Đề Xuất 2/2023 # Họp Mặt Truyền Thống Kỷ Niệm 60 Năm Ngày Thành Lập Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam # Top 4 Like | Asianhubjobs.com

Đề Xuất 2/2023 # Họp Mặt Truyền Thống Kỷ Niệm 60 Năm Ngày Thành Lập Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam # Top 4 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Họp Mặt Truyền Thống Kỷ Niệm 60 Năm Ngày Thành Lập Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam mới nhất trên website Asianhubjobs.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Tặng hiện vật của cố Luật sư Nguyễn Hữu Thọ cho bảo tàng

Hưởng ứng phát động, 4 gia đình đã gửi tặng hiện vật được gia đình đang lưu giữ là một phần kỷ niệm, là ký ức của một thời hoạt động cách mạng sôi nổi, thời vào sinh ra tử để giành lấy độc lập hòa bình, thống nhất đất nước của những chứng nhân lịch sử.

Các đồng chí lãnh đạo, các đại biểu và các gia đình hiến tặng hiện vật cho Bảo tàng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tại buổi họp mặt, sáng 20-12-2020. Ảnh: VIỆT DŨNG

Cụ thể, gia đình cố Luật sư Nguyễn Hữu Thọ tặng hiện vật “Cặp đựng hồ sơ mỗi chuyến công tác của cố Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, nguyên Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam”.

Chiếc cặp này được cố Luật sư Nguyễn Hữu Thọ sử dụng từ năm 1989, gắn liền với những tài liệu quan trọng của quốc gia, dân tộc. Thời điểm năm 1989, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ đang là Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam.

Đợt này, gia đình cụ Phan Nhẫn, thành viên phái đoàn đàm phán Hiệp định Paris; Phó Văn phòng Mặt trận – Dân vận từ giai đoạn 1976-1982, hiến tặng hơn 100 hiện vật.

Những kỷ vật này giúp nhớ lại khoảnh khắc lịch sử đó là sau gần 5 năm đàm phán kiên trì, chúng ta đã buộc Mỹ phải chấm dứt vô điều kiện ném bom và bắn phá miền Bắc, buộc Mỹ ký kết Hiệp định Paris, Mỹ phải rút hết quân Mỹ và quân chư hầu của Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi và có ý nghĩa chiến lược để tiến lên giải phóng miền Nam Việt Nam, thống nhất đất nước.

Hiện vật thứ 3 là một chiếc rựa do ông Nguyễn Minh Hồng, nguyên cán bộ cơ quan Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam hiến tặng.

Năm 1965, ông Nguyễn Minh Hồng đã mua một cái nhíp xe ô tô và rèn thành chiếc rựa. Chiếc rựa này phục vụ công tác hậu cần trong chiến khu cho các đồng chí lãnh đạo là Đại tướng Nguyễn Chí Thanh và Luật sư Nguyễn Hữu Thọ từ năm 1965 đến ngày giải phóng. Ông Nguyễn Minh Hồng đã gìn giữ nó trong suốt 55 năm qua.

Cụm hiện vật cuối cùng là 4 bài báo do gia đình cố Giáo sư Lý Chánh Trung hiến tặng. 

Đây là những bài báo ghi lại cuộc đấu tranh của phong trào “Ký giả đi ăn mày” do giới báo chí Sài Gòn thực hiện để xuống đường cùng đồng bào sôi sục đấu tranh chống Thiệu độc tài và tham nhũng; ghi lại cuộc đấu tranh anh dũng của đồng bào miền Nam trên chiến trường đầy khốc liệt.

Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam

Thành lập: 20 tháng 12, 1960. Giải thể: 31 tháng 1, 1977. Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ

Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là một tổ chức liên minh chính trị, dân tộc chủ nghĩa cánh tả, hoạt động chống chính quyền Việt Nam Cộng hòa và sự can thiệp của Hoa Kỳ tại Việt Nam trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam. Đây là tổ chức kế thừa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (Mặt trận của cả nước từ Bắc đến Nam) ở miền Nam (được công nhận bởi các tài liệu sau năm 1975) nhằm chống lại Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam.

