Đề Xuất 1/2023 # Hướng Dẫn Giải Toán Có Lời Văn # Top 7 Like | Asianhubjobs.com

Đề Xuất 1/2023 # Hướng Dẫn Giải Toán Có Lời Văn # Top 7 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Hướng Dẫn Giải Toán Có Lời Văn mới nhất trên website Asianhubjobs.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Điều 2- Luật phổ cập giáo dục tiểu học có nêu : Bậc tiểu học được coi là Bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, có nhiệm vụ xây dựng và phát triển tình cảm đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và thể chất của trẻ em, nhằm hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển toàn diện nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa” . Điều đó cho thấy rằng, những gì được hình thành ở bậc Tiểu học sẽ theo suốt cuộc đời mỗi con người và rất khó thay đổi, khó hình thành lại. Vì thế những gì trẻ em không đạt được ở bậc học này khó có thể bù đắp được ở bậc học sau. Với vị trí và tầm quan trọng của bậc Tiểu học như vậy nên việc dạy học, giáo dục ở bậc học này có ý nghĩa đặc biệt, trong đó phải kể đến vai trò của người giáo viên với việc giảng dạy các môn học. Trong tất cả các môn học ở bậc Tiểu học, Toán học là môn đặc biệt có vị trí quan trọng không thể thiếu đối với các em. Đặc biệt trong đời sống và khoa học kĩ thuật hiện đại. Nó góp phần đào tạo học sinh trở thành con người phát triển toàn diện, năng động, sáng tạo đáp ứng được mọi nhu cầu phát triển của khoa học công nghệ trong xã hội thời kì đổi mới. Việc dạy học giải toán ở tiểu học. Nhằm giúp học sinh biết cách vận dụng những kiến thức về toán, được rèn luyện kĩ năng thực hành,với những yêu cầu được thể hiện một cách đa dạng, phong phú. Nhờ việc dạy học giúp học sinh có điều kiện rèn luyện và phát triển năng lực tư duy, rèn phương pháp suy luận và những phẩm chất của con người lao động mới. Ngoài ra môn Toán lớp 1 còn mở đường cho trẻ đi vào thế giới kỳ diệu của toán học, rồi mai đây các em lớn lên trở thành anh hùng, nhà giáo, nhà khoa học, nhà thơ trở thành những người lao động sáng tạo trên mọi lĩnh vực đời sống và sản xuất, nhưng không bao giờ các em quên được những ngày đầu tiên đến trường học đếm và tạp viết 1,2,3 học các phép tính cộng, trừ các em không thể quên được vì đó là kỉ niệm đẹp nhất của đời người và hơn thế nữa những con số, những phép tính đơn giản ấy rất cần thiết luôn đi cùng các em đến trọn cuộc đời. Trong dạy học toán thì giải toán có lời văn là loại toán riêng biệt là biểu hiện đặc trưng của trí tuệ. Đây chính là mục tiêu của việc dạy học toán ở tiểu học nói chung và giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1 nói riêng. Giải toán có lời văn đối với học sinh lớp 1 phải nói đó là một loại toán khó. Vì vậy, bản thân tôi rất trăn trở và suy nghĩ nhiều để làm sao học sinh không chỉ làm được các phép tính cộng, trừ mà cao hơn nữa là việc làm tốt phần giải toán có lời văn nên tôi đi sâu về nghiên cứu dạy giải toán có lời văn ở lớp 1 thông qua đề tài : Kinh nghiệm về giải toán có lời văn ở lớp 1. II. Nội dung và phương pháp giải quyết : 1/ Quá trình phát triển kinh nghiệm: Trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy hầu như giáo viên nào cũng phàn nàn khi dạy đến phần giải toán có lời văn ở lớp 1. Học sinh rất lúng túng khi nêu câu lời giải, thậm chí nêu sai câu lời giải, viết sai phép tính, viết sai đáp số. Những tiết đầu tiên của giải toán có lời văn mỗi lớp chỉ có khoảng 15% số học sinh biết nêu lời giải, viết đúng phép tính và đáp số. Số còn lại là rất mơ hồ, các em chỉ nêu theo quán tính hoặc nêu miệng thì được nhưng khi viết các em lại rất lúng túng, làm sai, một số em làm đúng nhưng khi cô hỏi lại lại không biết để trả lời. Chứng tỏ các em chưa nắm được một cách chắc chắn cách giải bài toán có lời văn. Giáo viên phải mất rất nhiều công sức khi dạy đến phần này. a/ Thực trạng ban đầu : Lớp 1D năm học 2008 – 2009 có 32 học sinh và Lớp 1C năm học 2009 – 2010 có 34 học sinh . -Trong đó đa số các học sinh gia đình các em đều làm nghề buôn bán nhỏ, nên sự quan tâm kèm cặp còn hạn chế. – Nhiều em hoàn cảnh gia đình khó khăn cha mẹ đi làm thuê mướn kiếm sống qua ngày hoặc một số em bố mẹ đi làm ăn xa phải ở với ông bà nên việc học tập của các em thực sự chưa được quan tâm đúng mức, gần như khoán trắng cho giáo viên . – Một số gia đình do cha mẹ không biết chữ do vậy không thể kèm cặp hay dạy dỗ cho con em mình được. Đây thực sự là những vấn đề nan giải và thách thức cho giáo viên đứng lớp. b/ Nguyên nhân : * Từ phía học sinh : – Do học sinh mới bắt đầu làm quen với dạng toán này lần đầu, tư duy của các em còn mang tính trực quan là chủ yếu. Mặt khác ở giai đoạn này các em chưa đọc thông viết thạo, các em đọc còn đánh vần nên khi đọc xong bài toán rồi nhưng các em không hiểu bài toán nói gì, thậm chí có những em đọc đi đọc lại nhiều lần nhưng vẫn chưa