Đề Xuất 11/2022 # Giải Thích Ký Hiệu Que Hàn Theo Tiêu Chuẩn Aws / 2023 # Top 20 Like | Asianhubjobs.com

Đề Xuất 11/2022 # Giải Thích Ký Hiệu Que Hàn Theo Tiêu Chuẩn Aws / 2023 # Top 20 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Giải Thích Ký Hiệu Que Hàn Theo Tiêu Chuẩn Aws / 2023 mới nhất trên website Asianhubjobs.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Hệ thống đánh số ký hiệu que hàn theo tiêu chuẩn AWS (American Welding Society ) có thể cho người thợ hàn biết về các thông số, ứng dụng của que hàn và nó nên được sử dụng như thế nào để tối đa hóa hiệu năng. Nhìn vào ký hiệu que hàn ta thấy tiền tố “E” chỉ loại điện cực hàn hồ quang. Hai chữ số đầu tiên của một số có 4 chữ số và ba chữ số đầu tiên của số có 5 chữ số cho biết độ kéo tối thiểu. Ví dụ, E6010 là 60.000 psi trong khi E10018 chỉ định độ bền kéo là 100.000 psi.

E6010

Điện cực E6010 được đặc trưng bằng độ ngấm sâu tương đối lớn, Hò quang kiểu phun khá mạnh, dễ loại bỏ xỉ, lớp xỉ tương đối mỏng có thể không bao phủ toàn mối hàn. Các mối hàn đắp tương đối phẳng, có gợn sóng không đều. Lớp bọc điện cực thường chứa 30% cellulose tính theo trọng lượng, ngoài ra có thể chứa TiO 2, các chất khử oxy, các silicate Al hoặc Mg, silicate Na lỏng…Các điện cực này có thể hàn ở mọi vị trí các đường hàn nhiều hành trình theo chiều đứng, hoặc khi cần hàn đảm bảo độ bền cao. Điện cực được thiết kế với điện DC, phân cực ngược. Dòng điện cực đại có thể được dùng cho các kích cỡ điện cực lớn bị hạn chế do sự văng tóe tương đối cao.

E6013

thường được dùng để hàn các tấm mỏng. Lớp bọc của điện cực E6013 chứa cellulose, rutile, Fe-Mn, silicate Kali được dùng làm chất kết dính. Các hợp chất K cho phép điện cực vận hành với dòng điện xoay chiều có cường độ thấp và điện áp hở mạch thấp. Điện cực này có hồ quang tương đối ổn định, bề mặt mối hàn ít gợn sóng, hầu như không bị lẫn xỉ và các tạp chất khác.

E7018

Là loại điện cực hydro thấp có thêm bột sắt, bột sắt thường trong khoảng 25-40% trọng lượng. Loại điện cực này có thể dùng với điện AC hoặc DC phân cực ngược, khi sử dụng cần phải duy trì hồ quang ngắn. Loại điện cực này được dùng với thép C, thép độ bền cao, thép hợp kim cao

E7024

Lớp bọc của loại điện cực này chứa nhiều bột sắt kết hợp với các thành phần tương tự như loại điện cực E6012 và E6013. Lớp bọc điện cực E7024 rất dày và thường chiếm đến 50% trọng lượng toàn phần của điện cực. Điện cực E7024 thường được dùng để hàn đắp, mối hàn hơi lồi, bề mặt có dạng gợn sóng, độ văng tóe khi hàn rất thấp, có thể dùng điện AC hoặc DC với tốc độ hành trình hồ quang cao.

Điện cực khác

Mặc dù gần như không phổ biến, một số điện cực có thể có thêm các số sau như E8018-B2H4R. Trong trường hợp này, “B2” cho biết thành phần hóa học của kim loại hàn. “H4” cho biết mức hydro hyđro cực đại có trong kim loại hàn là 4ml/100g. Và “R” là ký hiệu cho biết que hàn được thiết kế đặc biệt có thể hấp thu ẩm tối thiểu khi thử nghiệm.

Quy Định Về Đăng Ký Logo Nhãn Hiệu Độc Quyền Tại Hàn Quốc / 2023

Làn sóng đầu tư của xứ sở kim chi Hàn Quốc vào Việt Nam chỉ tính riêng năm 2018 đủ để Hàn Quốc trở thành đối tác kinh tế hàng đầu của Việt Nam. Mối quan hệ giao bang của hai nước ngày càng thắm thiết cả về mặt kinh tế và xã hội.

Cũng giống như các sản phẩm hàng hóa của Hàn Quốc đang tràn ngập trên thị trường Việt Nam thì các doanh nghiệp Việt Nam cũng đang xúc tiến xuất khẩu hàng hóa của mình sang Hàn Quốc.