* Trong các chiến dịch Tố Cộng của mình năm 1956, Tổng thống Ngô Đình Diệm đã phổ biến cụm từ vc để chỉ những người “Cộng sản Việt Nam”- viết ngắn gọn của từ Việt Nam Cộng-sản, (Vietnamese communist). Sau khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam được thành lập, nhiều người Nam Việt Nam cũng gọi những người tham gia Mặt trận này là “vc”.

Người Mỹ đọc là V.C (nguyên nhân nữa là do hai chữ cái V và C lần lượt được phát âm là Victor và Charlie theo bảng mẫu tự ngữ âm của NATO). Charlie cũng trở thành cách mà người Mỹ gọi cộng sản nói chung, bao gồm cả Mặt trận Dân tộc Giải phóng và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đánh bom Đại sứ quán Mỹ, ngày 30/3/1965.

Quân giải phóng miền Nam- được Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam thành lập, là một lực lượng quân sự mà nòng cốt là những người từng tham gia Việt Minh đồng thời bao gồm cả một số người từng là thành viên Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên.

Mỹ ước tính vào giữa 1962 miền Nam Việt Nam có khoảng 2.500 làng, chiếm khoảng 85% tổng dân số, Mặt trận Giải phóng kiểm soát hiệu quả 20% số làng, ước tính 9% dân số nông thôn, tổng diện tích những ngôi làng này bao phủ một tỷ lệ lớn hơn nhiều ở vùng nông thôn. Ngược lại, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa kiểm soát có hiệu quả khoảng 47% dân cư nông thôn và 33% số làng, phần lớn nằm ở vùng ven của các thành phố lớn, thị xã và các khu vực dân cư đông đúc hơn dọc theo các đường chính. Trong 47% vùng nông thôn và 44% dân cư nông thôn còn lại, không phải là Chính phủ Việt Nam Cộng hòa cũng không phải là Mặt trận Giải phóng kiểm soát có hiệu quả, mặc dù Chính phủ Việt Nam Cộng hòa ảnh hưởng dường như lớn hơn trong hầu hết những ngôi làng này. Theo tài liệu của Mỹ, tới năm 1965, Mặt trận Giải phóng đã kiểm soát lên đến 50% vùng nông thôn ở miền Nam Việt Nam.

Theo tài liệu phía cách mạng, năm 1962 phía cách mạng kiểm soát 76% lãnh thổ và 50% dân số toàn miền Nam. Từ 1964 đến 1965, vùng do Mặt trận kiểm soát chiếm 3/4 diện tích và 2/3 dân số miền Nam [20]. Năm 1968 Mặt trận quản lý 10/14 triệu người, trong đó “4 triệu sống trong vùng giải phóng và ít nhất 6 triệu rưỡi người nữa thuộc quyền cai trị bí mật của Mặt trận trong các vùng danh nghĩa là của Mỹ và Sài Gòn kiểm soát” (wiki)

Một con tem bưu chính của Cộng hòa Miền Nam Việt Nam

Xem Thêm những ảnh xưa cùng chuyên mục Nhân Vật Lịch Sử khác

Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam Trong Tiếng Tiếng Anh

Trước năm 1975, song thân của bà đều hoạt động cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.

Prior to 1975, her relatives were active in the National Front for the Liberation of South Vietnam.

WikiMatrix

Tháng 2 năm 1974, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã hoan nghênh trận đánh năm 1961 tại Cassanje, trận mở đầu cho chiến tranh giành độc lập của Angola.

In February 1974, the National Liberation Front of South Vietnam (NLFSV) commended the 1961 attack on Cassanje, the first battle of Angola’s war of independence.

WikiMatrix

Mẹ và các anh chị của ông hoạt động bí mật cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, một người chị của ông bị quân đội Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa giết sau một trận đánh vào năm 1965.