hiểu bài toán . Vì vậy học sinh không làm đúng cũng là điều dễ hiểu . – Một số gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn phải lo mưu sinh nên không quan tâm đến việc học tập của các em dẫn đến việc bị lỗ hổng về kiến thức, giải toán có lời văn còn lơ mơ . Các em chưa biết điền phần bài toán cho biết vào tóm tắt của bài toán. Đặc biệt nhiều em chưa biết viết câu lời giải khi giải bài toán. * Từ phía giáo viên : – Giáo viên chưa chuẩn bị tốt cho các em khi dạy những bài trước. Những bài nhìn hình vẽ viết phép tính thích hợp, đối với những bài này hầu như học sinh đều làm được nên giáo viên tỏ ra chủ quan, ít nhấn mạnh hoặc không chú ý lắm mà chỉ tập trung vào dạy kĩ năng đặt tính, tính toán của học sinh mà quên mất rằng đó là những bài toán làm bước đệm , bước khởi đầu của dạng toán có lời văn sau này. Đối với giáo viên dạy lớp 1 khi dạy dạng bài nhìn hình vẽ viết phép tính thích hợp, cần cho học sinh quan sát tranh tập nêu bài toán và thường xuyên rèn cho học sinh thói quen nhìn hình vẽ nêu bài toán . Có thể tập cho những em học sinh giỏi tập nêu câu trả lời, cứ như vậy trong một khoảng thời gian chuẩn bị như thế thì lúc học đến phần bài toán có lời văn học sinh sẽ không ngỡ ngàng và các em sẽ dễ dàng tiếp thu, hiểu và giải đúng . – Giáo viên chưa yêu cầu học sinh đọc kĩ bài toán, xem bài toán cho biết gì ? Bài toán hỏi gì ? Qua thực trạng và nguyên nhân trên, tôi đã đề ra một số biện pháp giải quyết cụ thể giúp cho học sinh nắm được một cách chắc chắn cách giải bài toán có lời văn. 2/ Biện pháp giải quyết : Việc dạy học giải toán có lời văn là giúp học sinh tự tìm hiểu được mối quan hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm trong điều kiện bài toán mà thiết lập các phép tính số học tương ứng, phù hợp. Để có thể làm được điều đó việc dạy giải toán có lời văn cần phải theo các trình tự từ thấp đến cao như sau : a. Phần chuẩn bị của giáo viên : -Trước hết tôi phải nghiên cứu kĩ bài dạy và tìm xem đồ dùng nào phù hợp với bài dạy như : nhóm đồ vật, mẫu hình, tranh vẽ. b. Hoạt động làm quen với việc giải toán có lời văn được thực hiện qua các bước sau: *Bước 1 :Tìm hiểu nội dung bài toán: Việc tìm hiểu nội dung bài toán ( đề toán ) thường thông qua việc đọc đề toán ( Dù bài toán cho dưới dạng lời văn hoàn chỉnh, hoặc bằng dạng tóm tắt sơ đồ). Học sinh cần phải đọc kĩ , hiểu rõ bài toán cho biết cái gì , cho biết điều kiện gì ,bài toán hỏi gì ? Khi đọc bài toán học sinh phải hiểu thật kĩ một số từ, thuật ngữ quan trọng chỉ rõ tình huống toán học. được diễn đạt theo ngôn ngữ thông thường như : “bán đi”,”thêm vào”, “lấy ra” Nếu trong bài toán có thuật ngữ nào học sinh chưa hiểu rõ, tôi hướng dẫn học sinh hiểu từ đó và hiểu nội dung ý nghĩa của từ đó trong bài toán đang làm. Sau đó học sinh thuật lại vắn tắt bằng lời mà không cần đọc lại bài toán đó. *Bước 2 : Tìm cách giải toán Hoạt động tìm cách giải bài toán gắn liền với việc phân tích các dữ liệu, điều kiện và câu hỏi của bài toán, nhằm xác định mối quan hệ giữa chúng và tìm được các phép tính số học thích hợp. *Bước 3 :Thực hiện các bước giải bài toán và kiểm tra cách giải bài toán. Trong chương trình toán lớp 1 giai đoạn đầu học sinh còn đang học chữ nên chưa biết hết tất cả các con chữ và vần nên vào tuần 21 học sinh chỉ học “Bài toán có lời văn” với yêu cầu bước đầu hình thành nhận biết về bài toán có lời văn và phải đến tuần 22, học sinh mới chính thức học cách giải “Giải toán có lời văn” song để giúp các em học tốt phần này thì ngay từ đầu năm học tôi đã tiến hành giảng dạy theo từng cấp độ nâng dần với mục đích cuối cùng là các em giải được toán có lời văn. Cấp độ 1: Ngay từ đầu học kỳ I các bài toán được giới thiệu ở mức độ nhìn hình vẽ – viết phép tính. Mục đích cho học sinh hiểu bài toán qua hình vẽ, suy nghĩ chọn phép tính thích hợp. Thông thường sau mỗi phép tính ở phần luyện tập có một hình vẽ gồm 5 ô vuông cho học sinh chọn ghi phép tính và kết quả phù hợp với hình vẽ. Ban đầu để giúp học sinh dễ thực hiện sách giáo khoa ghi sẵn các số và kết quả : Ví dụ: Bài Luyện tập (Sách Toán lớp 1 trang 45 – 46) * Bài tập 5 : Viết phép tính thích hợp : Câu a) 1 2 = 3 Bài này quá đơn giản vì chỉ yêu cầu học sinh viết dấu cộng vào ô trống để có phép tính : 1 + 2 = 3 Câu b) Đến câu này mức độ đã được nâng dần – học sinh phải viết cả phép tính và kết quả : 1 + 1 = 2 * Sang bài : Phép cộng trong phạm vi 9 (Sách Toán lớp 1 trang 76 – 77) Bài tập 4 : Viết phép tính thích hợp : phần yêu cầu đã được tăng dần lên, học sinh có thể nhìn từ một tranh vẽ diễn đạt theo 2 cách : . Câu a) Cách 1: Có 8 hộp thêm 1 hộp , tất cả là 9 hộp. 8 + 1 = 9 Cách 2: Có 1 hộp chất lên chỗ 8 hộp , tất cả là 9 hộp. 1 + 8 = 9 Tương tự với câu b : Có 7 bạn và 2 bạn đang đi tới. Tất cả là 9 bạn. Cách 1: 7 + 2 = 9 Cách 2: 2 + 7 = 9 * Đến bài : Luyện tập (Sách Toán lớp 1 trang 85) Bài 3 : Viết phép tính thích hợp Học sinh quan sát và cần hiểu được: Lúc đầu trên cành có 10 quả. Sau đó rụng 2 quả . Còn lại trên cành 8 quả. 10 - 2 = 8 Lúc này, tôi thực hiện việc động viên các em diễn đạt , trình bày miệng ghi đúng phép tính . Tư duy toán học được hình thành trên cơ s … theo phân phối chương trình . Tuy nhiên, việc phân tích đề- tóm tắt- giải bài toán phải luôn luôn được củng cố duy trì và nâng dần mức độ. Song cơ bản vẫn là các mẫu lời giải cho các bài toán thêm là: – Có tất cả là: – Số ( đơn vị tính ) + có tất cả là: – Vị trí ( trong, ngoài, trên, dưới, …) + có tất cả là: – … đoạn thẳng….