Đề Xuất 1/2023 # Hãy Giải Thích Nhan Đề Truyền Kì Mạn Lục Của Nguyễn Dữ, Ý Nghĩa Nhan Đề Một Số Tác Phẩm: 1 # Top 7 Like | Asianhubjobs.com

Đề Xuất 1/2023 # Hãy Giải Thích Nhan Đề Truyền Kì Mạn Lục Của Nguyễn Dữ, Ý Nghĩa Nhan Đề Một Số Tác Phẩm: 1 # Top 7 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Hãy Giải Thích Nhan Đề Truyền Kì Mạn Lục Của Nguyễn Dữ, Ý Nghĩa Nhan Đề Một Số Tác Phẩm: 1 mới nhất trên website Asianhubjobs.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Giải thích nhan đề “Truyền kì mạn lục”“Sao chép tản mạn những truyện lạ”Nhưng căn cứ vào tính chất của các truyện thì thấy Truyền kỳ mạn lục không phải là một công trình sưu tập như Lĩnh Nam chích quái, Thiên Nam vân lục… mà là một sáng tác văn học với ý nghĩa đầy đủ của từ này. Đó là một tập truyện phóng tác, đánh dấu bước phát triển quan trọng của thể loại tự sự hình tượng trong văn học chữ Hán. Và nguyên nhân chính của sự xuất hiện một tác phẩm có ý nghĩa thể loại này là nhu cầu phản ánh của văn học. Trong thế kỷ XVI, tình hình xã hội không còn ổn định như ở thế kỷ XV; mâu thuẫn giai cấp trở nên gay gắt, quan hệ xã hội bắt đầu phức tạp, các tầng lớp xã hội phân hóa mạnh mẽ, trật tự phong kiến lung lay, chiến tranh phong kiến ác liệt và kéo dài, đất nước bị các tập đoàn phong kiến chia cắt, cuộc sống không yên ổn, nhân dân điêu đứng, cơ cực. Muốn phản ánh thực tế phong phú, đa dạng ấy, muốn lý giải những vấn đề đặt ra trong cuộc sống đầy biến động ấy thì không thể chỉ dừng lại ở chỗ ghi chép sự tích đời trước. Nhu cầu phản ánh quyết định sự đổi mới của thể loại văn học. Và Nguyễn Dữ đã dựa vào những sự tích có sẵn, tổ chức lại kết cấu, xây dựng lại nhân vật, thêm bớt tình tiết, tu sức ngôn từ… tái tạo thành những thiên truyện mới. Truyền kỳ mạn lục vì vậy, tuy có vẻ là những truyện cũ nhưng lại phản ánh sâu sắc hiện thực thế kỷ XVI. Trên thực tế thì đằng sau thái độ có phần dè dặt khiêm tốn, Nguyễn Dữ rất tự hào về tác phẩm của mình, qua đó ông bộc lộ tâm tư, thể hiện hoài bão; ông đã phát biểu nhận thức, bày tỏ quan điểm của mình về những vấn đề lớn của xã hội, của con người trong khi chế độ phong kiến đang suy thoái.

Đang xem: Giải thích nhan đề truyền kì mạn lục

1 Chuyện Người Con Gái Nam Xuong Được Trích Từ Tập Truyện Truyền Kì Mạn Lục Của Nguyễn Dữ A) Hãy Giải Thích Ý Nghĩa Nhan Đề Và Xác Định Thể Loại Của Tập Truyệ

a. – Nhan đề: Truyền kì mạn lục ( Ghi chép tản mạn những chuyện kì lạ được lưu truyền )

– Thể loại: Truyện truyền kì

b. Chi tiết cái bóng

c.

1. Chi tiết cái bóng góp phần thúc đẩy cốt truyện phát triển

(Là chi tỉết thắt nút, đồng thời cũng là chi tiết mở nút hết sức bất ngờ trong toàn bộ diễn biến chuyện)

a. Lần thứ nhất, cái bóng gián tiếp xuất hiện qua lời nói của bé Đản về một người đàn ông khác thường đến vào buổi đêm – cái bóng là chi tiết thắt nút truyện:

– Đối với VN: đó là cái bóng của chính nàng. Trong những ngày Trương Sinh ở nơi chiến trận, nàng một mình một bóng trong căn nhà thiếu vắng người chồng thân yêu. Vì nhớ thương chồng, vì không muốn con nhỏ thiếu vắng bóng người cha nên hàng đêm, nàng đã chỉ bóng mình trên vách, đùa vui đó là cha bé Đản. Lời nói của VN với mục đích hoàn toàn tốt đẹp.