Ngoài các vấn đề pháp luật liên quan đến xuất khẩu và đầu tư, thì một vấn đề khác mà doanh nghiệp cần quan tâm đó là các quy định về đăng ký logo nhãn hiệu độc quyền để bảo vệ hàng hóa của mình kinh doanh tại Hàn Quốc.

Quy định về đăng ký logo nhãn hiệu độc quyền tại Hàn Quốc

Các quy định về đăng ký logo nhãn hiệu độc quyền được quy định rất rõ ràng tại Luật Nhãn hiệu của Hàn Quốc. Theo đó, để được sử dụng logo nhãn hiệu độc quyền, doanh nghiệp cần thực hiện đăng ký tại Cơ quan sở hữu trí tuệ Hàn Quốc (KIPO).

Và lưu ý rằng việc có sử dụng logo nhãn hiệu trong hoạt động kinh doanh không phải là điều kiện bắt buộc để logo được bảo hộ. Chỉ cần có mẫu logo nhãn hiệu và nhóm hàng hóa, dịch vụ gắn logo đáp ứng yêu cầu là có thể thực hiện đăng ký.

Theo Luật Nhãn hiệu Hàn Quốc thì khi đăng ký logo nhãn hiệu sẽ áp dụng 3 quy tắc sau:

Nguyên tắc nộp đơn đầu tiên;

Thẩm định nội dung đơn;

Phản đối đơn đăng ký.

Thủ tục đăng ký logo nhãn hiệu độc quyền tại Hàn Quốc

Việc đăng ký nhãn hiệu tại Hàn Quốc như hồ sơ đăng ký, thời gian và thủ tục đăng ký gồm các quy định như sau:

Hồ sơ đăng ký logo nhãn hiệu

Doanh nghiệp sẽ cần chuẩn bị hồ sơ đăng ký logo tại KIPO gồm các tài liệu sau:

Đơn đăng ký theo mẫu gồm các nội dung như sau: tên và địa chỉ của người nộp đơn; logo nhãn hiệu hàng hóa; các hàng hóa được chỉ định và phân loại; ngày nộp; và quốc gia và ngày nộp đơn của đơn ưu tiên, nếu quyền ưu tiên được yêu cầu;

10 mẫu của nhãn hiệu (kích thước 8cm x 8cm hoặc nhỏ hơn);

Tài liệu ưu tiên nếu quyền ưu tiên được yêu cầu; và

Giấy ủy quyền, nếu cần thiết.

Thời gian thực hiện đăng ký logo nhãn hiệu độc quyền

Sau khi nộp đơn đăng ký tại KIPO thì để tính được thời gian được cấp văn bằng bảo hộ logo thì phải xét đến các giai đoạn thẩm định đơn như sau:

Thẩm định hình thức đơn: sẽ mất khoản 2 tháng từ lúc KIPO nhận được đơn hợp lệ;

Thẩm định nội dung đơn đăng ký: mất khoản 5 tháng

Công bố đơn hợp lệ trên công báo: 2 tháng. Trong thời gian 2 tháng đó nếu không có bất cứ yêu cầu phản đối nào đối với việc cấp văn bằng bảo hộ cho logo nhãn hiệu thì tiếp tục trong vòng 2 tháng tiếp theo doanh nghiệp sẽ được cấp chứng nhận đăng ký logo nhãn hiệu hợp pháp.

Như vậy, theo lý thuyết mất trung bình khoảng 11 tháng để nhận được văn bằng sử dụng độc quyền logo nhãn hiệu.

Với những quy định về đăng ký logo nhãn hiệu độc quyền như trên, Phan Law hy vọng giải đáp cơ bản được thắc mắc của các doanh nghiệp khi muốn kinh doanh và thực hiện bảo vệ logo của mình tại thị trường Hàn Quốc.

Vì sự bất đồng về ngôn ngữ cũng như hệ thống pháp luật, nên chắc chắn việc thực hiện thủ tục này sẽ gặp không ít khó khăn. Do đó, nếu cần hỗ trợ bạn đừng ngần ngại gì liên hệ ngay với chúng tôi theo thông tin bên dưới nhé.

Giải Thích Kí Tự Chữ Viết Và Ký Hiệu Bản Đồ Địa Chính / 2023

Giải thích kí tự chữ viết và ký hiệu bản đồ địa chính

Tại Phụ lục số 01 ban hành kèm theoTT 55/2013/TT-BTNMT

1. Mỗi ký hiệu được đánh số thứ tự gọi là mã số ký hiệu. Số thứ tự của phần giải thích ký hiệu trùng với mã số của ký hiệu đó.