+ dài là: Tiết 105: Giải toán có lời văn (tiếp theo) Bài toán: Nhà An có 9 con gà, mẹ đem bán 3 con gà. Hỏi nhà An còn lại mấy con gà? Học sinh đọc phân tích bài toán : +Bài toán cho biết là gì? Có 9 con gà. Bán 3 con gà. +Bài toán hỏi gì ? Còn lại mấy con gà? Tôi hướng dẫn học sinh đọc tóm tắt- bài giải mẫu . Sau đó tôi giúp học sinh nhận thấy câu lời giải ở loại toán bớt này cũng như cách viết của loại toán thêm đã nêu ở trên chỉ khác ở chỗ cụm từ có tất cả được thay thế bằng cụm từ còn lại mà thôi.Cụ thể là : Bài giải Số gà còn lại là: 9 – 3 = 6( con gà) Đáp số: 6 con gà. Bài 1 trang148 Tóm tắt Bài giải Có : 8 con chim Số con chim còn lại là: Bay đi : 2 con chim 8 – 2 = 6( con chim) Còn lại :… con chim? Đáp số : 6 con chim. Bài 2 trang 149 Tóm tắt Bài giải Có : 8 quả bóng Số quả bóng còn lại là : Đã thả : 3 quả bóng 8 – 3 = 5( quả bóng) Còn lại :….quả bóng? Đáp số: 5 quả bóng Bài 3 trang 149 Tóm tắt Bài giải Đàn vịt có : 8 con Trên bờ có là: ở dưới ao : 5 con 8 – 5 =3 ( con vịt ) Trên bờ : … con? Đáp số: 3 con vịt . Tiết 106 Luyện tập Bài 1 trang 150 Tóm tắt Bài giải Có : 15 búp bê Số búp bê còn lại là : Đã bán : 2 búp bê 15 – 2 = 13 ( búp bê ) Còn lại : …. búp bê ? Đáp số: 13 búp bê Bài 2 trang 150 Tóm tắt Bài giải Có : 12 máy bay Số máy bay còn lại là Bay đi : 2 máy bay 12 – 2 = 10 ( máy bay) Còn lại : …. máy bay ? Đáp số: 10 máy bay Tiết 107 Luyện tập Bài 1 trang 151 Tóm tắt Bài giải Có : 14 cái thuyền Số cái thuyền còn lại là : Cho bạn : 4 cái thuyền 14 – 4 = 10 ( cái thuyền) Còn lại : …. cái thuyền ? Đáp số: 10 cái thuyền Bài 2 trang 151 Tóm tắt Bài giải Có tất cả : 9 bạn Số bạn nam tổ em có là : Trong đó : 5 bạn nữ 9 + 5 =14 ( bạn) Bạn nam : bạn ? Đáp số: 14 bạn ­Nhưng bài 4 trang 150 và bài 4 trang151 thì lời giải dựa vào dòng thứ 3 của phần tóm tắt bài toán: Số hình tam giác không tô màu là : Số hình tròn không tô màu là: 8 – 4 = 4( hình ) 15 – 4 = 11( hình ) Đáp số: 4 hình Đáp số: 11 hình ­ Bài 3 trang 151 Tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng ? cm 2cm 13 cm Bài giải Sợi dây còn lại dài là: 13 – 2 = 11( cm) Đáp số : 11cm Tiết 108 Luyện tập chung Đây là phần tổng hợp chốt kiến thức của cả 2 dạng toán đơn thêm và bớt ở lớp 1 Bài 1 trang 152 a) Bài toán : Trong bến có …..ô tô, có thêm….ô tô vào bến. Hỏi………………………………..? Học sinh quan sát tranh và hoàn thiện bài toán thêm rồi giải bài toán với câu lời giải có cụm từ có tất cả b) Bài toán : Lúc đầu trên cành có 6 con chim, có chúng tôi bay đi. Hỏi ………………….? Học sinh quan sát tranh rồi hoàn thiện bài toán bớt và giải bài toán với câu lời giải có cụm từ còn lại. Lúc này học sinh đã quá quen với giải bài toán có lời văn nên hướng dẫn cho học sinh chọn cách viết câu lời giải gần với câu hỏi nhất đó là: Đọc kĩ câu hỏi. Bỏ chữ Hỏi đầu câu hỏi. Thay chữ bao nhiêu bằng chữ số. Thêm vào cuối câu chữ là và dấu hai chấm Cụ thể Bài 1 trang 152 a)Câu hỏi là: Hỏi có tất cả bao nhiêu ô tô? Câu lời giải là: Có tất cả số ô tô là : b)Câu hỏi là: Hỏi trên cành còn lại bao nhiêu con chim? Câu lời giải là: Trên cành còn lại số con chim là : Hoặc : Số con chim trên cành còn lại là : Ví dụ khác: Câu hỏi là: Hỏi hai lớp trồng được tất cả bao nhiêu cây ? Câu lời giải là: Hai lớp trồng được tất cả số cây là : Hoặc : Số cây hai lớp trồng được tất cả là : Câu hỏi là: Hỏi con sên bò được tất cả bao nhiêu xăng-ti-mét? Câu lời giải là: Con sên bò được tất cả số xăng-ti-mét là. Hoặc : Số xăng-ti-met con sên bò được là : Câu hỏi là: Hỏi Lan còn phải đọc bao nhiêu trang nữa thì hết quyển sách? Câu lời giải là: Lan còn phải đọc số trang nữa là. Hoặc Số trang Lan còn phải đọc nữa là: 3 . Kết quả thực hiện : Năm học Các lần khảo sát Lớp Sĩ số Số học sinh làm đúng cả 3 bước 2008-2009 Giữa HKII 1D 32 18 56,3% Cuối kì II 1D 32 29 90,6% 2009-2010 Giữa HKII 1C 34 21 61,8% Cuối kì II 1C 34 33 97,1% Như vậy với bảng kết quả trên cho thấy phương pháp dạy đi từ dễ đến khó mà tôi nêu đã giúp học sinh có thể giải toán một cách có hiệu quả. Tất cả học sinh yếu của lớp tôi đã tiếp thu được kiến thức về giải toán có lời văn và các em có thể tự tin trong việc học và vận dụng giải toán có lời văn sau này .Nên có thể nói rằng phạm vi tác dụng của sáng kiến này có thể áp dụng được cho các trường khác trong thị xã . 