotland, Anh

Mỹ

Mỹ

Khám phá nhiều loại thuốc mới cũng như cơ chế của chúng trong điều trị bệnh.

1987

Susumu Tonegawa

Nhật

Khám phá cơ chế di truyền giúp tạo ra sự đa dạng kháng thể.

1986

Stanley Cohen

Rita Levi-Montalcini 

Mỹ

Ý, Mỹ

Khám phá các yếu tố tăng trưởng (yếu tố tăng trưởng thần kinh, yếu tố tăng trưởng biểu bì).

1985

Michael S. Brown

Joseph L. Goldstein

Mỹ

Mỹ

Khám phá quá trình điều hòa chuyển hóa cholesterol.

1984

Niels K. Jerne

Georges J.F Köhler 

César Milstein

Đan Mạch

Đức

Argentina, Anh

Khám phá cơ chế tế bào lympho T được huấn luyện tại tuyến ức để nhận diện các thành phần của bản thân (tránh phản ứng tự miễn). Khám phá nguyên lý giúp sản xuất kháng thể đơn dòng.

1983

Barbara McClintock

Mỹ

Khám phá các gene nhảy hay còn gọi là các yếu tố di truyền di động (giải thích hiện tượng nhiều màu hạt trên cùng một quả bắp…).

1982

Sune K. Bergström

Bengt I. Samuelsson

John R. Vane

Thụy Điển

Thụy Điển

Anh

1981

Roger W. Sperry

Mỹ

Khám phá sự chuyên hóa về chức năng của các bán cầu đại não: Bán cầu não trái chuyên về khả năng ngôn ngữ, toán học, tư duy phản biện; Và bán cầu não phải chuyên về nhận thức không gian, nhận thức các âm thanh phức tạp (ví dụ âm nhạc).

David H. Hubel

Torsten N. Wiesel

Mỹ

Thụy Điển

Khám phá quá trình xử lý hình ảnh của hệ thống thị giác, đặc biệt là hoạt động của các neuron tại vùng vỏ não thị giác sơ cấp khi có kích thích ánh sáng.

1980

Baruj Benacerraf

Jean Dausset

George D. Snell 

Veneuzela, Mỹ

Pháp

Mỹ

Khám phá các gene mã hóa cho các protein trên bề mặt màng tế bào giúp hệ miễn dịch nhận diện các tác nhân lạ, các gene này được gọi là phức hợp tương hợp mô chính (MHC). Khi cấy ghép cơ quan hoặc cấy ghép tế bào, để tránh thải loại miễn dịch, yêu cầu người cho và người nhận phải có sự tương hợp MHC (ở người gọi là HLA) ở mức độ nhất định.

1979

Allan M. Cormack

Godfrey N. Hounsfield

Nam Phi, Mỹ

Anh

Khám phá phương pháp chụp cắt lớp vi tính (chụp CT).

1978

Werner Arber

Daniel Nathans

Hamilton O. Smith 

Thụy Sĩ

Mỹ

Mỹ

Khám phá enzyme cắt giới hạn và ứng dụng của chúng trong sinh học phân tử như: công nghệ tái tổ hợp gene, giải trình tự gene…

1977

Roger Guillemin 

Andrew V. Schally

Pháp, Mỹ

Ba Lan, Mỹ

Khám phá các hormone peptide ở não. Ví dụ hormone được sản xuất tại vùng dưới đồi (TRH, GnRH).

Rosalyn Yalow

Mỹ

Phát triển phương pháp phân tích miễn dịch đánh dấu bằng phóng xạ – RIA (tiền thân của phương pháp ELISA) giúp xác định sự hiện diện cũng như nồng độ của các phân tử sinh học. Ví dụ: Xác định kháng nguyên của tác nhân gây bệnh, định lượng hormone, kháng thể…

1976

Baruch S. Blumberg

Mỹ

Khám phá ra một loại virus gây viêm gan (HBV), phát triển phương pháp xét nghiệm HBV và vaccine HBV.