2. Kích thước, lực nét vẽ bên cạnh ký hiệu tính bằng milimet. Ký hiệu không có ghi chú lực nét thì dùng lực nét 0,15 – 0,20mm để vẽ. Ký hiệu không chỉ dẫn kích thước thì vẽ theo hình dạng ký hiệu mẫu.

3. Giao điểm lưới ki lô mét: Khi giao điểm lưới ki lô mét đè lên yếu tố nội dung quan trọng khác dẫn tới khó đọc hoặc nhầm lẫn nội dung thì được phép không thể hiện.

4. Nhà:

Ranh giới nhà vẽ bằng các nét gạch đứt, ghi chú loại nhà, số tầng. Khi tường nhà nằm trùng với ranh giới thửa đất thì vẽ nét liền của ranh giới thửa đất.

Các ký hiệu phân loại nhà theo vật liệu xây dựng được quy định như sau:

b – là nhà có kết cấu chịu lực bằng bê tông

s – là nhà có kết cấu chịu lực bằng sắt thép

k – là nhà bằng kính (trong sản xuất nông nghiệp)

g – là nhà có kết cấu chịu lực bằng gạch, đá

go – là nhà có kết cấu chịu lực bằng gỗ

t – là nhà tranh, tre, nứa, lá

Số tầng nhà thể hiện bằng các chữ số ghi kèm theo loại nhà đối với nhà từ 2 tầng trở lên (nhà 1 tầng không cần ghi chú số 1)

Vật liệu để phân biệt loại nhà bê tông, gạch đá, tre gỗ là vật liệu dùng để làm tường, không phân biệt bằng vật liệu dùng để lợp mái.

Khi nhà nằm trên cột chìa ra ngoài mặt nước hoặc có 1 phần nổi trên mặt nước thì phần chìa ra ngoài hoặc nổi trên mặt nước vẽ phân biệt bằng nét đứt, đường bờ và đường mép nước vẽ liên tục cắt qua nhà theo đúng thực tế.

5. Ranh giới thửa đất

Ranh giới thửa đất được vẽ khép kín bằng những nét liền liên tục. Trong trường hợp ranh giới thửa trùng với các đối tượng dạng đường của sông, suối, đường giao thông thì không vẽ ranh giới thửa mà coi các đối tượng đó là ranh giới thửa đất và phải giải thích ký hiệu sông, suối, đường giao thông.

– Đường sắt: Hành lang đường sắt vẽ theo tỷ lệ như quy định vẽ thửa đất. Vẽ ký hiệu quy ước của đường sắt bằng nét đứt đặt vào trục tâm của vị trí đường ray.

– Đường bộ: Giới hạn sử dụng của đường vẽ theo tỷ lệ như quy định vẽ thửa đất. Phần lòng đường (mặt đường, vỉa hè hoặc phần có trải mặt) khi vẽ được theo tỷ lệ thì vẽ bằng ký hiệu nét đứt. Khi độ rộng giới hạn sử dụng của đường nhỏ hơn 1,5mm trên bản đồ thì được phép không vẽ phần lòng đường.

– Cầu: thể hiện (không phân biệt vật liệu xây dựng hay cấu trúc) bằng ký hiệu nửa theo tỷ lệ hoặc không tùy theo tỷ lệ bản đồ và phải ghi chú tên riêng.

– Bến cảng, cầu tầu, bến phà, bến đò: Đối tượng nằm hoàn toàn trong thửa mà không ảnh hưởng tới nội dung khác của thửa đất, khi đó vẽ đầy đủ cả hình dạng mặt bằng và thể hiện ký hiệu quy ước.

– Đê: Được thể hiện bằng ký hiệu 2 nét vẽ theo tỷ lệ hoặc nửa theo tỷ lệ kèm theo ghi chú “đê” để phân biệt với các loại đường giao thông khác. Khi đê là đường ô tô phải ghi chú như đường ô tô.

– Thủy hệ:

+ Đường mép nước, đường bờ và dòng chảy ổn định, kênh, mương… có độ rộng lớn hơn 0,5mm trên bản đồ thì thể hiện bằng 2 nét theo tỷ lệ, có độ rộng nhỏ hơn 0,5mm trên bản đồ được thể hiện bằng 1 nét trùng với vị trí trục chính của yếu tố. Khi thể hiện đối tượng thủy hệ không được ngắt tại vị trí cầu, cống trên bản đồ.

Đối tượng thủy hệ có dòng chảy đều phải vẽ mũi tên chỉ hướng nước chảy, đối tượng thủy hệ kéo dài trên bản đồ phải vẽ nhắc lại khoảng 15 cm một lần để dễ xác định và không nhầm lẫn.