4 / Nguyên nhân thành công : – Gia đình học sinh có sự liên hệ thường xuyên và mật thiết với giáo viên nên đã tiếp sức thêm cho giáo viên bằng cách rèn luyện cho các em ở nhà. – Giáo viên đã có sự đầu tư, chuẩn bị tốt từ lúc đầu nên học sinh nhanh chóng tiếp thu được những nội dung mà giáo viên đã truyền đạt. – Giáo viên được tham gia tập huấn, dự giờ thường xuyên , từ đó giúp giáo viên nắm được các mục tiêu chính trong phần dạy giải toán có lời văn cho học sinh. – Giáo viên chủ nhiệm đã nhận được những chỉ đạo đúng đắn ,kịp thời về chuyên môn của Ban giám hiệu trường, của tổ chuyên môn và của những giáo viên dạy lâu năm có nhiều kinh nghiệm trong dạy học. – Đồ dùng dạy học được trang bị khá đầy đủ, tranh ảnh đẹp kích thích học sinh ham học, ham tìm hiểu. – Học sinh có sự phấn đấu , nỗ lực trong học tập nhờ vào sự động viên, khuyến khích kịp thời của bạn bè, anh chị, của cha mẹ học sinh , của ông bà và quan trọng nhất là của giáo viên chủ nhiệm. – Hội phụ huynh học sinh đã có nhiều hỗ trợ về tinh thần lẫn vật chất đối với các em học sinh yếu, giúp các em an tâm đến trường. 5 / Tồn tại cần khắc phục : – Đối với học sinh : + Một số em lười biếng thích đi chơi không lo học hành. + Nhiều em do chưa qua mẫu giáo nên khả năng giao tiếp còn hạn chế : các em còn nhút nhát, ít phát biểu, chưa tự tin trong việc học tập. + Học sinh về nhà ít thời gian nghiên cứu thêm nên phần lớn chỉ phụ thuộc vào bài tập được giao trên lớp. – Đối với cha mẹ học sinh : + Cần phải quan tâm nhiều hơn nữa đối với việc học của học sinh. + Tránh tuyệt đối việc giao khoán tất cả mọi vấn đề cho nhà trường và giáo viên chủ nhiệm. + Cần phải tìm hiểu thêm về tâm tư tình cảm của con mình để giúp trẻ vượt qua những khó khăn trong học tập cũng như trong cuộc sống. + Tránh đặt ra nhiều áp lực học tập quá cao cho trẻ dễ làm trẻ bị hụt hẩng sinh ra tự ti, mặc cảm với mọi người. + Cần hợp tác với giáo viên chủ nhiệm trên tinh thần xây dựng và tôn trọng lẫn nhau. Đối với giáo viên : + Khả năng bản thân giáo viên có hạn , tài liệu tham khảo ít nên phạm vi nghiên cứu có phần hạn chế. + Cần phải mạnh dạn vận dụng thêm những biện pháp mới hoặc những sáng kiến hay của đồng nghiệp. 6/ Bài học kinh nghiệm : Sau khi đi sâu nghiên cứu về giải toán có lời văn, tôi đã rút ra được một số kinh nghiệm như sau: – Nên mạnh dạn chuyển một số bài thành trò chơi để thay đổi hình thức học tập giúp học sinh củng cố kỹ năng thực hành, gây hứng thú học tập. – Khi soạn giáo án cần lưu ý kiến thức phải chuẩn xác đầy đủ nội dung của bài. – Nếu gặp khó khăn trong khi đặt đề toán thì cho học sinh nhìn tranh để trả lời câu hỏi hoặc có vật mẫu (bướm, chim, gà, vịt,) gắn lên bảng từ hoặc dùng tóm tắt để hỗ trợ học sinh đặt đề toán. – Nên dùng nhiều câu hỏi để kích thích năng lực tư duy cho trẻ. -Phải luôn động viên những học sinh yếu. -Tăng cường kỹ năng thực hành bằng các phiếu học tập. – Cần nhấn mạnh hơn đến việc cung cấp cho học sinh những kiến thức, kỹ năng cơ bản, thiết thực, có hệ thống trong sự hoàn chỉnh tương đối của các kiến thức và kỹ năng đó. – Quan tâm đúng mức đến việc rèn kĩ năng diễn đạt, ứng xử, giải quyết các tình huống có vấn đề. – Xây dựng được phương pháp, hình thức học toán theo hướng tập trung vào học sinh, giúp các em biết tự học toán có hiệu quả. – Không nên vội vàng yêu cầu học sinh phải đọc thông, viết thạo đề toán ngày từ bài đầu, giáo viên luôn luôn bình tĩnh rèn cho học sinh sẽ đạt được yêu cầu. III/ Kết luận : Qua quá trình giảng dạy tôi nhận thấy: Chương trình thay sách giáo khoa mới có nhiều sự đổi mới cả nội dung và hình thức của sách, đổi mới về cách đánh giá cũng như về phương pháp giảng dạy, các em được phát huy hết khả năng của mình, kiến thức được mở rộng, nâng cao dần chuẩn bị tốt cho việc theo học các lớp cao hơn. Tuy vậy việc áp dụng các phương pháp dạy học một cách máy móc, rập khuôn là không thể có hiệu quả nếu như người giáo viên không quan tâm đúng mức và không có tinh thần đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực. Do vậy tôi đã bước đầu nghiên cứu và áp dụng một hình thức mới nhằm giúp việc giảng dạy giải toán có lời văn đạt hiệu quả . Tôi thiết nghĩ mỗi người giáo viên biết cách khơi gợi, kích thích và tổ chức cho học sinh biết cách tự học, từ đó tạo hứng thú giúp các em bộc lộ cảm xúc, ý nghĩ của mình một cách hồn nhiên độc đáo là điều mà giáo viên cần làm. Tất nhiên để có dược kinh nghiệm dạy giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1, người giáo viên phải dày công nghiên cứu tài liệu và theo dõi học sinh qua nhiều năm, nắm bắt được điểm yếu của học sinh để tập trung khắc phục . Có như vậy việc giảng dạy và giáo dục mới thành công như mong muốn. Long Hưng , ngày 15 tháng 10 năm 2010 Người viết Phan Thanh Yên