– Đối với bé Đản: đứa trẻ ngây thơ tin là có một người cha đêm nào cũng đến nhưng lúc nào cũng nín thin thít và không bao giờ bế nó cả.

– Đối với TS: đó lại là bằng chứng không thể chối cãi về sự hư hỏng của vợ. Lời nói của đứa bé về một người cha khác đã gieo vào lòng TS mối nghi ngờ, không có gì gỡ ra được, khiến TS có cách cư xử vũ phu, thô bạo, cạn tình cạn nghĩa: la mắng, đánh đập rồi đuổi VN ra khỏi nhà.

b. Lần thứ hai, cái bóng xuất hiện trực tiếp trước mắt Trương Sinh – cái bóng là chi tiết mở nút truyện:

Đó chính là cái bóng của TS in trên vách. Trong hoàn cảnh hai cha con ngồi dưới ngọn đèn khuya, thấy bóng TS, bé Đản chỉ lên và nói “Cha Đản lại đến kia kìa!”. Lúc đó TS mới tỉnh ngộ, thấu nỗi oan của vợ.

a. Cái bóng tô đậm thêm phẩm chất cao đẹp của VN trong vai trò làm vợ, làm mẹ.

– Đó là tình yêu, sự gắn bó thủy chung của VN với người chồng nơi chiến trận, giúp nàng nguôi ngoai nỗi nhớ thương chồng, cái bóng của VN nhưng lại mang theo dáng hình TS, vợ chồng gắn bó thủy chung như hình với bóng.

– Đó là tình thương của VN đối với con, khi con thiếu vắng tình cha. Đó là cách để nàng đùa vui, dỗ dành con. Nàng muốn đứa con nhỏ thơ ngây được sống trong tình thương yêu của mẹ và bên cả bóng hình người cha.

b. Cái bóng là một ẩn dụ cho số phận mong manh của người phụ nữ trong chế độ phong kiến nam quyền.

Với VN, hạnh phúc gia đình cũng chỉ mong manh như chiêc bóng hư ảo.

c. Cái bóng, đó là bóng đen trong tâm hồn Trương Sinh hay phải chăng đó là bóng đen của XHPK –

một xã hội bất công với quan niệm trọng nam khinh nữ. Xã hội ấy đã dung túng cho cái ác, cái xấu xa và thói gia trưởng, ghen tuông vô lối, sự vũ phu, tàn tệ rẻ rúng của TS đối với VN. Chi tiết này mang ýnghĩa tố cáo xã hội phong kiến suy tàn khiến hạnh phúc của người phụ nữ hết sức mong manh.

Hãy Giải Thích Nhan Đề Và Ý Nghĩa Nhan Đề Bài Thơ Đồng Chí

b.Bài thơ thiên về khai thác đời sống nội tâm, tình cảm người lính, vẻ đẹp của “Đồng chí” là vẻ đẹp của đời sống tâm hồn người lính mà nơi phát ra vầng ánh sáng lung linh nhất là mối tình đồng đội, đồng chí hoà quyện vào tình giai cấp.

Người lính nông dân đã đi vào thơ ca bằng những hình ảnh chân thật và đẹp trong “Nhớ” của Hồng Nguyên, “Cá nước” của Tố Hữu… nhưng tiêu biểu hơn cả là bài “Đồng chí” của Chính Hữu. Bài thơ được sáng tác vào năm 1948 là năm cuộc kháng chiến hết sức gay go, quyết liệt. Trong bài thơ này, tác giả đã tập trung thể hiện mối tình keo sơn gắn bó, ngợi ca tình đồng chí giữa những người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Cảm nhận đầu tiên của chúng ta khi đọc bài thơ là hình ảnh người lính hiện lên rất thực, thực như trong cuộc sống còn nhiều vất vả lo toan của họ. Ngỡ như từ cuộc đời thực họ bước thẳng vào trang thơ, trong cái môi trường quen thuộc bình dị thường thấy ở làng quê ta còn đói nghèo lam lũ:

“Quê hương anh nước mặn đồng chua,

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”.