+ Cống, đập trên sông, hồ, kênh, mương…: Thể hiện (không phân biệt loại vật liệu xây dựng) cống, đập quan trọng có ý nghĩa định hướng trên bản đồ và ghi chú tên riêng nếu khoảng hở trên bản đồ cho phép.

– Dáng đất

+ Điểm độ cao, đường bình độ: Các trường hợp dáng đất được đo vẽ hoặc chuyển vẽ chính xác thì dùng các ký hiệu đường bình độ chính xác để thể hiện. Trường hợp đo vẽ không chính xác hay chuyển vẽ dáng đất từ bản đồ địa hình hoặc các tài liệu khác lên bản đồ địa chính mà độ chính xác không cao thì dùng đường bình độ vẽ nháp để thể hiện.

+ Sườn đất dốc: Ký hiệu này dùng chung để thể hiện các sườn đất dốc có độ dài từ 1cm trên bản đồ trở lên mà không thể hiện được bằng đường bình độ, không phân biệt sườn dốc tự nhiên hay nhân tạo.

+ Bãi cát, đầm lầy: Thể hiện các bãi cát tự nhiên và các bãi lầy, đầm lầy không phân biệt lầy ngọt hay lầy mặn khi chúng có diện tích từ 15mm2 trở lên trên bản đồ.

Trên các bản đồ tỷ lệ chính thức của khu đo bên trong phạm vi của mảnh trích đo phải ghi chú tên mảnh trích đo, tỷ lệ trích đo và phiên hiệu mảnh.

7. Khung bản đồ địa chính

7.1. Phần bảng chắp mảnh ngoài khung bản đồ địa chính thể hiện 9 mảnh theo nguyên tắc thể hiện mảnh chính là mảnh chứa đựng nội dung bản đồ ở giữa và 8 mảnh xung quanh. Cách vẽ và đánh số mảnh theo mẫu khung quy định cho bản đồ địa chính.

7.2. Khi chỉnh lý biến động cho bản đồ địa chính cần bố tạo một bảng ghi chú, thống kê các thửa có biến động gọi chung là “Bảng các thửa biến động”. Bảng này có thể bố trí vào các vị trí trống thích hợp bên ngoài hoặc bên trong khung bản đồ địa chính.

Cột TT: Đánh theo thứ tự từ 1 đến hết các thửa mới xuất hiện và thửa đất bỏ đi trên mảnh bản đồ địa chính do biến động.

Cột Số thứ tự thửa đất thêm: Ghi theo số thứ tự thửa mới xuất hiện trên mảnh bản đồ địa chính do biến động theo thứ tự từ nhỏ đến lớn.

Số thứ tự thửa đất lân cận: Ghi theo số thứ tự thửa đất kề cạnh các thửa đất biến động thêm (ưu tiên số thứ tự thửa đất cũ) để dễ tìm vị trí thửa đất biến động trên bản đồ.

Số thứ tự thửa đất bỏ: Ghi số thứ tự thửa đất bị bỏ đi trên mảnh bản đồ địa chính do biến động để theo dõi.”

CÔNG TY TNHH TƯ VẤN PHÁP LUẬT THIÊN MINH

Add: Tòa AQUA 1 109OT12B Vinhomes Golden River, số 2 Tôn Đức Thắng, Phường Bến Nghé, Quận 1

Tel: 0839 400 004 – 0836 400 004

www.luatthienminh.vn

Trân trọng !

Một Lời Giải Thích Bằng Tiếng Anh Đơn Giản Về Ký Hiệu Của Big Big O Là Gì? / 2023

Ký hiệu Big-O (còn gọi là ký hiệu “tăng trưởng tiệm cận”) là chức năng “trông như thế nào” khi bạn bỏ qua các yếu tố không đổi và các công cụ gần gốc . Chúng tôi sử dụng nó để nói về

ký hiệu big-O không quan tâm đến các yếu tố không đổi: chức năng 9x²được cho là “phát triển chính xác như thế nào” 10x² big-O cũng không quan tâm đến thứ không có triệu chứng (“thứ gần nguồn gốc” hoặc “điều gì xảy ra khi kích thước vấn đề nhỏ”): chức năng 10x²được cho là “phát triển chính xác như” 10x² - x + 2

Nói cách khác, đó là tất cả về khi bạn đi đến vô cùng. Nếu bạn chia thời gian thực tế cho O(...), bạn sẽ nhận được một yếu tố không đổi trong giới hạn của đầu vào lớn. Theo trực giác, điều này có ý nghĩa: các hàm “chia tỷ lệ” với nhau nếu bạn có thể nhân cái này để lấy cái kia. Đó là, khi chúng ta nói …

actualAlgorithmTime(N) ∈ O(bound(N)) e.g. "time to mergesort N elements is O(N log(N))"