Hướng Dẫn Học Sinh Giải Toán Có Lời Văn

Phan Thơ Đào Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn

Tên đề tài: Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn ở HS tiểu học 1 – Đặt vần đề : – Môn toán là môn học có vị trí vô cùng quan trọng ở các cấp học , bậc học , ngành học, là môn học thể hiện sự tư duy , năng động, trí tuệ sáng tạo của con người . – Trong dạy học toán ở phổ thông nói chung, ở tiểu học nói riêng giải toán có một vị trí vô cùng quan trọng . + Trước hết dạy học giải toán giúp học sinh luyện tập củng cố vận dụng các kiến thức và thao tác thực hành đã học , rèn luyện kỹ năng tính toán , từng bước tập dợt vận dụng kiến thức và rèn luyện kỹ năng thực hành vào thực tiễn . + Qua việc dạy – học giải toán giáo viên có thể giúp học sinh từng bước phát triển tư duy , rèn luyện phương pgháp và kỹ năng suy luận . + Qua giải toán học sinh rèn luyện được đức tính và phong cánh làm việc của người lao động như : ý chí khắc phục khó khăn , thói quen xét đoán , tính cẩn thận , chu đáo, cụ thể là làm việc có kế hoạch, có kiểm tra kết quả cuối cùng , hình thành rèn luyện khả năng suy nghĩ độc lập , linh hoạt . Xây dựng lòng ham thích , tìm tòi sáng tạo ở mức độ khác nhau từ đơn giản đến phức tạp . – Xét riêng về góc độ giải toán có văn ở tiểu học quá trình giải toán theo 4 bước. Bước 1 : tìm hiểu kỹ đầu bài Bước 2 : lập kế hoạch giải toán. Bước 3 : Thực hiện kế hoạch giải Bước 4 : Kiểm tra lời giải và đánh giá cách giải . – Trong 4 bước của quá trình giải toán có văn thì bước 1 ” Tìm hiểu kỹ đầu bài ” Có vị trí vô cùng quan trọng , có thể ví như “chiếc chìa khoá ” để mở ra kho tàng tri thức , bởi lẽ có làm tốt được bước này thì các bước sau mới đi đúng hướng và đạt kết quả cao. – Mặt khác vai trò của bước 1 trong giải toán còn có một ý nghĩa khác : Rèn luyện cho học sinh năng lực tìm hiểu vấn đề , năng lực phát hiện giải quyết vấn đề .

2 – Cơ sở lí luận :

Trang

1

Phan Thơ Đào Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn

Qua những năm giảng dạy thực tế, qua trao đổi với đồng nghiệp bản thân rút ra được một số kinh nghiệm để tăng cường sự hứng thú trong học tập cho HS, giúp các em chủ động tham gia tích cực các hoạt động học tập: a/ Thực hiện việc đổi mới trong phương pháp giảng dạy: Giáo viên phải chủ động thực hiện đổi mới cách giảng dạy, cách học của học sinh, đổi mới cách đánh giá học sinh theo tinh thần chỉ đạo của Bộ Giáo dục – Đào tạo từ đó sẽ có tác dụng tốt trong việc đưa học sinh từ vai trũ thụ động sang vai trũ chủ động trong việc tiếp thu kiến thức bài giảng. b/ Trong mỗi tiết học giáo viên cần quan tâm đến từng đối tượng HS tùy theo trỡnh độ HS, giáo viên sẽ giao những nhiệm vụ học tập vừa với sức học, tránh những yêu cầu quá dễ hoặc quá khó cho HS. c/ Dạy học theo nhúm, trỡnh độ: Một phương pháp giúp cho tất cả các HS cùng tiến bộ: Trong giảng dạy, người giáo viên luôn chú ý, quan tõm đến cách giải của từng học sinh để đưa ra các phương pháp giải tóan có lời văn phù hợp từng trỡnh độ các em. Nên tôi đó đưa ra sáng kiến kinh nghiệm: ” Hướng dẫn học sinh giải tóan có lời văn ở HS tiểu học” cho mọi người cùng đóng góp.

3 – Cơ sở thực tiễn: – Qua quan sát quá trình giải toán của học sinh tiểu học ta thấy học sinh có thể sử dụng nhiều thủ thuật dựa trên việc tái hiện các mẫu đã biết hoặc trên cơ sở vận dụng các kiến thức đã học . Tuy nhiên do sự chú ý chưa bền vững khả năng tập trung tư tưởng vào mục đích cuối cùng của bài toán còn hạn chế nên khi giải toán học sinh ít có khả năng ý thức được các thao tác kế tiếp nhau trong quá trình suy luận . – Trong quá trình giải toán có văn cũng như vậy nhất là khi thực hiện bước 1 ” tìm hiểu kỹ đầu bài ” nhiều học sinh còn gặp khó khăn và thường mắc 1 số sai lầm như: bị nhầm lẫn, ngộ nhận bởi các từ “cảm ứng” các từ này thường gợi ra các phép tính cụ thể hoặc bị lôi cuốn vào các dữ kiện , điều kiện thừa hoặc yếu tố không tường minh. – Học sinh khó phân biệt được dữ kiện và điều kiện , không xác định được nội dung yêu cầu của bài đó nên học sinh gặp khó khăn trong giải toán . – Chính vì nhận thức được vai trò quan trọng của giải toán có văn và đặc biệt là bước 1 ” tìm hiểu kỹ đầu bài”. Trong những năm qua khi trực tiếp giảng dạy các khối lớp tôi đã thực hiện tốt vấn đề này và đạt đượckết quả khả quan. Trong kinh nghiệm này tôi trình bày một số khó khăn mà học sinh tiểu học thường gặp khi giải toán có văn đặc biệt là những khó khăn gặp phải khi thực hiện bước 1″ tìm hiểu kỹ đầu bài ” và đưa ra một số giải pháp khắc phục những khó khăn đó.

4 – Nội dung nghiên cứu: Trang

2

Phan Thơ Đào Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn

I- Những vấn đề chung Muốn giảng dạy tốt toán có văn ở tiểu học đặc biệt là thực hiện bước một” tìm hiểu kỹ đầu bài”thì người giáo viên phải nắm được vai trò của bước 1 và những công việc mà trong bước 1phải thực hiện. 1) Vai trò của bước 1″ tìm hiểu kỹ đầu bài”trong giải toán có văn. – Bước 1 là bước” tìm hiểu kỹ đầu bài” có vị trí vô cùng quan trọng, trong bước này học sinh phải đọc kỹ đầu bài xác định được yếu tố cơ bản của bài toán( dữ kiện, điều kiện và ẩn số) phải tóm tắt được bài toán. – Thực tế cho thấy học sinh tiểu học gặp nhiều khó khăn khi phân biệt các yếu tố cơ bản của bài toán, khó nhận thức được tính chất của cái đã cho, dễ nhầm cái cần tìm với cái đã cho. Nhất là không nhận thức được vai trò của câu hỏi trong bài toán, khó nhận rõ quan hệ lôgíc giữa dự kiện và ẩn số. – Nội dung bài toán ở tiểu học thường nêu ra những tình huống quen thuộc gần gũi với học sinh, trong đó các dự kiện thường là các đại lượng. khi các em tìm hiểu đầu bài toán thì các em thường bị phân tán vào nội dung cụ thể của đại lượng hơn là vào các yếu tố cần thiết cho việc diễn tả điều kiện của bài theo yêu cầu của câu hỏi. – Trong các bài toán của tiểu học, các dự kiện thường là không thừa hoặc không thiếu. Vì vậy học sinh tiểu học thường quan niệm bài toán bao giờ cũng có đáp số, vấn đề là tìm cách nào đó để có đáp số. Nhưng khi mà đề toán ra ngoài cách đó thì học sinh rất lúng túng kể cả học sinh giỏi. – Nhiều bài toán ở tiểu học chứa các từ gọi là” chìa khoá” hay từ”cảm ứng mà nội dung của nó thường gợi ra những phép tính cụ thể: Chẳng hạn” thêm” gợi các phép tính cộng’ bớt”gợi phép tính trừ..nhiều trường hợp do học sinh không đọc kỹ đầu bài mà các em bị ám ảnh bởi tác dụng “cảm ứng”đó và chọn sai phép tính. – Học sinh tiểu học thường xử lý các điều kiện và dữ kiện theo trình tự đưa ra trong đầu bài toán hoặc theo tiến trình diễn biến của sự việc. Nếu đảo ngược các các sự việc hay trình bày các dữ kiện khác với thứ tự thì nhiều học sinh còn gặp khó khăn. – Nhiều bài toán có dữ kiện đưa ra không tường minh cũng là một vấn đề khó đối với học sinh tiểu học. Tóm lại : Bước 1 trong giải toán có văn có vị trí vô cùng quan trọng , bởi vì chỉ khi xác định được nội dung , yêu cầu của đầu bài thì học sinh mới dễ dàng tìm ra cách giải . Như vậy có thực hiện được tốt được bước 1 thì các bước sau mới đi đúng hướng và đạt kết quả cao.