Quê hương xa cách nhau, mỗi người mỗi nơi. Người quê ở miền biển “nước mặn đồng chua”, người ở vùng đồi núi “đất cày lên sỏi đá”. Song dù xa cách nhau, dù khác nhau, nhưng đều là quê hương của lam lũ, vất vả, đói nghèo. Chữ nghĩa bình thường mà như đang cựa quậy khi cuộc sống thực đã ùa vào câu thơ đem đến những cảm nhận sâu sắc về quê hương người lính.

Tuy ở những phương trời khác nhau, “chẳng hẹn quen nhau”, nhưng cùng sống và chiến đấu với nhau trong một đội ngũ, những người lính đã tự nguyện gắn bó với nhau:

“Súng bên súng đầu sát bên đầu

Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”

Cái rét ở rừng Việt Bắc đã nhiều lần vào trong thơ bộ đội chống Pháp vì đó là một thực tế ai cũng nếm trải trong những năm chinh chiến ấy. Có điều lạ là câu thơ nói đến cái rét gợi cho người đọc một cảm giác ấm cúng của tình đồng đội, nghĩa đồng bào. Tác giả đã rất tài tình khi tả nụ cười mà khiến người đọc cảm nhận được cái lạnh giá tê buốt của núi rừng mùa đông( câu bị động). Câu thơ của Chính Hữu đã diễn tả tình đồng chí thật cụ thể và cô đọng, sự gắn bó giữa những người đồng chí cùng chung nhau chiến đấu “súng bên súng”, cùng chung một lí tưởng “đầu sát bên đầu”. Sự gắn bó mỗi lúc lại càng thêm sâu sắc: Là súng bên súng đến đầu bên đầu, rồi thân thiết hơn nữa là đắp chung chăn, thành tri kỉ.

Đoạn thơ đầu của bài thơ kết thúc bằng hai chữ “Đồng chí” làm sáng tỏ thêm nội dung, ý nghĩa của cả đoạn thơ. Nó giải thích vì sao người lính từ bốn phương trời xa lạ, không hẹn gặp nhau mà bỗng trở thành thân thiết hơn máu thịt. Đó là sự gắn bó giữa những người anh cùng chung một lí tưởng chiến đấu, là sự gắn bó kì diệu, thiêng liêng và mới mẻ của tình đồng chí.

Những người lính, những đồng chí ấy ra đi chiến đấu với tinh thần tự nguyện:

Ruộng nương anh gửi bạn thân cày

Gian nhà không mặc kệ gió lung lay

Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.

Họ vốn gắn bó sâu nặng với ruộng nương, với căn nhà thân thiết, nhưng cũng sẵn sàng rời bỏ tất cả để ra đi. Nhà thơ đã dùng những hình anh quen thuộc và tiêu biểu của mọi làng quê Việt Nam như biểu tượng của quê hương những người lính nông dân. Giếng nước, gốc đa không chỉ là cảnh vật mà còn là làng quê, là dân làng. Cảnh vật ở đây được nhân cách hoá, như có tâm hồn hướng theo người lính.

Tác giả tả rất thực về cuộc sống của người lính. Nhà thơ không che giấu mà như còn muốn nhấn mạnh để rồi khắc hoạ rõ nét hơn cuộc sống gian lao thiếu thốn của họ. Và phải là người trong cuộc thì mới vẽ lên bức tranh hiện thực sống động về người lính với một sự đồng cảm sâu sắc như vậy:

Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh.

Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi.

Áo anh rách vai

Quần tôi có vài mảnh vá

Miệng cười buốt giá

Chân không giày

Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.