His mother and siblings secretly worked for the National Front for the Liberation of South Vietnam, and his sister was killed by the US military and the South Vietnamese government after a battle in 1965.

WikiMatrix

Mặc dù Buckley thừa nhận cơ sở và tầm kiểm soát rộng lớn của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tại khu vực, ông vẫn viết rằng các bệnh viện khu vực đã phải chữa cho nhiều nạn nhân của hỏa lực Mỹ hơn là từ phía Mặt trận.

Although Buckley acknowledged that VC infrastructure and control in the region was extensive, he wrote that local hospitals had treated more wounds caused by U.S. firepower than by the VC.

WikiMatrix

Nguyên nhân chính của cuộc đảo chính là sự khoan dung của Norodom Sihanouk đối với các hoạt động của Bắc Việt trong phạm vi biên giới quốc gia, đồng thời cho phép cho phép các nhóm quân kháng chiến Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam trang bị vũ khí hạng nặng nhằm kiểm soát thực tế trên khu vực rộng lớn ở miền đông Campuchia.

The main causes of the coup were Norodom Sihanouk’s toleration of North Vietnamese activity within Cambodia’s borders, allowing heavily armed Vietnamese Communist outfits de facto control over vast areas of eastern Cambodia.

WikiMatrix

Nhóm người này ban đầu được thành lập bởi một nhà sư Khmer Krom tên là Samouk Sen, tìm kiếm sự độc lập cho Khmer Krom và thường xuyên đụng độ với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, tổ chức được mở rộng trong những năm 1960 và sau này trở thành liên kết với FULRO, một tổ chức bán quân sự cho các nhóm dân tộc thiểu số Việt Nam.

This group, founded by a Khmer Krom monk named Samouk Sen, sought Khmer Krom independence and regularly clashed with the Viet Cong: it expanded in the 1960s and later became affiliated to FULRO, a paramilitary organisation for Vietnamese minority groups.

WikiMatrix

Tại chức, và được Kissinger hỗ trợ, Nixon đã thực hiện chính sách Việt Nam hóa nhằm rút dần quân đội Hoa Kỳ đồng thời mở rộng vai trò chiến đấu của Quân đội Việt Nam Cộng hòa để có thể bảo vệ chính phủ độc lập chống lại Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam, và quân đội Bắc Việt (Quân đội Nhân dân Việt Nam hoặc PAVN).

In office, and assisted by Kissinger, Nixon implemented a policy of Vietnamization that aimed to gradually withdraw U.S. troops while expanding the combat role of the South Vietnamese Army so that it would be capable of independently defending its government against the National Front for the Liberation of South Vietnam, a Communist guerrilla organization, and the North Vietnamese army (Vietnam People’s Army or PAVN).

WikiMatrix

Mặc dù Hoa Kỳ đã biết về sự tồn tại của các mật khu của lực lượng cộng sản Bắc Việt và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tại Campuchia từ năm 1966, Tổng thống Hoa Kỳ Lyndon B. Johnson vẫn không cho tấn công các mật khu này, vì lo ngại phản ứng quốc tế, và rằng việc tấn công có thể khiến Sihanouk thay đổi lập trường.

Although the U.S. had been aware of the PAVN/Viet Cong sanctuaries in Cambodia since 1966, President Lyndon B. Johnson had chosen not to attack them due to possible international repercussions and his belief that Sihanouk could be convinced to alter his policies.

WikiMatrix

Ngày 12 tháng 3 năm 1970, khi Sihanouk đang thực hiện chuyến công du nước ngoài tại Bắc kinh, Sirik Matak lập tức hủy bỏ thỏa thuận thương mại của Sihanouk và Lon Nol hạ lệnh yêu cầu quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam phải rời khỏi Campuchia vào lúc bình minh ngày 15 tháng 3 (thời hạn được thông qua mà không có bất kỳ phản ứng nào từ phía Việt Nam).