Trang

3

Phan Thơ Đào Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn

2 . Những công việc của bước 1. – Việc 1. đọc kỹ đầu bài : trước hết muốn hiểu đầu bài học sinh cần hiểu rõ cách diễn đạt bằng lời văn của bài toán . Nắm được ý nghĩa và nội dung của đầu bài . Giáo viên có thể yêu cầu học sinh nhắc lại nội dung của bài toán ( không cần thuộc lòng ) – Việc 2 : Xác định yếu tố cơ bản của bài toán + Dữ kiện : là cái đã cho , đã biết trong đầu bài , thường được biểu diễn bằng danh số . + ẩn số : là cái chưa biết cần tìm ( là các câu hỏi của bài toán ) + Điều kiện : Là quan hệ giữa dữ kiện và ẩn số . – Việc 3 : Tóm tắt đề toán . tóm tắt bài toán phải đạt các yêu cầu sau : + Ngắn gọn cô đọng + Thể hiện được mối quan hệ logic giữa dữ kiện , ẩn số và điều kiện . + Gợi ý được cách giải Ví dụ : Một hình thang có độ dài 2 đáy lần lượt là 110 mét và 90,2 mét. Chiều cao bằng trung bình cộng 2 đáy. Tính diện tích thửa ruộng đó ( Bài 3 trang 94 SGK toán 5 ) Dữ kiện :Hai đáy là : 110 mét và 90,2 mét ẩn số

: Tính diện tích thửa ruộng.

Điều kiện : Chiều cao bằng trung bình cộng 2 đáy. II/ Những khó khăn thường gặp của học sinh tiểu học khi thực hiện bước 1 và những giải pháp khắc phục khó khăn . 1. Khó khăn thứ nhất là : Bài toán có chứa các từ ” Cảm ứng ” hay từ ” chìa khoá ” Thì học sinh thường lầm lẫn ,ngộ nhận bởi vì các từ này thường gợi ra phép tính cụ thể như :” Gấp lên ” hoặc ” giảm đi ” bao nhiêu lần gợi ra phép tính nhân hoặc chia tương ứng chúng tôi không đọc kỹ đầu bài nên một số học sinh đã lầm lẫn ,ngộ nhận khi gặp phải các từ cảm ứng đó dẫn đến việc chọn sai phép tính và kết quả sai Ví dụ : Bao thứ nhất đựng 10 kg gạo như vậy đựng gấp đôi bao thứ hai . Hỏi bao thứ hai đựng bao nhiêu kg gạo ? Dữ kiện : Bao thứ nhất đựng 10 kg

Trang

4

Phan Thơ Đào Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn

Điều kiện : Bao thứ nhất đựng gấp đôi bao thứ hai ẩn số :Tính số kg gạo bao thứ hai . Do đầu bài có chức từ ” Cảm ứng ‘ ” gấp đôi ” nó gợi cho học sinh làm phép tính nhân . Do nhầm lẫn ,ngộ nhận bởi từ ” cảm ứng ” đó nên một số học sinh xác định sai và giải sai bài toán . Thực chất từ ” gấp đôi ” này phải làm phép chia . – Biện pháp khắc phục khó khăn trên . + Yêu cầu học sinh đọc kỹ đầu bài ,diễn tả đầu bài theo ý kiến của mình . + Cần hướng dẫn học sinh xử lý và phát hiện các dữ kện và điều kiện của bài toán .thấy được mối quan hệ giữa cái đã cho và cái cần tìm . + Nhận thức một cách đúng đắn các từ “cảm ứng” đó. + Lật đi lật lại vấn đề cho học sinh hiểu mối quan hệ giữa cái đã cho và cái cần tìm ( bao nào nhiều hơn ? bao nào ít hơn ? …) ,từ đó gợi được cách giải cho học sinh . 2. Khó khăn thứ hai ; Khi đầu bài có chứa các yếu tố không tường minh thì học sinh thường không phát hiện ra yếu tố không tuờng minh đó .Do vậy việc xác định nội dung yêu cầu của đầu bài không chính xác ,không đủ dẫn đến giải sai . Ví dụ :Cả hai hộp có 12,8 kg chè . Hếu chuyển hộp thứ nhất sang hộp thứ hai 0,4 kh chè thì số kg chè đựng trong mỗi hộp sẽ bằng nhau . hỏi trong mỗi hộp lúc đầu có bao nhiêu kg chè . Dữ kiện : Hai hộp có 12,8 kg chè Điều kiện : Chuyển 0,4 kg từ hộp 1 sang hộp 2 thì hai hộp có số kg chè bằng nhau ẩn số : Tìm số chè ở mỗi hộp lúc đầu ở bài này phần lớn học sinh không đọc kỹ đầu bài xác định sai điều kiện của đầu bài . Yếu tố không tường minh ở đây là khi chuyển 0,4 kg chè từ hộp 1 sang hộp 2 thì hai hộp có số kg chè bằng nhau . Phần đông học sinh xác định đúng dạng cơ bản của bài toán là loại toán tìm hai số khi biết tổng và hiệu . Nhưng xác định sai hiệu , đa số học sinh xác định 0,4 kg là hiệu . Nhưng ở bài này hiệu là 0,8 chứ không phải là 0,4 kg . do đó học sinh giải sai bài toán . – Biện pháp khắc phục khó khăn + yêu cầu học sinh đọc kỹ đầu bài , nêu lại đầu bài theo ý hiểu của mình . + Phân biệt được dữ kiện và điều kiện của đầu bài