Thơ ca kháng chiến khi nói tới gian khổ của người lính thường nói rất nhiều tới cái lạnh, cái rét. Đoạn thơ thứ hai này kết thúc bằng câu “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”. Một sự cảm thông, chia sẻ vừa chân thành, vừa tha thiết làm sao. Người ta bảo bàn tay biết nói là thế. Hình ảnh kết thúc đoạn thứ hai này cắt nghĩa vì sao người lính có thế vượt qua mọi thiếu thốn, gian khổ, xa quê hương, quần áo rách vá, chân không giày, mùa đông lạnh giá với những cơn sốt rét “run người”… Hơi ấm của tình đồng chí truyền cho nhau đã giúp người lính thắng được tất cả. Hình ảnh kết thúc bài thơ chỉ có ba dòng:

Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chở giặc tới

Đầu súng trăng treo

Sau những câu thơ tự do đang trải dài “Đêm nay rừng hoang sương muối”… câu kết thúc thu vào trong bốn chữ làm nhịp thơ đột ngột thay đổi, dồn nén, chắc gọn, gây sự chú ý cho người đọc. Hình ảnh kết thúc bài thơ đầy thơ mộng, cái thơ mộng của gian khố, hiểm nguy: một cánh rừng, một màn sương, một vầng trăng với hai ngọn súng, hai con người chờ giặc. “Đầu súng trăng treo” cùng là một câu thơ dồn nén và có sức tạo hình, nó đẹp như một biểu tượng chiến đấu của những người lính giàu phẩm chất tâm hồn. Đó cũng là vẻ đẹp trữ tình mới của thơ ca kháng chiến, kết hợp được súng và trăng mà không khiên cưỡng.

Dàn Ý Giải Thích Ý Nghĩa Nhan Đề Bài Thơ Mùa Xuân Nho Nhỏ

– Tác giả: Thanh Hải hoạt động văn nghệ cả hai thời kì chống Pháp và chống Mĩ của dân tộc nên có nhiều đóng góp tích cực trong việc xây dựng nền văn học nước nhà, đặc biệt là văn học miền Nam buổi đầu.

– Tác phẩm: Bài thơ được ông viết trước khi qua đời (trước năm 1980) thể hiện tình yêu cuộc sống, yêu đất nước và mong ước của nhà thơ.

+ Mùa xuân: ý nghĩa tả thực, là thời điểm khởi đầu một năm, khi mọi vật sinh sôi nảy nở.

+ Mùa xuân: ý nghĩa biểu tượng, là sức trẻ trong tâm hồn, là nhiệt huyết, là cống hiến của mỗi con người vào mùa xuân lớn của đất nước.

– Thể hiện phát hiện mới mẻ của ông.

– Thể hiện quan niệm sống về cái riêng và cái chung, cá nhân và cộng đồng. Cổ vũ cho lối sống tính cực: ai cũng cần đóng góp cho cộng đồng, dân tộc.

– Thể hiện mong muốn của nhà thơ: hiến dâng những điều tốt đẹp nhất cho mùa xuân của đất nước dù là những điều nhỏ bé nhất

Khẳng định giá trị, ý nghĩa của nhan đề trong việc tạo nên thành công của tác phẩm.

Trong cuộc đời hoạt động văn học tích cực của mình, nhà thơ Thanh Hải đã không biết bao lần khiến bạn đọc trầm trồ, ngưỡng mộ bởi tài năng và tâm hồn của một người nghệ sĩ đích thực. Hơn tất thảy, bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” là minh chứng thể hiện thành công nhất cho bút lực tuyệt vời đó. Bài thơ không chỉ gần gũi bởi ngôn từ đơn giản, quen thuộc mà còn bởi những tầng ý nghĩa sâu sắc được nhà thơ gửi gắm. Đặc biệt chỉ với nhan đề bốn tiếng, Thanh Hải đã thực sự bao quát được toàn bộ ý nghĩa của bài thơ. Qua đó, độc giả có thể đến gần hơn với nhịp đập của một trái tim luôn hết lòng vì đời!