… điều này có nghĩa là (nếu chúng ta bỏ qua các công cụ gần gốc), tồn tại một số hằng số (ví dụ 2,5, hoàn toàn tạo thành) sao cho:

actualAlgorithmTime(N) e.g. "mergesort_duration(N) " ────────────────────── < constant ───────────────────── < 2.5 bound(N) N log(N)

Trong trường hợp xấu nhất, thời gian cần thiết sẽ không bao giờ tệ hơn đại khái N*log(N), trong phạm vi 2,5 (một yếu tố không đổi chúng tôi không quan tâm nhiều)

O(...)là một trong những hữu ích nhất bởi vì chúng ta thường quan tâm đến hành vi trong trường hợp xấu nhất. Nếu f(x)đại diện cho một cái gì đó “xấu” như sử dụng bộ xử lý hoặc bộ nhớ, thì ” f(x) ∈ O(upperbound)upperbound là trường hợp xấu nhất của việc sử dụng bộ xử lý / bộ nhớ”.

số lượng dự kiến ​​của những người đã xem một số tiếp thị lan truyền là một chức năng của thời gian

Làm thế nào độ trễ của trang web quy mô với số lượng đơn vị xử lý trong CPU hoặc GPU hoặc cụm máy tính

Làm thế nào quy mô đầu ra nhiệt trên CPU chết như là một chức năng của số lượng bóng bán dẫn, điện áp, vv

Thuật toán cần bao nhiêu thời gian để chạy, như là một hàm của kích thước đầu vào

thuật toán cần bao nhiêu dung lượng để chạy, như là một hàm của kích thước đầu vào

Đối với ví dụ bắt tay ở trên, mọi người trong phòng bắt tay người khác. Trong ví dụ đó , #handshakes ∈ Ɵ(N²)

Sao lưu một chút: số lần bắt tay chính xác là n-select-2 hoặc N*(N-1)/2(mỗi người N bắt tay N-1 người khác, nhưng số lần bắt tay này đếm gấp đôi nên chia cho 2):

Tuy nhiên, đối với số lượng người rất lớn, thuật ngữ tuyến tính Nbị lùn và đóng góp hiệu quả 0 vào tỷ lệ (trong biểu đồ: tỷ lệ các ô trống trên đường chéo trên tổng số hộp sẽ nhỏ hơn khi số lượng người tham gia trở nên lớn hơn). Do đó, hành vi mở rộng là order N² hoặc số lần bắt tay “phát triển như N²”.

#handshakes(N) ────────────── ≈ 1/2 N²

Như thể các ô trống trên đường chéo của biểu đồ (dấu kiểm N * (N-1) / 2) thậm chí không có ở đó (N dấu kiểm không có triệu chứng).

(giải thích tạm thời từ “tiếng Anh đơn giản” 🙂 Nếu bạn muốn chứng minh điều này với chính mình, bạn có thể thực hiện một số đại số đơn giản trên tỷ lệ để chia nó thành nhiều thuật ngữ ( lim có nghĩa là “được xem xét trong giới hạn”, chỉ cần bỏ qua nếu bạn chưa thấy nó, đó chỉ là ký hiệu cho “và N thực sự rất lớn”):

N²/2 - N/2 (N²)/2 N/2 1/2 lim ────────── = lim ( ────── - ─── ) = lim ─── = 1/2 N→∞ N² N→∞ N² N² N→∞ 1 ┕━━━┙ this is 0 in the limit of N→∞: graph it, or plug in a really large number for N

tl; dr: Số lần bắt tay ‘trông giống như’ x² rất nhiều cho các giá trị lớn, nếu chúng ta viết ra tỷ lệ # bắt tay / x², thì thực tế là chúng ta không cần bắt tay x² chính xác sẽ không xuất hiện trong số thập phân trong một thời gian lớn tùy ý.

ví dụ: x = 1million, tỷ lệ # bắt tay / x²: 0.499999 …

Điều này cho phép chúng tôi đưa ra tuyên bố như …

[đối với toán học nghiêng, bạn có thể di chuột qua các spoilers cho các sidenote nhỏ]

(về mặt kỹ thuật, yếu tố không đổi có thể có thể quan trọng trong một số ví dụ bí truyền hơn, nhưng tôi đã diễn đạt những điều ở trên (ví dụ như trong nhật ký (N)) sao cho không

Thông thường chúng ta không quan tâm các yếu tố hằng số cụ thể là gì, vì chúng không ảnh hưởng đến cách thức phát triển của chức năng. Ví dụ, hai thuật toán có thể mất cả O(N) ); ngoài ra, hành động đơn thuần là chọn một thuật toán có chữ O lớn hơn sẽ thường cải thiện hiệu suất theo các đơn đặt hàng lớn.