D. Carleton Gajdusek

Mỹ

Đóng góp trong nghiên cứu bệnh Kuru, một bệnh do tác nhân là prion gây ra.

1975

David Baltimore 

Renato Dulbecco

Howard Martin Temin

Mỹ

Ý, Mỹ

Mỹ

Khám phá các virus sinh ung thư có thể chèn vật liệu di truyền của chúng vào bộ gene của vật chủ.

1974

Albert Claude

Christian de Duve

George E. Palade

Bỉ

Bỉ

Mỹ

Sử dụng phương pháp ly tâm và kính hiển vi điện tử để nguyên cứu cấu trúc và chức năng của các bào quan trong tế bào.

1973

Karl von Frisch

Konrad Lorenz

Nikolaas Tinbergen

Đức

Áo

Hà Lan, Anh

1972

Gerald M. Edelman

Rodney R. Porter 

Mỹ

Anh

Khám phá cấu trúc điển hình của kháng thể: Gồm 4 chuỗi polypeptide trong đó có 2 chuỗi nặng và 2 chuỗi nhẹ kết hợp thành cấu trúc hình chữ Y.

1971

Earl W. Sutherland

Mỹ

1970

Sir Bernard Katz

Ulf von Euler

Julius Axelrod

Đức, Mỹ

Thụy Điển

Mỹ

Khám phá cơ chế dẫn truyền qua synap. Thông qua các chất trung gian hóa học được dự trữ và giải phóng từ màng trước synapse, khuyếch tán qua khe synapse đến gắn vào receptor tại màng sau synapse.

1969

Max Delbrück

Alfred D. Hershey

Salvador E. Luria

Mỹ

Mỹ

Ý, Mỹ

1968

Robert W. Holley

Har Gobind Khorana

Marshall W. Nirenberg

Mỹ

Ấn Độ, Mỹ

Mỹ

Giải mã mã di truyền (64 codon) và chức năng của nó trong việc tổng hợp protein (trừ 3 codon kết thúc, các codon còn lại sẽ mã hóa cho các amino acid tương ứng).

1967

Ragnar Granit

Haldan Keffer Hartline

George Wald

Thụy Điển

Mỹ

Mỹ

– Khám phá 3 loại tế bào nón nhạy cảm với 3 bước sóng khác nhau.

– Khám phá các tế bào nhận cảm ánh sáng trong võng mạc phối hợp với nhau, để khi một tế bào bị kích thích thì các tế bào lân cận sẽ bị ức chế, điều này giúp tăng khả năng tiếp nhận hình ảnh.

– Khám phá vitamin A là một thành phần quan trọng của rhodopsin – một chất nhạy cảm với ánh sáng nằm ở tế bào que trong võng mạc.

1966

Peyton Rous

Mỹ

Khám phá virus cảm ứng sinh khối u.

Charles Brenton Huggins

Canada, Mỹ

1965

François Jacob

André Lwoff 

Jacques Monod

Pháp

Pháp

Pháp

– Khám phá cơ chế gene tự điều hòa việc biểu hiện để phù hợp với môi trường.

– Khám phá một số virus chèn vật liệu di truyền vào tế bào chủ và vật liệu di truyền này sẽ nhân lên cùng với quá trình phân chia của tế bào chủ, và sẽ tạo thành virus khi có tác nhân kích thích.

1964

Konrad Bloch

Feodor Lynen

Đức, Mỹ

Mỹ

– Khám phá các bước hình thành cholesterol từ acetic acid.

1963

Sir John Carew Eccles

Alan Lloyd Hodgkin

Andrew Fielding Huxley

Úc

Anh

Anh

– Khám phá synap ức chế và synap kích thích.

– Khám phá điện thế hoạt động của tế bào được hình thành do sự di chuyển ion kali và ion natri qua kênh ion trên màng tế bào.

