Đề Xuất 1/2023 # “Lương Y Như Từ Mẫu” # Top 5 Like | Asianhubjobs.com

Đề Xuất 1/2023 # “Lương Y Như Từ Mẫu” # Top 5 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về “Lương Y Như Từ Mẫu” mới nhất trên website Asianhubjobs.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

“Lương y như từ mẫu” – phẩm chất cao quý của Thầy thuốc theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị, nhất là những người làm công tác y tế chung tay phòng, chống dịch Covid-19 với tinh thần khẩn trương, quyết liệt, hiệu quả để “không ai bị để lại phía sau” thì những tấm gương hy sinh thầm lặng của các thầy thuốc làm sáng mãi phẩm chất cao quý “Thầy thuốc phải như mẹ hiền” theo lời dạy của Bác Hồ.

“Lương y như từ mẫu” – chuẩn mực y đức cao quý nhất của thầy thuốc

Cách đây 65 năm, ngày 27-02-1955, trong Thư gửi cán bộ Hội nghị y tế, Bác Hồ đã căn dặn những người làm công tác y tế phải thực hiện cho kỳ được tinh thần trách nhiệm lớn lao trong chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân: “Lương y phải như từ mẫu”1. Thấm nhuần và thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các thế hệ thầy thuốc và ngành Y tế Việt Nam luôn coi đây là phương châm hành động cao cả, là trách nhiệm chính trị đối với nhân dân khi được Đảng và Bác Hồ giao cho.

Thăm Bệnh xá Vân Đình (1963), Người căn dặn cán bộ bệnh xá thực hiện “Lương y như từ mẫu”. Ảnh tư liệu

Khẳng định vai trò to lớn của ngành Y, từ rất sớm – ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công – Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm chăm lo xây dựng y đức cho thầy thuốc. Vì vậy, trong Thư gửi Hội nghị Quân y, tháng 3 năm 1948, đăng trên Báo Cứu quốc, chi nhánh số 6, số 908 ngày 23-4-1948, một mặt, Người khen ngợi những nỗ lực lớn của lực lượng Quân y trong những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp “Từ ngày kháng chiến đến nay, quân y phát triển rất khá và các bác sĩ, khán hộ, cứu thương, ai cũng chịu khó, cố gắng. Đó là những điểm rất tốt”2. Mặt khác, Người cũng chỉ ra những khuyết điểm đó là: “Song, quân y cũng như mọi việc khác, chúng ta đang mới mẻ, chúng ta còn nhiều khuyết điểm. Chúng ta phải cố gắng nữa, để tiến bộ hơn nữa”3.

Để phát huy những thành tích đã đạt được và từng bước khắc phục có hiệu quả những hạn chế, khuyết điểm, Người căn dặn Quân y phải nêu cao tinh thần ““Lương y kiêm từ mẫu”, nghĩa là một người thầy thuốc đồng thời phải là một người mẹ hiền”4. Đây là phẩm chất cao quý nhất trong thang giá trị y đức của người thầy thuốc theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Bởi theo Người, người thầy thuốc phải thực hiện “nhiệm vụ kép”: Vừa chữa bệnh tật, vừa chữa “tâm bệnh” như một nhà tâm lý học thân thiết như người mẹ hiền của bệnh nhân: “Người thầy thuốc chẳng những có nhiệm vụ cứu chữa bệnh tật mà còn phải nâng đỡ tinh thần những người ốm yếu”5. Luận giải rõ hơn vấn đề này, trong Thư gửi cán bộ Hội nghị y tế, Người khẳng định: “Sức khỏe của cán bộ và nhân dân được đảm bảo thì tinh thần càng hăng hái. Tinh thần và sức khỏe đầy đủ thì kháng chiến càng nhiều thắng lợi, kiến quốc càng mau thành công. Nhiệm vụ ấy có hai phần: Phòng bệnh cũng cần thiết như trị bệnh, để làm tròn nhiệm vụ ấy cán bộ y tế (bác sĩ, y tá, những người giúp việc) cần phải: Thương yêu người bệnh như anh em ruột thịt. Cần phải tận tâm tận lực phụng sự nhân dân”6. Theo đó, “Thầy thuốc như mẹ hiền” là một đòi hỏi khách quan trong thực hành y nghiệp, y đức, cũng là nhiệm vụ vẻ vang, là trách nhiệm của thầy thuốc trước Đảng và chính phủ; do đó, Người nhắc nhở đội ngũ thầy thuốc: “Thương yêu người bệnh – Người bệnh phó thác tính mệnh của họ nơi các cô, các chú. Chính phủ phó thác cho các cô, các chú việc chữa bệnh tật và giữ sức khoẻ cho đồng bào. Đó là một nhiệm vụ rất vẻ vang. Vì vậy, cán bộ cần phải thương yêu, săn sóc người bệnh như anh em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn. “Lương y phải như từ mẫu”, câu nói ấy rất đúng”7. Không những vậy, Người còn chỉ ra phương thức để người thầy thuốc thực sự là “Lương y phải kiêm từ mẫu”. Cán bộ y tế nên cố gắng thực hiện mấy điểm này”8:

Thứ nhất, phải nâng cao trình đội chuyên môn, nghiệp vụ thông qua việc tích cực, chủ động tự học tập, tự nghiên cứu trau dồi kiến thức y học, y sinh, làm chủ phương tiện khám, chữa bệnh: “Về chuyên môn: Cần luôn luôn học tập nghiên cứu để luôn luôn tiến bộ, nhưng phải chú trọng cái gì thiết thực và thích hợp với hoàn cảnh kháng chiến của ta hiện nay”9.

Thứ hai, nâng cao bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng và trau dồi đạo đức cách mạng, vươn lên địa vị người làm chủ trong chế độ xã hội mới – chế độ dân chủ nhân dân: “Về chính trị: Cần trau dồi tư tưởng và đạo đức của người cán bộ trong chế độ dân chủ: Yêu nước, yêu dân, yêu nghề, đoàn kết nội bộ, thi đua học tập, thi đua công tác”10.

Thứ ba, xây dựng các cơ sở, trung tâm và toàn ngành Y tế vững mạnh về tổ chức theo hướng “giản chính, tinh cán” làm điều kiện tiên quyết để xây dựng đội ngũ thầy thuốc sáng y đức, giỏi y nghiệp: “Về tổ chức: Cần chỉnh đốn và kiện toàn bộ máy từ trên xuống dưới làm cho nó gọn gàng, hợp lý, ít tốn người tốn của mà làm được nhiều việc ích lợi cho nhân dân”11.

Thứ tư, làm tốt công tác cán bộ ngành Y. Nhất quán tinh thần “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, Người yêu cầu phải xây dựng được đội ngũ cán bộ y tế đủ số lượng, chất lượng ngày càng cao và có cơ cấu hợp lý, trong đó phải khéo lựa chọn và đào tạo cán bộ, nhất là cán bộ mới ở vùng tạm chiếm, vùng núi – căn cứ địa cách mạng: “Về cán bộ: Cần lựa chọn và đào tạo nhiều cán bộ mới trong số thanh niên nam nữ, dạy cho họ những công tác cần thiết trong nhân dân, trong dân công ở vùng tạm chiếm và vùng rừng núi”12.

Tất cả những phương thức trên chẳng những đào tạo được đội ngũ “thầy thuốc như mẹ hiền”, mà còn góp phần xây dựng nền y học nhân đạo, vì nhân dân: “Chính phủ xây dựng một nền y tế thích hợp với nhu cầu của nhân dân ta. Y học càng phải dựa trên nguyên tắc: Khoa học, dân tộc và đại chúng”13.