Một số thuật toán vượt trội không có triệu chứng (ví dụ: loại không so sánh O(N log(log(N)))) có thể có hệ số không đổi lớn (ví dụ 100000*N log(log(N))) hoặc chi phí tương đối lớn như O(N log(log(N)))+ 100*N, chúng hiếm khi đáng sử dụng ngay cả trên “dữ liệu lớn”.

O(N)Các thuật toán theo nghĩa nào đó là thuật toán “tốt nhất” nếu bạn cần đọc tất cả dữ liệu của mình. Chính một loạt dữ liệu là một O(N)hoạt động. Tải nó vào bộ nhớ thường là O(N)(hoặc nhanh hơn nếu bạn có hỗ trợ phần cứng hoặc hoàn toàn không có thời gian nếu bạn đã đọc dữ liệu). Tuy nhiên, nếu bạn chạm hoặc thậm chí vào mọi phần dữ liệu (hoặc thậm chí mọi phần dữ liệu khác), thuật toán của bạn sẽ mất O(N)thời gian để thực hiện việc tìm kiếm này. Định nghĩa thời gian thuật toán thực tế của bạn mất bao lâu, ít nhất là O(N) vì nó đã dành thời gian đó để xem xét tất cả dữ liệu.

Điều tương tự có thể được nói cho . Tất cả các thuật toán in ra N điều sẽ mất N thời gian, vì đầu ra ít nhất là lâu (ví dụ: in ra tất cả các hoán vị (cách sắp xếp lại) một bộ thẻ chơi N là giai đoạn O(N!)

Điều này thúc đẩy việc sử dụng các : dữ liệu yêu cầu chỉ đọc dữ liệu một lần (thường là O(N)thời gian), cộng với một số lượng tiền xử lý tùy ý (ví dụ O(N)O(N log(N))O(N²)) mà chúng tôi cố gắng giữ nhỏ. Sau đó, sửa đổi cấu trúc dữ liệu (chèn / xóa / v.v.) và thực hiện các truy vấn trên dữ liệu mất rất ít thời gian, chẳng hạn như O(1)O(log(N))

Ví dụ: giả sử bạn có tọa độ kinh độ và vĩ độ của hàng triệu đoạn đường và muốn tìm tất cả các giao lộ trên đường phố.

Phương pháp ngây thơ: Nếu bạn có tọa độ của giao lộ đường phố và muốn kiểm tra các đường phố gần đó, bạn sẽ phải đi qua hàng triệu phân đoạn mỗi lần và kiểm tra từng điểm cho sự phụ thuộc.

Nếu bạn chỉ cần làm điều này một lần, sẽ không có vấn đề gì khi chỉ phải thực hiện phương pháp O(N)Nlần, một lần cho mỗi phân đoạn), chúng tôi ‘phải thực hiện O(N²)công việc hoặc 1000000² = 1000000000000 thao tác. Không tốt (một máy tính hiện đại có thể thực hiện khoảng một tỷ thao tác mỗi giây).

Nếu chúng ta sử dụng một cấu trúc đơn giản gọi là bảng băm (bảng tra cứu tốc độ tức thời, còn được gọi là bảng băm hoặc từ điển), chúng ta phải trả một chi phí nhỏ bằng cách xử lý O(N)kịp thời mọi thứ . Sau đó, trung bình chỉ mất thời gian liên tục để tìm kiếm thứ gì đó bằng khóa của nó (trong trường hợp này, khóa của chúng tôi là tọa độ vĩ độ và kinh độ, được làm tròn thành một lưới; chúng tôi tìm kiếm các lưới không gian liền kề chỉ có 9, là không thay đổi).

Nhiệm vụ của chúng tôi đã chuyển từ không thể O(N²)thành có thể quản lý được O(N)và tất cả những gì chúng tôi phải làm là trả một khoản chi phí nhỏ để tạo một bảng băm.

sự tương tự

x s đại diện cho các đơn vị công việc thời gian không đổi, hướng dẫn bộ xử lý, opcodes phiên dịch, bất cứ điều gì)

Nếu chúng tôi làm một cái gì đó hơi phức tạp, bạn vẫn có thể tưởng tượng trực quan những gì đang diễn ra:

Đây là một điều chúng ta có thể nhận ra một cách trực quan:

Chúng ta chỉ có thể sắp xếp lại cái này và thấy nó là O (N):

Hoặc có thể bạn thực hiện các lần truyền nhật ký (N) của dữ liệu, với tổng thời gian O (N * log (N)):

Nếu chúng tôi làm một việc gì đó rất phức tạp, chẳng hạn như với hàm đệ quy hoặc thuật toán chia và chinh phục, bạn có thể sử dụng (thường hoạt động) hoặc trong các trường hợp lố bịch Định lý Akra-Bazzi (hầu như luôn hoạt động) bạn tìm kiếm thời gian chạy thuật toán của bạn trên Wikipedia.