1962

Francis Crick

James Watson

Maurice Wilkins

Anh

Mỹ

New Zealand, Mỹ

Khám phá cấu trúc phân tử deoxyribonucleic acid (DNA): Gồm 2 chuỗi polypeptide (đơn phân là các nucleotide A, T, G, C), trong đó các nucleotide ở 2 chuỗi bắt cặp tương ứng với nhau (A-T, G-C) tạo thành chuỗi xoắn kép.

1961

Georg von Békésy

Hungary, Mỹ

Khám phá chức năng của ốc tai trong việc tiếp nhận kích thích âm thanh. Tế bào có lông tại màng nền trong ốc tai có mức độ chuyển động khác nhau phụ thuộc vào tần số của sóng âm. Các tế bào này sẽ tiếp nhận kích thích từ sóng âm và truyền theo dây thần kinh thính giác về não bộ.

1960

Macfarlane Burnet

Peter Brian Medawar

Úc

Anh

Khám phá sự dung nạp miễn dịch đạt được trong quá trình phát triển (hiện tượng không đáp ứng của hệ miễn dịch với các phân tử nhất định). Đặc biệt là quá trình dung nạp miễn dịch đạt được ở giai đoạn bào thai.

1959

Severo Ochoa

Arthur Kornberg

Tây Ban Nha, Mỹ

Mỹ

Khám phá enzyme DNA polymerase và quá trình sinh tổng hợp DNA và RNA.

1958

George Wells Beadle

Edward Lawrie Tatum

Joshua Lederberg

Mỹ

Mỹ

Mỹ

– Khám phá gene thực hiện chức năng thông qua việc điều chỉnh các quá trình sinh hóa trong tế bào. Đưa ra giả thuyết “một gene – một enzyme”.

– Khám phá hiện tượng giao nạp (tiếp hợp) thông qua cầu nối tế bào chất của hai tế bào và tải nạp nhờ virus.

1957

Daniel Bovet

Thụy Sĩ, Ý

Khám phá các thuốc antihistamine, có tác dụng block histamin – một chất quan trọng gây nên các triệu chứng của dị ứng.

1956

André Frédéric Cournand

Werner Forssmann 

Dickinson W. Richards

Mỹ

Đức

Mỹ

Khám phá phương pháp đặt catheter vào tim (đặt một ống thông vào buồng tim theo đường tĩnh mạch) để nghiên cứu sinh lý và bệnh lý của hệ tuần hoàn.

1955

Hugo Theodor Theorell

Thụy Điển

1954

John Franklin Enders

Thomas Huckle Weller

Frederick C. Robbins

Mỹ

Mỹ

Mỹ

Khám phá phương pháp nuôi cấy virus gây bại liệt trên nhiều loại mô khác nhau, đặc biệt là mô cơ. Giúp tạo lượng lớn virus bại liệt để sản xuất vaccine bại liệt.

1953

Hans Adolf Krebs

Anh

Khám phá chu trình citric acid (chu trình Krebs).

Fritz Albert Lipmann

Mỹ

Khám phá co-enzyme A và tầm quan trọng của nó – là một chất trung gian của nhiều con đường chuyển hóa vật chất trong tế bào.

1952

Selman A.Waksman

Mỹ

Khám phá streptomycin, kháng sinh đầu tiên điều trị lao hiệu quả.

1951

Max Theiler

Nam Phi

1950

Edward Calvin Kendall

Tadeus Reichstein

Philip Showalter Hench

Mỹ

Thụy Sỹ

Mỹ

1949

Walter Rudolf Hess

Thụy Sỹ

Khám phá các vùng và chức năng của não trung gian, đặc biệt là chức năng của vùng dưới đồi.

Antonio Egas Moniz

Bồ Đào Nha

Phát triển phương pháp phẫu thuật thùy não (lobotomy) để điều trị các rối loạn tâm thần. Do tác dụng phụ quá lớn, đến những năm 1970 một số bang của Mỹ đã cấm thực hiện phương pháp này và ngày nay lobotomy gần như không còn được thực hiện.