Xây dựng chuẩn mực y đức “Lương y như từ mẫu” theo tư tưởng Hồ Chí Minh hiện nay

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chuẩn mực y đức của thầy thuốc: “Lương y như từ mẫu” chẳng những đã góp phần đào luyện nên một thế hệ thầy thuốc tài năng, giàu lòng nhân ái để bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho nhân dân nhằm góp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ đắc lực cho sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc thành công trước đây, mà còn là kim chỉ nam cho xây dựng đội ngũ thầy thuốc vững mạnh về mọi mặt, trong đó y đức là quan trọng hàng đầu để chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho toàn dân trong tình hình mới; đặc biệt, trong bối cảnh nhiều nước trên thế giới, khu vực và ở Việt Nam phải đối mặt với dịch Covid-19 đang diễn biến hết sức phức tạp với tốc độ lây lan nhanh, khó kiểm soát, nguy cơ nhiễm bệnh cao, nhất là những cán bộ, nhân viên ngành Y tế trực tiếp tham gia khám, chữa cho các bệnh nhân dương tính với Covid-19.

Bệnh nhân Phạm Văn Vương, 31 tuổi (Thanh Trì, Hà Nội) được ghép chi thể đồng loài thành công. Ảnh: TL

Thấu triệt và thực hiện lời dạy của Bác Hồ, mọi cán bộ ngành Y tế làm việc với tinh thần và trách nhiệm “Lương y như từ mẫu” đã không quản khó khăn, gian khổ, bất chấp ảnh hưởng tới tính mạng của bản thân và thân nhân luôn đi đầu trong công tác phòng, chống dịch bệnh; họ thực sự là “dũng sĩ” trên trận tuyến phòng, chống dịch Covid-19. Kết quả là: Từ khi bệnh nhân đầu tiên dương tính với Covid-19 ở Việt Nam và dừng lại ở con số 16 người, thì đến hết ngày 25/2/2020 đã có 16/16 bệnh nhân đã được điều trị khỏi và đã hơn 10 ngày Việt Nam không phát sinh người dương tính với Covid-19, đặc biệt là không có người tử vong. Theo đó, Việt Nam trở thành một trong những điểm sáng trong công tác phòng, chống dịch Covid-19 trên thế giới và được Tổ chức Y tế đánh giá cao. Phát huy những kết quả đã đạt được, việc xây dựng chuẩn mực y đức “Lương y như từ mẫu” theo tư tưởng Hồ Chí Minh hiện nay cần quán triệt và thực hiện tốt một số nội dung giải pháp sau:

Thứ nhất, tăng cường giáo dục y đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong đó tập trung giáo dục, xây dựng đội ngũ thầy thuốc trung thành với Tổ quốc, Đảng và nhân dân; chủ động khắc phục khó khăn để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Sẵn sàng đem hết năng lực chuyên môn và tinh thần trách nhiệm để khám, điều trị, chăm sóc bệnh nhân; hết lòng vì sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân. Phát triển ở người thầy thuốc tấm lòng nhân ái, ứng xử có văn hóa với bệnh nhân và đồng nghiệp. Trong điều kiện hiện nay cần tiếp tục thực hiện nghiêm và có hiệu quả Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XII) của Đảng gắn với thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương khóa XII (Nghị quyết số 20-NQ/TW) ngày 25/10/2017 về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới.

Thứ hai, tiếp tục xây dựng đội ngũ thầy thuốc “vừa hồng vừa chuyên”, giỏi về y thuật, y lý, sáng về y đức. Theo đó, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ y tế, bác sỹ, y tá, là những người có tình thương yêu, chăm sóc người bệnh như anh em ruột thịt của mình, tận tâm, tận lực phục vụ nhân dân. Phát huy tấm lòng yêu thương con người của các thế hệ thầy thuốc và coi đây sức mạnh nội sinh của y tế cách mạng Việt Nam, của người thầy thuốc cách mạng. Xử lý nghiêm minh với những trường hợp y, bác sỹ vi phạm pháp luật, đặc biệt vi phạm nguyên tắc, đạo lý trong ngành Y.

Thứ ba, tiếp tục tinh giản cơ cấu bộ máy ngành Y tế. Trong đó, ngành Y tế cần tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm Nghị quyết số 39-NQ/TW, ngày 17 tháng 04 năm 2015 của Bộ Chính trị, Khóa XI về tinh giản biên chế và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20 tháng 11 năm 2014 của Chính phủ về chính sách tinh giản biên chế và Nghị định số 113/2018/NĐ-CP ngày 31 tháng 8 năm 2018 sửa đổi Nghị định 108/2014/NĐ-CP về chính sách tinh giản biên chế.