On March 12, 1970, while Sihanouk was on a trip abroad, Sirik Matak canceled Sihanouk’s trade agreements and Lon Nol demanded that all North Vietnamese and NLF troops leave Cambodia by dawn on March 15 (the deadline passed without any response from the Vietnamese).

WikiMatrix

Phong trào này diễn ra từ cuối năm 1959, đỉnh cao là năm 1960, nhanh chóng lan rộng khắp miền Nam làm tan rã cơ cấu chính quyền cơ sở nông thôn của chính phủ Việt Nam Cộng hòa thời tổng thống Ngô Đình Diệm, dẫn đến một phần đáng kể của nông thôn miền Nam đã thành vùng do những người cộng sản kiểm soát, dẫn đến sự thành lập của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.

This movement took place from the end of 1959, culminating in 1960, rapidly spreading across the South, dissolving the rural government structure of the Government of the Republic of Vietnam under President Ngo Dinh Diem, leading to a significant part of rural Southern Vietnam gained control by the communists, leading to the founding of the Southern Vietnam National Liberation Front.

WikiMatrix

Đặc biệt, sự nhạy cảm dân tộc và thiên hướng chống cộng sản của Lon Nol và các cộng sự của ông hàm ý rằng họ không thể chấp nhận được chính sách bán khoan dung của Sihanouk đối với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và hoạt động của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong phạm vi biên giới Campuchia; riêng Sihanouk, trong quá trình nghiêng về cánh tả trong giai đoạn 1963-1966, đã thương lượng một thỏa thuận bí mật với Hà Nội theo đó sẽ đảm bảo nối lại việc thu mua lúa với giá cao, cảng Sihanoukville được mở cửa cho việc bốc dỡ và vận chuyển vũ khí cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.

In particular, the nationalist and anti-communist sensibilities of Lon Nol and his associates meant that Sihanouk’s policy of semi-toleration of Viet Cong and People’s Army of Vietnam (PAVN) activity within Cambodian borders was unacceptable; Sihanouk, during his swing to the left in 1963–66, had negotiated a secret arrangement with Hanoi whereby in return for the guaranteed purchase of rice at inflated prices, the port of Sihanoukville was opened for weapons shipments to the Viet Cong.

WikiMatrix

30 tháng 3: Mặt trận Giải phóng Dân tộc bắt đầu tiến công ở miền Nam Việt Nam và chỉ bị đẩy lùi bởi quân đội miền nam với sự hỗ trợ lớn về đường không của Hoa Kỳ.

March 30: FNL goes to the offensive in South Vietnam, only to be repulsed by the South Vietnamese regime with major American air support.

WikiMatrix

Bốn mục tiêu của chiến dịch (phát triển theo thời gian) là: Cứu vãn tinh thần đang sa sút của chính phủ Việt Nam Cộng hòa; Ép Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngừng hỗ trợ cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng ở miền Nam; Phá hủy hệ thống giao thông, các cơ sở công nghiệp, các lực lượng phòng không của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; Ngăn chặn dòng quân và hàng hóa chảy vào miền Nam Việt Nam.

The four objectives of the operation (which evolved over time) were to boost the sagging morale of the Saigon regime in the Republic of Vietnam; to persuade North Vietnam to cease its support for the communist insurgency in South Vietnam without sending ground forces into communist North Vietnam; to destroy North Vietnam’s transportation system, industrial base, and air defenses; and to halt the flow of men and material into South Vietnam.

WikiMatrix

Ngày 8 tháng 4, đáp lại đề nghị đàm phán hòa bình, Thủ tướng VNDCCH Phạm Văn Đồng tuyên bố rằng đàm phán chỉ có thể bắt đầu sau khi Mỹ ngừng ném bom; Mỹ rút toàn bộ quân ra khỏi miền Nam; chính phủ Sài Gòn thừa nhận các đòi hỏi của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam; và các bên đồng ý rằng việc thống nhất Việt Nam sẽ được thực hiện bởi chính người Việt Nam.