1948

Paul Hermann Müller 

Thụy Sĩ

Khám phá DDT (Dichloro-Diphenyl-Trichloroethane) có hiệu quả cao trong việc diệt côn trùng truyền bệnh như chấy, rận, muỗi. Do gây ra nhiều rủi ro cho sức khỏe, ngày nay DDT đã bị cấm sử dụng ở nhiều quốc gia.

1947

Carl Ferdinand Cori

Gerty Cori

Bernardo Houssay

Áo, Mỹ

Áo, Mỹ

Argentina

– Khám phá chu trình Cori và quá trình chuyển hóa glycogen.

– Khám phá vai trò của hormone thùy trước tuyến yên đối với sự chuyển hóa đường.

1946

Hermann Joseph Muller

Mỹ

Khám phá cách tạo ra đột biến bằng phương pháp chiếu xạ (tia X).

1945

Sir Alexander Fleming

Ernst Boris Chain

Sir Howard Walter Florey

Anh

Anh

Úc

Khám phá kháng sinh pennicilin và tác dụng chữa trị các bệnh nhiễm trùng của nó.

1944

Joseph Erlanger

Herbert Spencer Gasser

Mỹ

Mỹ

– Khám phá các dạng khác nhau của tế bào thần kinh (neuron).

– Khám phá rằng ngưỡng kích thích và tốc độ dẫn truyền điện thế hoạt động trên các loại neuron khác nhau thì khác nhau. (Vận tốc dẫn truyền điện thế hoạt động trên sợi trục của tế bào thần kinh tỉ lệ với đường kính sợi trục.)

1943

Henrik Carl Peter Dam

Đan Mạch

Phát hiện ra vitamin K và vai trò của nó trong việc giúp đông máu.

Edward Adelbert Doisy

Mỹ

Tinh chế và khám phá bản chất hóa học của vitamin K.

1942

KHÔNG TRAO GIẢI

1941

KHÔNG TRAO GIẢI

1940

KHÔNG TRAO GIẢI

1939

Gerhard Domagk 

Đức

Khám phá ra tác dụng kháng khuẩn của Prontosil (sulfonamides).

1938

Corneille Heymans 

Bỉ

Khám phá các thụ thể hóa học ở động mạch cảnh tham gia điều hòa hô hấp.

1937

Albert Szent-Györgyi

Hungary

– Khám phá vitamin C.

– Nghiên cứu về hô hấp tế bào, vai trò của fumaric acid trong chu trình Krebs.

1936

Henry Hallett Dale 

Otto Loewi

Anh

Đức, Áo, Mỹ

Khám phá acetycholine – là một chất dẫn truyền thần kinh.

1935

Hans Spemann

Đức

1934

George Hoyt Whipple

George Richards Minot

William Parry Murphy 

Mỹ

Mỹ

Mỹ

Khám phá việc ăn gan động vật (gan chứa nhiều vitamin B12) có thể tăng số lượng hồng cầu, giúp điều trị thiếu máu (do thiếu vitamin B12).

1933

Thomas Hunt Morgan

Mỹ

– Khám phá vai trò của nhiễm sắc thể trong di truyền (gene chứa trong nhiễm sắc thể nằm trong nhân tế bào).

– Khám phá hiện tượng trao đổi chéo giữa hai nhiễm sắc thể.

1932

Charles Scott Sherrington

Edgar Douglas Adrian

Anh

Anh

Khám phá chức năng của tế bào thần kinh (neuron).

1931

Otto Heinrich Warburg 

Đức

Nghiên cứu bản chất và cơ chế tác động của hemoglobin (một enzyme hô hấp).  

1930

Karl Landsteiner

Áo

Khám phá hệ nhóm máu ABO và cơ chế truyền máu.