Thanh Hải là một trong số ít nhà thơ hoạt động văn nghệ ở cả hai thời kì chống Pháp và chống Mĩ của dân tộc. Trong suốt chặng đường ấy, ông không ngừng có những đóng góp tích cực cho nền văn học nước nhà buổi đầu, đặc biệt là văn học miền Nam. Bài thơ được sáng tác trong một hoàn cảnh đặc biệt, đó là thời khắc trước khi nhà thơ qua đời (năm 1980). Có lẽ bởi ra đời tại khoảng khắc ấy nên bài thơ mang trọn vẹn tình yêu cuộc sống, yêu đất nước và mong ước của nhà thơ – mong ước của một trái tim vẫn còn thổn thức, muốn đập vì đời nhiều hơn chút nữa. Khao khát được tận hiến cho đến giây phút cuối cùng kia thật khiến bao người phải cúi đầu ngưỡng mộ.

Trước hết, ” rõ ràng là một danh từ chỉ một khoảng thời gian trừu tượng nhưng nay lại có hình có khối, có kích thước cụ thể khi đi kèm với tính từ Bất giác, thời gian của vũ trụ ấy được xác định rõ ràng như một vật thể, khiến ta có cảm giác như có thể cầm nắm nó. Đặt vào hoàn cảnh sáng tác riêng, ta mới thấy hết cái hay cái đẹp của nhan đề. thực chất mang ý nghĩa tả thực, là thời điểm khởi đầu của một năm, khi vạn vật sinh sôi nảy nở. Trong bốn mùa, xuân là mùa tượng trưng cho sức sống mãnh liệt, cho những gì tươi đẹp nhất của một năm trời. Mà những điều tốt ấy lại chỉ có thể đánh đổi bằng sự cố gắng, nỗ lực vươn lên của muôn mầm non cây lá. Với ý nghĩa đó, mùa xuân còn mang ý nghĩa biểu tượng là sức trẻ trong tâm hồn, là nhiệt huyết, là cống hiến của mỗi con người. ” Mùa xuân nho nhỏ” ở đây chính là một hình ảnh ẩn dụ chỉ cuộc đời nhỏ bé của mỗi con người góp phần làm nên mùa xuân lớn của dân tộc. Từ láy ” đã làm rõ thêm tính chất của mùa xuân ấy: giản dị, khiêm nhường như chính tấm lòng nhà thơ vậy. Nhà thơ cho rằng dù mình có cống hiến bao nhiêu, cống hiến cho đời nhiều thế nào đi chăng nữa thì tất cả cũng thật nhỏ bé trước những điều cao cả hơn của cuộc đời. Cả một tầng sâu ý nghĩa ấy lại được cất giấu dưới lớp ngôn từ đơn giản: “Mùa xuân nho nhỏ”.

Qua nhan đề ngắn gọn ấy, Thanh Hải đã thể hiện một phát hiện vô cùng mới mẻ về của ông về cuộc đời. Nói một cách khác, đây chính là quan niệm sống mối quan hệ của cái “tôi” và cái “ta”, của cái riêng và cái chung, cá nhân và cộng đồng. Là một cá thể trong cả một xã quần thể rộng lớn ấy, đã bao giờ bản thân tự nghĩ về trách nhiệm của bản thân đối với cộng đồng:

Bằng cách đó, nhà thơ đã cổ vũ cho một lối sống tích cực: ai cũng cần đóng góp sức mình cho cộng đồng, dân tộc, dù đó điều nhỏ nhoi hay to lớn, vĩ đại. Cho tới tận khi sắp về với cát bụi, Thanh Hải vẫn mong có cơ hội hiến dâng những điều tốt đẹp nhất cho mùa xuân đất nước và còn gắng sức lan tỏa triết lí cao đẹp ấy tới muôn người. Và không uổng phí những ước mong của nhà thơ, nhân sinh quan sâu sắc kia đã được bạn đọc muôn thế hệ nồng nhiệt đón nhận.

Chưa cần lật dở vào trang thơ, chỉ đến với tiêu đề bài thơ thôi mà độc giả đã phải thổn thức bởi

Bình Luận Facebook

.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Hãy Giải Thích Nhan Đề Truyền Kì Mạn Lục Của Nguyễn Dữ, Ý Nghĩa Nhan Đề Một Số Tác Phẩm: 1 trên website Asianhubjobs.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!