On 8 April, responding to requests for peace negotiations, North Vietnamese premier, Pham Van Dong, stated that they could only begin when: the bombing was halted; the U.S. had removed all of its troops from the south; the Saigon government recognized the demands of the NLF; and it was agreed that the reunification of Vietnam would be settled by the Vietnamese themselves.

WikiMatrix

North Vietnam, in turn, supported the National Liberation Front, which drew its ranks from the South Vietnamese working class and peasantry.

WikiMatrix

Cú đòn tiếp theo vào hệ thống hậu cần đặt tại Campuchia đã được thực hiện vào mùa xuân và mùa hè năm 1970, khi quân Mỹ và Việt Nam Cộng hòa vượt qua biên giới và tấn công các khu căn cứ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam trong chiến dịch Campuchia.

A further blow to the logistical system in Cambodia had come in the spring and summer of 1970, when U.S. and ARVN forces had crossed the border and attacked PAVN/VC Base Areas during the Cambodian Campaign.

WikiMatrix

Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Trong Kháng Chiến Chống Mỹ, Cứu Nước

Trong những năm 1959 – 1960, dưới ách đô hộ, kìm kẹp của chính quyền Ngô Đình Diệm, phong trào Đồng Khởi của nhân dân miền Nam phát triển mạnh mẽ, làm chủ nhiều thôn, xã, mở ra cục diện mới cho cách mạng miền Nam. Cục diện đó đòi hỏi phải có một tổ chức chính trị thích hợp và có uy tín, nhằm tập hợp, đoàn kết rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân, mọi lực lượng yêu nước, đưa cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân miền Nam giành thắng lợi từng bước, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn. Từ nhu cầu thực tiễn đó, ngày 20-12-1960, tại xã Tân Lập, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, Đại hội đại biểu các giai cấp, các tôn giáo, dân tộc toàn miền Nam đã quyết định thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Quyết định đó thể hiện tư duy, tầm nhìn chiến lược của Đảng ta đối với cách mạng miền Nam. Sự ra đời của Mặt trận đã góp phần to lớn vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Vai trò đó được thể hiện trên một số vấn đề cơ bản sau:

1. Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã đoàn kết mọi lực lượng yêu nước ở miền Nam, làm cơ sở để thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc. Trong suốt quá trình hoạt động, Mặt trận đã giương cao ngọn cờ đoàn kết các tầng lớp nhân dân, các giai cấp, dân tộc, đảng phái, đoàn thể, tôn giáo và thân sĩ yêu nước, không phân biệt xu hướng chính trị để đấu tranh đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai. Mặt trận chủ trương đoàn kết rộng rãi các lực lượng, nhằm bảo vệ độc lập, dân chủ, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc. Đây là một chủ trương đúng đắn, sáng tạo và phù hợp với thực tiễn cách mạng miền Nam lúc bấy giờ. Bằng nhiều biện pháp, Mặt trận đã đi sâu tuyên truyền, giáo dục cho các tầng lớp trong xã hội thấy rõ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân miền Nam; nhận rõ bộ mặt thật của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai; từ đó, vận động, hướng dẫn họ đứng vào mặt trận chống Mỹ, cứu nước, thông qua các hình thức đấu tranh: bãi công, bãi thị, mít tinh, v.v. Mặt trận còn xây dựng cơ sở cốt cán trong hàng ngũ trí thức, công chức, nhân sĩ, già làng; nắm lực lượng binh lính, dân vệ ở các dinh điền, buôn, ấp, vận động họ trở về với cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân. Đặc biệt, các thành phần cốt cán của Mặt trận còn đi sâu, bám sát phong trào đấu tranh cách mạng, xây dựng căn cứ kháng chiến, “lõm chính trị” vùng địch hậu; phát động phong trào phá ấp chiến lược, giải phóng nông thôn. Nhờ đó, chỉ trong thời gian ngắn, hội viên tham gia Mặt trận phát triển nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng; nếu năm 1961, Mặt trận chỉ có gần 40 vạn hội viên, đến năm 1962 đã tăng lên hàng triệu người. Mặt trận trở thành tâm điểm thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân có chung nguyện vọng hòa bình, giải phóng miền Nam. Dưới ngọn cờ đoàn kết của Mặt trận, vùng giải phóng ngày càng được mở rộng và củng cố: đến cuối năm 1965, có 4/5 diện tích đất đai của miền Nam và với hơn 10 triệu dân.