1929

Frederick G. Hopkins

Anh

Khám phá vitamin – một loại chất với lượng nhỏ nhưng cần thiết cho sự phát triển bình thường của cơ thể.

Christiaan Eijkman

Hà Lan

Khám phá một loại chất có trong vỏ trấu giúp điều trị bệnh Beriberi, chất này được gọi là vitamin (vitamin B1).

1928

Charles Nicolle

Pháp

1927

Julius Wagner-Jauregg

Áo

Khám phá việc gây sốt (ví dụ gây sốt bằng cách gây nhiễm chủng ký sinh trùng sốt rét lành tính) để điều trị bại liệt (general paralysis).

1926

Johannes Fibiger 

Đan Mạch

Khám phá một loại giun tròn ký sinh ở chuột là Spiroptera carcinoma cảm ứng sinh ung thư dạ dày ở chuột (sau này các nhà khoa học xác nhận lại Spiroptera carcinoma không phải là tác nhân sinh ung thư).

1925

KHÔNG TRAO GIẢI

1924

Willem Einthoven

Hà Lan

Khám phá cơ chế ghi điện tim (ECG).

1923

Frederick G. Banting

John Macleod

Canada

Anh

Khám phá ra cách thu nhận insulin từ tuyến tụy và ứng dụng insulin trong điều trị bệnh tiểu đường.

1922

Archibald Vivian Hill

Anh

Otto Fritz Meyerhof 

Đức

Khám phá mối liên hệ giữa việc tiêu thụ oxygen và chuyển hóa acid lactic tại mô cơ.

1921

KHÔNG TRAO GIẢI

1920

August Krogh

Đan Mạch

Khám phá cơ chế điều hòa lượng máu đến mao mạch của mô (bằng cách đóng hoặc mở các cơ thắt tiền mao mạch).

1919

Jules Bordet

Bỉ

1918

KHÔNG TRAO GIẢI

1917

KHÔNG TRAO GIẢI

1916

KHÔNG TRAO GIẢI

1915

KHÔNG TRAO GIẢI

1914

Robert Bárány

Áo-Hung

Nghiên cứu sinh lý và bệnh lý của hệ tiền đình.

1913

Charles Robert Richet

Pháp

Nghiên cứu về phản vệ và dị ứng.

1912

Alexis Carrel

Pháp

Nghiên cứu về nối mạch máu và ghép cơ quan.

1911

Allvar Gullstrand

Thụy Điển

Nghiên cứu cơ chế mắt thu nhận hình ảnh của vật.

1910

Albrecht Kossel

Đức

1909

Emil Theodor Kocher

Thụy Sĩ

Nghiên cứu về sinh lý, bệnh lý và phẫu thuật tuyến giáp.

1908

Ilya Ilyich Mechnikov

Paul Ehrlich

Nga

Đức

– Khám phá khả năng thực bào của các tế bào miễn dịch. Ví dụ: đại thực bào, neutrophil.

– Khám phá phương pháp kháng huyết thanh để điều trị bệnh bạch hầu.

1907

Charles Laveran

Pháp

Khám phá bệnh sốt rét do một loại ký sinh trùng đơn bào gây ra (Plasmodium).

1906

Camillo Golgi

Santiago Ramón y Cajal

Ý

Tây Ban Nha

Phát triển phương pháp nhuộm tế bào thần kinh bằng bạc nitrate, góp phần nghiên cứu cấu trúc của hệ thần kinh.

1905

Robert Koch

Đức

Các công trình nghiên cứu về bệnh lao.

1904

Ivan Petrovich Pavlov

Nga

Các công trình nghiên cứu về sinh lý hệ tiêu hóa.

1903

Niels Ryberg Finsen

Đan Mạch

Khám phá phương pháp sử dụng ánh sáng cực tím (UV) để tiêu diệt vi khuẩn, ứng dụng điều trị bệnh lao da (Lupus vulgaris).