Nguyễn Bảo Minh

Theo Trang thông tin điện tử Hồ Chí Minh

Tâm Trang (st)

1, 7, 13, 14. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia – Sự Thật, Hà Nội, 2011, tập 8, tr.343; tr.343; tr.343-344; tr.3432, 3, 4, 5. Sđd, Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, tr.487; tr.487; tr.487; tr.4876, 8, 9, 10, 11, 12. Sđd, Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 8, tr.154; tr.154; tr.154; tr.154; tr.155; tr.155

Suy Nghĩ Về Câu: Lương Y Như Từ Mẫu

Suy nghĩ về câu: Lương y như từ mẫu

DÀN Ý

I. Mở bài

Giới thiệu dẫn dắt vấn đề

II. Thân bài

(1) Giải thích

– Nghề thầy thuốc là một nghề đặc biệt, xuất hiện sớm và có lịch sử gắn liền với sự vận động và phát triển xã hội.

– Lương y? Những nguời làm nghề bốc thuốc chữa bệnh cho người khác có lương tâm, luôn nghĩ đến nguời bênh. Xem người bệnh như người nhà, người thân. Quan tâm, chăm sóc họ. Được mọi người gọi là lương y.

– Từ mẫu? Tức là hiền như mẹ, có tình thương bao la rộng lớn như lòng mẹ yêu con…Và những ngưòi lương y như trên được gọi là từ mẫu..

;

– Có đúng hay không? Đây là một câu nói hoàn toàn đúng đắn. Đề cao y đức của một ngưòi làm bác sĩ….

– Đối tượng mà người thầy thuốc tiếp xúc hàng ngày là những con người có vấn đề bất an về sức khoẻ, những người bệnh, luôn mong mỏi sự giúp đỡ của người thầy thuốc.

-Họ tin tưởng vào tài năng, lòng nhân đạo cao cả của thầy thuốc sẽ cứu họ thoát khỏi trạng thái đau đớn về thể xác và tinh thần. Vì thế, những phẩm chất đạo đức vừa đủ cho những người lao động khác để họ có thể đạt được những kết quả tốt trong nghề nghiệp, thì xem ra vẫn là rất ít ỏi đối với người làm nghề y. Với chính mình, mỗi thầy thuốc đều hiểu rằng, không có một nghề nào mà một lỗi lầm hay thiếu sót dù nhỏ nhất lại gây tai họa trực tiếp tới sức khỏe và tính mạng con người như trong nghề y.

-Trong sự phát triển của y học thế giới, đạo đức người thầy thuốc (y đức) luôn được coi là một phần quan trọng của khoa y học, có ảnh hưởng lớn đến tính hiệu quả trong hoạt động nghề nghiệp của thầy thuốc

– Tìm một số ví dụ chứng minh:

+ Trong quá khứ: Hải Thượng lãn ông…

+ Hiện tại:…

;

– Thời hiện đại, ngay từ những năm đầu xây dựng đất nước, trên cương vị người lãnh đạo cao nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành sự quan tâm đặc biệt tới sự phát triển của nền y tế nước nhà, nhất là trong vấn đề y đức

– Xã hội ngày càng phát triển, con người càng chú ý đến sức khỏe của bản thân. và đặc biệt, việc phát triển các chất hóa học, các loại hooc- môn cũng khiến cho con người ngày nay mắc nhiều loại bệnh hơn. Vì thế, việc các bệnh viện quá tải là không thể tránh khỏi. Vì thế đã pahts sinh ra hiện tượng nhận phong bì trong nghề y hiện nay. một phần cũng do người bệnh nhưng phần lớn là do một số y, bác sĩ không làm đúng theo quy tắc của của ngành y tế.

– Các y, bác sĩ cần quyết tâm trong việc đẩy lùi một số mặt tiêu cực trong ngành y. Để đúng như câu nói: Lương y như từ mẫu.