Cùng với tập hợp lực lượng, dưới sự lãnh đạo của Mặt trận, các tổ chức thành viên như: Hội Liên hiệp Thanh niên giải phóng; Hội Nông dân giải phóng; Hội Liên hiệp Phụ nữ giải phóng; Hội Lao động giải phóng,… đã nhanh chóng ra đời. Các Ủy ban Mặt trận, các ban tự quản nhân dân ở các địa phương được thành lập, ra mắt nhân dân và hầu hết các xã thuộc vùng giải phóng, vùng tranh chấp đều có cơ sở của Mặt trận. Hệ thống Ủy ban Mặt trận các cấp vừa là nơi tập hợp, đoàn kết các giới, các dân tộc, tôn giáo, các thành phần chính trị ở địa phương, vừa làm nhiệm vụ xử lý những công việc của các đơn vị hành chính kháng chiến, giữ gìn trật tự trị an, hướng dẫn quần chúng sản xuất, học tập,… và tiến hành nhiều biện pháp như: chia ruộng 1, giảm tô, xóa nợ. Với thực tế đó, Mặt trận tồn tại như một chính thể và Ủy ban Trung ương Mặt trận hoạt động như một chính phủ lâm thời, đại diện cho các vùng thuộc quyền kiểm soát, quản lý của mình. Trước sự phát triển mạnh mẽ của Mặt trận và cách mạng miền Nam, Trung ương Cục đã ra Chỉ thị 13-CTNT, ngày 25-5-1968 về đổi tên Ủy ban Mặt trận Dân tộc Giải phóng các cấp thành Ủy ban nhân dân cách mạng. Tiếp đó, từ ngày 06 đến ngày 08-6-1969, Đại hội đại biểu Quốc dân ở miền Nam đã quyết định thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, tạo vị thế chính trị mới cho phong trào đấu tranh của nhân dân miền Nam chống đế quốc Mỹ và chế độ ngụy quyền Sài Gòn.

2. Đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị; tăng cường triển khai các hoạt động đối ngoại, tạo sức mạnh tổng hợp cho cách mạng miền Nam. Thực hiện Cương lĩnh và Chương trình 10 điểm, phối hợp với hoạt động tác chiến của lực lượng vũ trang, Mặt trận đã lãnh đạo, tổ chức nhân dân đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị rộng khắp, sôi nổi trên cả ba vùng chiến lược, với nhiều hình thức, biện pháp thích hợp. Theo đó, Mặt trận đã động viên đông đảo quần chúng, các giới, các lực lượng tham gia chống địch càn quét, khủng bố, cô lập và tiêu diệt bọn đầu sỏ, ác ôn, vận động hàng vạn binh sĩ, nhân viên ngụy quyền về với nhân dân. Chỉ tính từ năm 1961 đến năm 1969, đã có hơn 140 triệu lượt đồng bào tham gia đấu tranh chính trị với nhiều phong trào tiêu biểu, như: phong trào đấu tranh của đồng bào Phật giáo cuối năm 1963, 3 vạn đồng bào thành phố Đà Nẵng tuần hành kết hợp với bãi chợ, bãi khóa ngày 24-8-1964, v.v. Điều đáng nói là phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân miền Nam không những phát triển ở nông thôn, mà còn phát triển mạnh mẽ, rộng khắp ở các đô thị miền Nam. Phong trào đấu tranh đó làm cho ngụy quyền tay sai lung lay tận gốc rễ, làm rối loạn tận sào huyệt của Mỹ, tạo điều kiện để đồng bào ta diệt ác ôn, phá kìm kẹp, giành quyền làm chủ ở nhiều địa phương, khu vực.