1902

Ronald Ross 

Anh

Các nghiên cứu về bệnh sốt rét.

1901

Emil Adolf von Behring

Đức

Khám phá phương pháp điều trị bằng huyết thanh, đặc biệt là cách sử dụng huyết thanh ngựa chứa kháng thể kháng bạch hầu để chữa bệnh bạch hầ

Giải Nobel Y Sinh Học Năm 2022: Hành Trình Về Bệnh Do Ký Sinh Trùng

Những ai từng theo dõi những nỗ lực của giáo sư Fred Hollow (người Úc) có lẽ sẽ chú ý đến bệnh có tên hơi lạ là bệnh “mù sông”, mà thuật ngữ y khoa tiếng Anh gọi là “onchocerciasis”. Bệnh “mù sông” do một loại giun có tên là onchocerca volvulus (giun chỉ) làm viêm mắt và dẫn đến mù vĩnh viễn.

Giun onchocerca volvulus còn làm bệnh nhân ngứa da và biến dạng da của bệnh nhân. Những người sống gần sông có nguy cơ mắc bệnh cao hơn, do phơi nhiễm ruồi đen, so với người sống xa sông, do đó có tên là “mù sông” (river blindness).

Theo một ước tính từ năm 1995, có khoảng 26 triệu người trên thế giới bị nhiễm giun chỉ, trong số này có 300.000 người bị mù. Theo số liệu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), gần 99% bệnh nhân “mù sông” trên thế giới là người châu Phi, đặc biệt là người sống ở các nước như Yemen, Trung Phi và Nam Mỹ có nguy cơ mắc bệnh cao.

Quá trình phát minh Ivermectin

Hai nhà khoa học William Campbell và Satoshi Omura được vinh danh và ghi nhận vì những đóng góp vô cùng quan trọng trong công cuộc xóa bỏ bệnh giun chỉ trên thế giới. Cả hai đều đã hơn 80 tuổi, nhưng công trình giúp họ đạt đỉnh vinh quang được thực hiện hơn 40 năm về trước.

Câu chuyện đằng sau công trình này là một bài học hợp tác quý báu giữa giới kỹ nghệ và khoa học.

Giáo sư William Campbell xuất thân là một bác sĩ thú y, từng là một nhà khoa học của Tập đoàn dược phẩm Merck, ông chuyên về ký sinh học. Giáo sư Satoshi Omura là một nhà sinh vật học chuyên về môi trường thuộc Đại học Kitasato.

Vào thập niên 1970, Omura và các nhà khoa học thuộc Viện nghiên cứu Kitasato (Tokyo) đã phát hiện những hợp chất do các vi sinh vật sản sinh trong môi trường tự nhiên. Năm 1971, nhân một kỳ “nghỉ hè hàn lâm” (sabbatical leave), Omura đến làm việc cho phòng thí nghiệm (labo) của TS Max Tishler (Tập đoàn dược Merck).

Năm thứ hai của liên minh khoa học, nhóm Kitasato tách được một vi sinh vật có tên là Streptomyces avermitilis tìm thấy trong đất gần một sân golf giáp thị trấn biển Kawana, thuộc vùng Shizuoka. Mẫu đất và sinh vật được gửi qua labo của Merck để phân tích thêm, và các nhà khoa học của Merck tìm thấy một dòng S. avermectinius có khả năng trừ sán và diệt giun mà không gây tác hại.

Hợp chất có khả năng diệt giun và trừ sán này là avermectin, có khả năng diệt giun cao gấp 25 lần so với thuốc các hợp chất hiện hành. Đến năm 1981, thuốc Ivermectin được phê chuẩn cho bán trên thị trường thú y, nhưng sau này được sử dụng cho việc phòng chống bệnh giun chỉ ở châu Phi.