Nhưng, các lập trình viên không nghĩ như vậy bởi vì cuối cùng, trực giác thuật toán chỉ trở thành bản chất thứ hai. Bạn sẽ bắt đầu mã hóa một cái gì đó không hiệu quả, và ngay lập tức nghĩ rằng “tôi đang làm một cái gì đó “. Nếu câu trả lời là “có” VÀ bạn thấy nó thực sự quan trọng, thì bạn có thể lùi lại một bước và nghĩ ra nhiều thủ thuật khác nhau để khiến mọi thứ chạy nhanh hơn (câu trả lời gần như luôn luôn là “sử dụng hàm băm”, hiếm khi “sử dụng cây”, và rất hiếm khi một cái gì đó phức tạp hơn một chút).

Ngoài ra còn có khái niệm “khấu hao” và / hoặc “trường hợp trung bình” (lưu ý rằng đây là những trường hợp khác nhau).

O(N^2)đối với một số đầu vào thực sự xấu, trường hợp trung bình là bình thường O(N log(N))(đầu vào thực sự xấu rất ít về số lượng, rất ít chúng ta không chú ý đến chúng trong trường hợp trung bình).

Trường hợp xấu nhất được khấu hao : Một số cấu trúc dữ liệu có thể có độ phức tạp trong trường hợp xấu nhất lớn, nhưng đảm bảo rằng nếu bạn thực hiện nhiều thao tác này, số lượng công việc trung bình bạn làm sẽ tốt hơn trường hợp xấu nhất. Ví dụ, bạn có thể có một cấu trúc dữ liệu thường mất O(1)O(N)thời gian cho một thao tác ngẫu nhiên, bởi vì có thể nó cần thực hiện một số sổ sách hoặc thu gom rác hoặc một cái gì đó … nhưng nó hứa với bạn rằng nếu nó bị trục trặc, nó sẽ không bị nấc nữa hoạt động nhiều hơn. Chi phí trong trường hợp xấu nhất vẫn là O(N)cho mỗi hoạt động, nhưng chi phí khấu hao O(N)/NO(1)

Sự tương tự để phân tích khấu hao:

Bạn lái xe ô tô. Thỉnh thoảng, bạn cần dành 10 phút để đến trạm xăng và sau đó dành 1 phút để đổ đầy bình xăng. Nếu bạn đã làm điều này mỗi khi bạn đi bất cứ nơi nào với chiếc xe của bạn (dành 10 phút lái xe đến trạm xăng, dành vài giây để đổ đầy một phần của một gallon), nó sẽ rất không hiệu quả. Nhưng nếu cứ vài ngày bạn lại đổ đầy bình xăng, thì 11 phút lái xe tới trạm xăng sẽ được “khấu hao” trong một số lượng chuyến đi đủ lớn, bạn có thể bỏ qua nó và giả vờ tất cả các chuyến đi của bạn có thể dài hơn 5%.

So sánh giữa trường hợp trung bình và trường hợp xấu nhất được khấu hao:

Trường hợp trung bình: Chúng tôi đưa ra một số giả định về đầu vào của chúng tôi; tức là nếu đầu vào của chúng tôi có xác suất khác nhau, thì đầu ra / thời gian chạy của chúng tôi sẽ có xác suất khác nhau (mà chúng tôi lấy trung bình là). Thông thường chúng tôi giả định rằng tất cả các yếu tố đầu vào của chúng tôi đều có khả năng như nhau (xác suất đồng nhất), nhưng nếu đầu vào trong thế giới thực không phù hợp với giả định của chúng tôi về “đầu vào trung bình”, thì tính toán đầu ra / thời gian chạy trung bình có thể là vô nghĩa. Nếu bạn dự đoán đầu vào ngẫu nhiên thống nhất mặc dù, điều này rất hữu ích để suy nghĩ!

Mặc dù, nếu bạn một cách về kẻ tấn công, có rất nhiều vectơ tấn công thuật toán khác phải lo lắng bên cạnh việc khấu hao và trường hợp trung bình.)