3. Tích cực tham gia xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân hùng hậu, làm nòng cốt cho chiến tranh nhân dân để đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ. Trên cơ sở Cương lĩnh và Chương trình hành động đã xác định, Mặt trận tích cực tập hợp lực lượng, tiến hành xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang nhân dân; tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao, chống lại sự can thiệp của Mỹ, chính quyền Sài Gòn và các đồng minh của Mỹ. Đây là bước phát triển mới, sáng tạo của Mặt trận, góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Theo đó, Mặt trận đã tổ chức vận động, giác ngộ nhân dân, nhất là lực lượng chính trị quần chúng tham gia lực lượng vũ trang ba thứ quân, đặc biệt là tham gia các đội vũ trang tự vệ, dân quân du kích, vừa sản xuất, vừa chiến đấu; các đoàn thể đẩy mạnh xây dựng xã chiến đấu, phát triển lực lượng du kích, tự vệ, biệt động, tổ chức đánh địch mọi lúc, mọi nơi, v.v.

Đầu năm 1961, đế quốc Mỹ tăng cường can thiệp vũ trang vào miền Nam. Chúng thực hiện chiến lược “chiến tranh đặc biệt” với thủ đoạn dùng người Việt đánh người Việt bằng đô la và cố vấn Mỹ; xây dựng, triển khai kế hoạch “ấp chiến lược” hòng tách rời nhân dân ra khỏi lực lượng của Mặt trận. Trước tình hình đó, Uỷ ban Trung ương lâm thời Mặt trận kêu gọi nhân dân miền Nam tập trung mọi nỗ lực, kiên quyết đánh thắng “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ và quân đội Sài Gòn. Theo đó, lực lượng vũ trang miền Nam nhanh chóng phát triển từ các đơn vị bộ đội địa phương, dân quân du kích, lên các tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn chủ lực; từ tác chiến du kích tiến lên tác chiến lớn bằng các đơn vị chủ lực; từ những trận có tính chất thăm dò tiến tới đánh thắng những trận then chốt, quyết định, đập tan các chiến lược, chiến thuật quân sự của Mỹ, như: chiến thắng Núi Thành, Ba Gia, Bầu Bàng, Plâyme, v.v. Dưới sự lãnh đạo của Mặt trận, các tầng lớp nhân dân miền Nam đã phối hợp chặt chẽ với hoạt động tác chiến của Quân giải phóng, tiến hành nhiều hình thức đấu tranh bằng “hai chân, ba mũi, ba vùng”, kết hợp đấu tranh trên cả ba mặt trận: chính trị, quân sự và ngoại giao; kết hợp tiến công và nổi dậy, tổng khởi nghĩa, tổng tiến công,… tạo ra sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, đánh bại từng chiến lược chiến tranh, tiến lên đánh bại hoàn toàn chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ.

Sự ra đời và hoạt động hiệu quả của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam cho thấy vai trò, tầm quan trọng của Mặt trận đối với cách mạng miền Nam; qua đó, khẳng định đường lối cách mạng đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta. Sự ra đời đó đáp ứng yêu cầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và khát vọng cháy bỏng của nhân dân hai miền vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trong 16 năm thực hiện sứ mệnh lịch sử giao phó (20-12-1960 – 31-01-1977), Mặt trận đã khẳng định vai trò to lớn trong việc tập hợp, đoàn kết mọi lực lượng, xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân vững mạnh, tạo sức mạnh tổng hợp để hoàn thành thắng lợi cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ của dân tộc.

1 – Đến hết năm 1965, chính quyền cách mạng đã chia 70% diện tích canh tác cho nông dân không có ruộng.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Họp Mặt Truyền Thống Kỷ Niệm 60 Năm Ngày Thành Lập Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam trên website Asianhubjobs.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!