Hiện nay, Ivermectin được phát miễn phí cho khoảng 300 triệu người trên thế giới mỗi năm. Các giới chức y tế quốc tế cho rằng bệnh giun chỉ sẽ được xóa sổ vào năm 2025. Việc khám phá và sử dụng Ivermectin được xem là một phát minh quan trọng nhất trong lịch sử y tế công cộng trong thế kỷ 20 và được đánh giá ngang hàng với phát minh penicillin.

Từ dự án bí mật đến Artemisinin

Câu chuyện khám phá Ivermectin đã thú vị, nhưng câu chuyện đằng sau Artemisinin càng thú vị hơn. Bệnh sốt rét là một vấn nạn y tế công cộng, hoành hành, gây nạn cho hàng trăm triệu người trên thế giới, đặc biệt là các nước vùng nhiệt đới như Việt Nam. Những cựu chiến binh thời kháng chiến không xa lạ gì với bệnh sốt rét, vì nó là thủ phạm cướp đi mạng sống của rất nhiều binh sĩ.

Năm 1969, Mao Trạch Đông giao cho nhà khoa học Tu Youyou (Đồ U U) một sứ mệnh quan trọng là tìm thuốc chống sốt rét. Đồ U U lúc đó 39 tuổi, là dược sĩ đang công tác tại Viện Y học cổ truyền Trung Quốc. Dự án bí mật có mã số là “523” (vì thành lập ngày 23-5-1967).

Xuất thân là một dược sĩ nên Đồ U U nghĩ ngay đến dược thảo ở Hải Nam, nơi có khí hậu nhiệt đới. Bà cho biết lúc đó bà chứng kiến rất nhiều trẻ em và người lớn chết vì sốt rét. Bà tìm trong cổ thư y học của Trung Quốc và phát hiện một đoạn viết về cách dùng thảo dược để điều trị sốt rét.

Bà và cộng sự đọc hàng trăm trang sách y học cổ để biết dược thảo dược đó là gì và đến từ đâu. Sau cùng họ tìm ra một loại cây ngải ( Artemisia annua) dùng để điều trị sốt rét. Bà và cộng sự cố công tách hợp chất từ cây ngải Artemisia annua để thử nghiệm trong điều trị và kết quả ban đầu hết sức khả quan. Sau khi thử nghiệm thêm về tính an toàn, Artemisinin được triển khai cho quần thể lớn hơn với những hiệu quả bất ngờ.

Công trình của Đồ U U không được nhiều người trong thế giới khoa học biết đến vì dự án bí mật. Ngay tại Trung Quốc, bà cũng không nổi tiếng, không được bất cứ giải thưởng gì, và không được bầu vào viện hàn lâm khoa học. Mãi đến khi các đồng nghiệp Mỹ và phương Tây có dịp tương tác với giới khoa học Trung Quốc thì mới biết đến thành công của bà Đồ U U.

Năm 2011, bà được trao giải thưởng danh giá Albert Lasker (của Mỹ) – giải này thường là “tiền đề” cho giải Nobel. Đến năm nay thì bà chính thức được vinh danh và ghi nhận qua giải thưởng Nobel y sinh học 2015. Bà là nhà khoa học quốc tịch Trung Quốc đầu tiên được trao giải Nobel.

Đường về tư tưởng Nobel

Hai công trình được trao giải Nobel y sinh học năm nay thuộc vào nhóm bệnh bị… quên lãng. Quên lãng là vì trước đây các giới chức y tế phương Tây từng tuyên bố một cách tự hào rằng “Bây giờ chúng ta có thể nói rằng bệnh truyền nhiễm đã được khống chế hoàn toàn.

Đã đến lúc chúng ta đóng sổ căn bệnh này”. Nhưng trong thực tế thì bệnh truyền nhiễm vẫn còn là một mối đe dọa lớn đến đa số người dân trên thế giới. Chẳng hạn, bệnh sốt rét vẫn còn là một mối đe dọa đến rất nhiều người ở Việt Nam.