Cả trường hợp trung bình và khấu hao đều là những công cụ cực kỳ hữu ích để suy nghĩ và thiết kế với quy mô trong tâm trí.

Hầu hết thời gian, mọi người không nhận ra rằng có nhiều hơn một biến trong công việc. Ví dụ: trong thuật toán tìm kiếm chuỗi, thuật toán của bạn có thể mất thời gian O([length of text] + [length of query]), tức là nó là tuyến tính trong hai biến như thế nào O(N+M). Các thuật toán ngây thơ khác có thể O([length of text]*[length of query])O(N*M). Bỏ qua nhiều biến là một trong những điểm vượt quá phổ biến nhất mà tôi thấy trong phân tích thuật toán và có thể tạo bất lợi cho bạn khi thiết kế thuật toán.

Hãy nhớ rằng big-O không phải là toàn bộ câu chuyện. Bạn có thể tăng tốc đáng kể một số thuật toán bằng cách sử dụng bộ đệm, khiến chúng bị lãng quên bộ nhớ cache, tránh tắc nghẽn bằng cách làm việc với RAM thay vì đĩa, sử dụng song song hoặc thực hiện trước thời hạn – các kỹ thuật này thường thuộc vào thứ tự tăng trưởng Ký hiệu “big-O”, mặc dù bạn sẽ thường thấy số lượng lõi trong ký hiệu big-O của các thuật toán song song.

Nếu bạn sắp xếp thứ gì đó như 5 yếu tố, bạn không muốn sử dụng O(N log(N))quicksort nhanh chóng ; bạn muốn sử dụng sắp xếp chèn, điều này xảy ra để thực hiện tốt trên các đầu vào nhỏ. Những tình huống này thường xuất hiện trong các thuật toán phân chia và chinh phục, trong đó bạn chia vấn đề thành các bài toán con nhỏ hơn và nhỏ hơn, chẳng hạn như sắp xếp đệ quy, biến đổi Fourier nhanh hoặc nhân ma trận.

Nếu một số giá trị bị giới hạn một cách hiệu quả do một số thực tế ẩn (ví dụ: tên người trung bình bị ràng buộc nhẹ ở khoảng 40 chữ cái và tuổi con người bị giới hạn ở mức khoảng 150). Bạn cũng có thể áp đặt giới hạn cho đầu vào của mình để làm cho các thuật ngữ không đổi.

Trong thực tế, ngay cả trong số các thuật toán có hiệu suất tiệm cận giống hoặc tương tự, giá trị tương đối của chúng thực sự có thể bị điều khiển bởi những thứ khác, chẳng hạn như: các yếu tố hiệu suất khác (quicksort và mergesort đều có O(N log(N))

Các chương trình cũng sẽ chạy chậm hơn trên máy tính 500 MHz so với máy tính 2GHz. Chúng tôi không thực sự coi đây là một phần của giới hạn tài nguyên, bởi vì chúng tôi nghĩ về việc nhân rộng về mặt tài nguyên máy (ví dụ: trên mỗi chu kỳ đồng hồ), không phải trên mỗi giây thực. Tuy nhiên, có những điều tương tự có thể ‘bí mật’ ảnh hưởng đến hiệu suất, chẳng hạn như liệu bạn có đang chạy theo mô phỏng hay trình biên dịch có tối ưu hóa mã hay không. Những điều này có thể làm cho một số thao tác cơ bản mất nhiều thời gian hơn (thậm chí tương đối với nhau) hoặc thậm chí tăng tốc hoặc làm chậm một số thao tác không theo triệu chứng (thậm chí tương đối với nhau). Hiệu quả có thể nhỏ hoặc lớn giữa việc thực hiện và / hoặc môi trường khác nhau. Bạn có chuyển đổi ngôn ngữ hoặc máy móc để thực hiện công việc làm thêm đó không? Điều đó phụ thuộc vào hàng trăm lý do khác (sự cần thiết, kỹ năng, đồng nghiệp, năng suất lập trình viên,

Các vấn đề trên, như ngôn ngữ lập trình, hầu như không bao giờ được coi là một phần của yếu tố không đổi (cũng không nên như vậy); Tuy nhiên, người ta nên nhận thức về chúng, bởi vì (mặc dù hiếm khi) chúng có thể ảnh hưởng đến mọi thứ. Ví dụ, trong cpython, việc thực hiện hàng đợi ưu tiên riêng là không tối ưu về mặt không tối ưu ( O(log(N))O(1)

Bạn đang đọc nội dung bài viết Giải Thích Ký Hiệu Que Hàn Theo Tiêu Chuẩn Aws / 2023 trên website Asianhubjobs.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!