Trang

5

Phan Thơ Đào Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn

+ Hướng dẫn học sinh phát hiện ra yếu tố không tường minh trong đầu bài . 3/ Khó khăn thứ ba Khi trong đầu bài có chứa các dữ kiện thừa thì học sinh không biết cách loại bỏ mà thường bị lôi cuốn vào các diều kiện thừa đó . Do đó dẫn đến việc tìm hiểu đầu bài gặp nhiều khó khăn . Ví dụ : Tâm cho Đào 5 cái kẹo . Đào cho Mai 3 cái , như vậy mỗi người có 9 cái kẹo . Trước khi cho cả ba người có bao nhiêu cái kẹo Điều kiện : Ba bạn Tâm , Đào , Mai mỗi ban có 9 cái Dữ kiện : Tâm cho Đào 5 cái ,Đào cho Mai 3 cái ẩn số : Cả ba bạn trước khi cho có mấy cái kẹo Bài này học sinh không phát hiện ra điều kiện cơ bản của bài toán là sau khi chop mỗi bạn có 9 cái . Do đầu bài có chứa cái dữ kiện thừa . Học sinh quan niệm bài toán bao giờ cũng có đầy đủ dữ kiên và điều kiện không thừa ,không thiếu lên nhiều học sinh lúng túng và giải sai bài toán . ở bài này chỉ cần quan tâm tới điều kiện ” Cả ba bạn mỗi người có 9 cái kẹo ” Vậy trước khi cho cả ba người có số kẹo: 9 x 3 = 27 cái – Biên pháp : Khắc phục khó khăn . + Yêu cầu học sinh cần đọc kĩ đầu bài + Xác định được nội dung ,yêu cầu của đầu bài với những cái đã cho và những cái cần tìm . + Biết cách loại bỏ các dữ kiện thừa không cần thiết nếu học sinh không biết thì giáo viên phải gợi ý bằng câu hỏi . + cần hướng dẫn học sinh tập chung vào cái cần tìm tránh phân tán vào các dự kiên thừa + Hướng dẫn học sinh cách sàng lọc và tóm tắt đề toán một cách cô đọng và gợi được cách giải cho học sinh . 4. Khó khăn thứ tư : Bài toán mà đưa ra các đơn vị đo không thống nhất thì nhiều học sinh còn cảm thấy lúng túng khó khăn trong việc xác định các yếu tố cơ bản của bài toán . Ví dụ : Tùng và Toàn chạy thi trên cùng một đoạn đường . Toàn chạy hết 11 phút . Tùng chạy hết giờ 1/10 giờ . Hỏi ai chạy nhanh hơn.

Trang

6

Phan Thơ Đào Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn

Trang

7

Phan Thơ Đào Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn

Trang

8

Phan Thơ Đào Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn

+ Hướng dẫn học sinh tóm tắt đề toán một cách chính xác, ngắn gọn được cách giải của bài toán.

5 – Kết quả nghiên cứu: Qua thực tế áp dụng vào giảng dạy trong nhiều năm tôi nhận thấy khi giáo viên phát hiện được những khó khăn mà học sinh thường gặp khi giải toán có văn và đưa ra cánh khắc phục như trên thì chất lượng giải toán có văn được nâng nên rõ rệt. Đặc biệt là học sinh tự tin hơn khi giải toán có văn . Tôi đã tiến hành làm một số trắc nghiệm để đối chứng kết quả giữa việc sử dụng kinh nghiệm này và dạy thông thường. Kết quả cụ thể như sau: Tôi cũng tiến hành khảo sát 10 học sinh theo 2 đề. +) Đề 1: Thực hiện phép tính tính giá trị của biểu thức, tìm x + Đề 2: Các bài toán có văn. * Khảo sát đầu năm: Tổng số học sinh là 10 Đề

Trang

9

Phan Thơ Đào Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn

Đó là những ý kiến của riêng tôi đã đúc kết được qua thực tế giảng dạy những năm qua. Những ý kiến đó có thể còn thiếu, cách giải quyết còn hạn chế mong thầy cô tham khảo góp ý để việc giải toán có văn đạt kết quả cao hơn.

An Bình, ngày 16 tháng 03 năm 2012 Người viết

Trang

10

Cách Hướng Dẫn Học Sinh Giải Toán Có Lời Văn Hiệu Quả

Toán có lời văn là dạng Toán có kiến thức thường gắn bó với cuộc sống thực tế. Từ lời văn đó, các em phải tư duy tìm ra được yếu tố toán học và giải Toán đúng.

Khi học lớp 1, các em đã được tiếp cận dạng bài tập này. Mức độ khó của bài tập sẽ được tăng dần ở các lớp tiếp theo. Khi giải Toán có lời văn, nhiều em còn lúng túng, thậm chí không hiểu đề bài đưa ra. Bút mài thầy Ánh chia sẻ với bố mẹ một số khó khăn trẻ gặp phải và cách khắc phục.

So với các dạng bài tập khác thì dạng bài này các em sẽ giải chậm hơn. Bởi, một số lí do như:

Đọc đề không hiểu. Chưa hiểu yêu cầu cụ thể mà đề bài đưa ra. Không tìm được lời giải đúng hay đưa ra lời giải chưa phù hợp

Học sinh chưa xác định được dạng đề. Không biết cách giải Toán theo từng bước.

Chưa biết tóm tắt, phân tích đề bài…

Đọc không kỹ đề, làm toán thiếu cẩn thận dẫn đến kết quả sai

Khi dạy trẻ làm dạng bài tập này, bố mẹ nên dạy con đọc kỹ đề bài và ghi chép ra những thông tin mà đề bài đã đưa ra. Ví dụ như: Đề bài đã cho biết gì? Bài toán này hỏi gì? Tóm tắt lại đề bài bằng sơ đồ hoặc lời để có cái nhìn tổng quát. Qua đó, trẻ sẽ dễ dàng đưa ra lời giải hơn.

Luyện kỹ năng đọc hiểu, nói cũng là điều rất quan trọng. Nó hỗ trợ cho trẻ giải Toán có lời văn hiệu quả. Bởi, khi trẻ có kỹ năng đọc hiểu tốt. Bé sẽ biết ngắt nghỉ đúng cách, hiểu được đề bài đang nói tới điều gì. Hơn nữa, nó cũng giúp bé tiếp cận bài toán nhanh chóng hơn.