Do đó, giải Nobel y sinh học năm nay là một nhắc nhở rằng thế giới vẫn còn đang phải đối phó với bệnh ký sinh trùng và nhiễm trùng nói chung. Hào quang về những ca mổ vĩ đại vẫn không cứu được hàng triệu bệnh nhân mắc các bệnh trong cộng đồng.

Lý do đơn giản là thị trường thuốc điều trị bệnh truyền nhiễm tuy lớn nhưng là những nước nghèo nên các tập đoàn dược không quan tâm đến tiềm năng kinh tế bằng các thuốc điều trị bệnh của người giàu.

Đây là những công trình nghiên cứu mang tính ứng dụng cao, và có thể xem là y học cổ truyền. Trong quá khứ gần, ủy ban giải Nobel y học từng bị phê bình gay gắt về những giải cho các công trình… vô bổ.

Thật vậy, những công trình nghiên cứu cơ bản thể hiện sự thành công tuyệt mỹ về công nghệ sinh học nhưng chẳng đem lại lợi ích thiết thực gì cho bệnh nhân và cộng đồng nói chung. Mấy năm gần đây, một số nhà khoa học chất vấn tính thiết thực của giải Nobel y sinh học, vì họ cho rằng giải thưởng này chỉ ghi nhận những công trình nghiên cứu cơ bản và ngày càng xa rời thực tế của khoa học lâm sàng.

Có người thậm chí đề nghị một giải thưởng y sinh học khác thiết thực hơn! Năm nay, giải thưởng Nobel y sinh học đã ghi nhận một công trình khoa học lâm sàng thiết thực, và đã không phụ lòng nhà sáng lập Nobel khi ông viết trong di chúc rằng giải thưởng nên dành cho “những ai có cống hiến đem lại phúc lợi lớn cho con người”.

Một điều hết sức thú vị là các nhà khoa học được trao giải thưởng Nobel y sinh học năm nay không phải là những tên tuổi chói sáng trong trường khoa học quốc tế. Họ ít hay không công bố trên những tập san khoa học danh giá như Nature, Science hay Cell.

Riêng bà Đồ U U thì càng ít công bố trên các tập san khoa học danh giá ở phương Tây. Nhưng thành quả nghiên cứu của họ đem lại lợi ích cho hàng trăm triệu người trên thế giới, đó chính là thước đo của thành tựu sự nghiệp khoa học.

Tôi nghĩ giải thưởng Nobel y sinh học năm nay còn là một vinh danh gián tiếp cho y học cổ truyền. Đã từ lâu, y học cổ truyền chịu nhiều “tai tiếng”, thậm chí nhạo báng từ giới y học hiện đại. Nhưng trong thực tế thì đa số (xin nhấn mạnh: đa số) người dân trên thế giới vẫn dùng các biện pháp y học cổ truyền trong điều trị bệnh.

Ở châu Phi và châu Á, có lẽ 80% người dân vẫn dùng y học cổ truyền hằng ngày. Nhưng rất tiếc là khoa học hiện đại ít khi nào tìm hiểu hiệu quả của y học cổ truyền.

Có thể nói công trình của bà Đồ U U là y học cổ truyền, dựa vào kiến thức của y văn Trung Quốc trong nhiều thế kỷ trước, chứ không phải y học hiện đại. Thế nhưng thành công của bà đã cứu hàng trăm triệu người trên thế giới.

Ở Việt Nam ta cũng có y văn cổ, nhưng khai thác nguồn kiến thức này theo phương cách khoa học hiện đại vẫn chưa được làm tốt. Do đó, giải thưởng năm nay làm chúng ta nhận thức rằng nhiều thuật điều trị có khi chẳng tìm đâu xa, mà là cây cỏ và vi sinh vật ngay trước mặt chúng ta. ■

Bạn đang đọc nội dung bài viết Giải Nobel Y Học Năm 2022 trên website Asianhubjobs.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!