Làm thật nhiều bài tập với các dạng Toán khác nhau. Nó sẽ giúp trẻ có thêm các kiến thức, kinh nghiệm làm Toán. Ngoài ra, bé biết cách phân biệt từng dạng bài tập. Do vậy, bên cạnh làm bài tập ở lớp. Khi dạy họ c ở nhà, bố mẹ nên kèm cặp cho con giải Toán ở sách bài tập. Hoặc tham khảo các sách nâng cao…

Hướng Dẫn Dạy Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Tiểu Học

Khoa học ngày càng phát triển, đòi hỏi con người phải phát triển toàn diện mới đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của xã hội. Cấp bậc tiểu học- cấp bậc đầu tiên của giáo dục phổ thông là những năm tháng đầu tiên góp phần hình thành tư duy nâng dần từ trực quan đến trừu tượng. Một trong những môn học quan trọng nhất mà học sinh được học là môn Toán, mà trong đó rèn luyện kỹ năng giải toán có lời văn cho học sinh tiểu học là một vấn đề khó và không kém phần quan trọng.

Toán học, đặc biệt là Toán có lời văn giúp học sinh rèn luyện tư duy tốt

1. Hướng dẫn giải toán toán có lời văn nhằm mục đích chủ yếu sau

Môn toán là một môn cần thiết cho người lao động, cần thiết để các em học tập các môn học khác ở các lớp trên. Bới vậy việc dạy toán đã góp phần bồi dưỡng củng cố kiến thức, kỹ năng toán học, rèn luyện phát triển óc sáng tạo và các phẩm chất tư duy cho học sinh. Có thể nói giải toán là một trong những biểu hiện năng động nhất của hoạt động trí tuệ ở học sinh. Toán giúp con người giải quyết các bài toán thực tế được diễn đạt bằng lời văn.

Hướng dẫn học toán nói chung và hướng dẫn giải toán toán có lời văn nói riêng là hoạt động trí tuệ đầy khó khăn và phức tạp, nó làm nền tảng cho việc học tiếp chương trình toán học ở trên lớp trên, nhưng thực tế ở các trường tiểu học hiện nay thì việc rèn luyện kĩ năng giải toán có lời văn chưa đạt hiệu quả cao. Cụ thể, các em chưa có phương pháp giải và ngôn ngữ còn hạn chế nên việc hiểu nội dung, yêu cầu của bài toán có có lời văn chưa được đầy đủ và chính xác, ngoài ra khả năng tư duy suy luận của học sinh tiểu học còn kém, dẫn đến việc giải toán còn gặp nhiều khó khăn. Từ đó các em ít có hứng thú giải các bài toán toán có lời văn bằng các bài toán có phép tính sẵn chỉ việc tính toán và điền kết quả.

Rèn luyện kỹ năng giải toán toán có lời văn cho học sinh tiểu học là vấn đề khó và không kém phần quan trọng đối với môn toán. Hướng dẫn giải toán toán có lời văn, giáo viên giúp học sinh tìm hiểu nội dung có trong bài toán, xác định được giải một bài toán cần đầy đủ các bước (bài giải, lời gải, phép tính và đáp số). Qua đó, góp phần giáo dục các em về mọi mặt. Mặt khác, chương trình kế thừa và phát triển những thành tựu về dạy toán tiểu học, nên có vai trò vô cùng quan trọng và không thể thiếu trong mỗi cấp học. Học sinh hiểu và biết cách giải bài toán toán có lời văn ngay từ cấp 1 sẽ là nền tảng vững chắc khi học giải toán ở các lớp trên và áp dụng giải những bài tập khó hơn, phức tạp hơn.

Vì vậy, việc hướng dẫn giải toán toán có lời văn chiếm một vị trí quan trọng, giúp nâng cao tư duy trừu tượng, suy luạn logic cho học sinh.

♦ Giúp học sinh luyện tập, củng cố, vận dụng các kiến thức và thao tác thực hành đã học, rèn luyện kỹ năng tính toán bước tập dượt vận dụng kiến thức và rèn luyện kỹ năng thực hành vào thực tiễn.

♦ Giúp học sinh từng bước phát triển năng lực tư duy, rèn luyện phương pháp, kỹ năng suy luận, khêu gợi và tập dượt khả năng quan sát, phỏng đoán.

♦ Rèn luyện cho học sinh những đặc tính và phong cách làm việc của người lao động như: cận thận, chu đáo, cụ thể,…

Làm tốt các bài toán có lời văn là bước đệm quan trọng cho học sinh

2. Các bước hướng dẫn giải toán toán có lời văn

Để giúp học sinh thực hiện được hoạt động trên có kết quả, cần làm cho các em nắm được một số bước của quy tắc chung, hướng dẫn giải toán toán có lời văn các em có thói quen khi giải toán như sau :

♦ Tìm hiểu kỹ đề toán: Đầu tiên hướng dẫn học sinh đọc kỹ đề toán, suy nghĩ về các điều đã cho của đề toán, đặc biệt chú ý đến câu hỏi của bài toán. Chớ vội tính toán khi chưa đọc kỹ đề. Ở bước này, giáo viên nên nêu hai câu hỏi để dẫn dắt học sinh: Bài toán đã cho biết gì? và Bài toán hỏi cái gì ?

Thiết lập mối quan hệ giữa các số đã cho: Cố gắng tóm tắt nội dung bài toán bằng ngôn ngữ, ký hiệu, ngắn gọn ; hoặc ghi tóm tắt, điều kiện của bài toán, hoặc bằng sơ đồ đoạn thẳng, hoặc bằng lời,…

♦ Suy nghĩ xem, để trả lời câu hỏi của bài toán, cần biết gì, phải thực hiện phép tính gì ?

♦ Suy nghĩ xem từ các số đã cho và điều kiện của bài toán, có thể biết gì, có thể tính gì, phép tính đó có thể giúp trả lời câu hỏi của bài toán không.

♦ Trên cơ sở đó, suy nghĩ để thiết lập trình tự giải bài toán và thực hiện các phép tính theo trình tự đã thiết lập kế hoạch để viết bài giải:

♦ Sau mỗi bước giải, cần kiểm tra xem đã tính đúng chưa, viết câu lời giải đã hợp lý chưa ?

♦ Giải xong bài toán phải thử xem đáp số tìm ra có thể trả lời đúng câu hỏi của bài toán, có phù hợp với các điều kiện của bài toán không.

Quý phụ huynh cần tìm gia sư hướng dẫn giải toán có lời văn cho con tại nhà. Vui lòng liên hệ:

♦ Email: suphamhanoi.edu@gmail.com.

♦ Cơ sở 1: Số 101 Ngõ 189 Minh Khai – Hai Bà Trưng.

♦ Cơ sở 2: Số 27 Ngõ 98 Xuân thủy – Cầu Giấy.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Hướng Dẫn Giải Toán Có Lời Văn trên website Asianhubjobs.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!