(3) Bài học nhận thức và hành động

– Hiểu gì qua câu nói trên?

– Bạn làm gì sau khi hiểu nó

– Liên hệ bản thân

III. Kết bài

Khẳng định vấn đề

Minh Nguyệt

“Lương Y Như Từ Mẫu” Vẫn Phù Hợp Với Y Học Hiện Đại

Gần đây trên mạng có bài viết cho rằng câu nói: “Lương y như từ mẫu” không còn phù hợp với y học hiện đại. Có thực vậy không?

Khi nói về y đức ở nước ta, câu nói được trích dẫn nhiều nhất là “Lương y như từ mẫu”. Từ lâu, “Lương y như từ mẫu” được xem là cốt lõi của đạo đức của nghề y, bởi vì nghề y là nghề rất đặc biệt. Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác từng nói: “Không có nghề nào nhân đạo bằng nghề cứu người, không có nghề nào vô nhân đạo bằng nghề y thiếu đạo đức”.

Thầy thuốc giỏi?

Thầy thuốc giỏi là người hành nghề y vững về chuyên môn, luôn tìm cách nâng cao trình độ nghề nghiệp, luôn tìm cách cập nhật kiến thức y dược để làm chủ thông tin và trang bị thiết bị hiện đại hầu chữa trị tốt người bệnh. Nhưng thầy thuốc giỏi không thôi thì chưa đủ. Bởi vì người thầy thuốc không có sự tận tụy và lòng thương người thì dễ đi đến lỗi lầm. Một chút lơ đễnh, thờ ơ, tắc trách đến ghê gớm nhất là vô cảm, có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe, tính mạng của người bệnh. Dẫn đến những mất mát đau đớn không gì bù đắp cho thân nhân người bệnh, mà những con người đáng thương này đã đặt tất cả hy vọng, niềm tin vào người thầy thuốc. Chính vì thế, người thầy thuốc giỏi phải có tấm lòng của người mẹ hiền là mong ước muôn đời của tất cả mọi người.

Thầy thuốc giỏi giống như mẹ hiền là như thế nào?

Ai cũng biết tấm lòng thương yêu bao la của người mẹ đối với con của mình. Đặc biệt, lòng mẹ thương con hình như tăng lên bội phần khi đứa con bị bệnh. Sự chăm sóc con bị bệnh ở người mẹ luôn có vẻ tận tình hơn khi con khỏe mạnh. Thậm chí có nhiều bà mẹ có thái độ tha thiết sẵn sàng hy sinh mạng sống của mình cho sự hết bệnh sống còn ở con. Nói “Lương y như từ mẫu” thật ra đúng là sự ví von. Thầy thuốc nếu là nam giới thì sao như mẹ hiền cho được? Sự ví von như thế chỉ nhằm thể hiện sự mong muốn người thầy thuốc phải có tấm lòng yêu thương người bệnh hết mực, có tinh thần trách nhiệm trong nghệ nghiệp cao nhất, có sự tận tụy chăm sóc phục vụ người bệnh hết lòng.

Đối với người bệnh, người thầy thuốc giỏi có tấm lòng như người mẹ hiền luôn được xem là ân phúc của họ. Và người thầy thuốc thì luôn nỗ lực hết mình vì sự kỳ vọng của người bệnh.

Vẫn phù hợp với thời hiện đại

Hiểu sâu sắc “Lương y như từ mẫu” có nghĩa thầy thuốc giỏi phải giống như mẹ hiền của thời hiện đại. Người mẹ hiền thời nay không còn là người mẹ quê mùa, chỉ biết thương yêu con với tình yêu mù quáng, chỉ biết rầy la mắng mỏ con với thái độ gia trưởng. Mà là bà mẹ có học thức, biết chăm sóc con với kiến thức khoa học, giỏi tâm lý tiếp xúc, khi cần là người bạn chân tình ngang hàng con cái chứ không phải kẻ cả. Thời nay, rõ ràng con cái dù mẹ hiền và tốt đến đâu vẫn thích tâm sự với bạn thân chí cốt của mình, sẵn sàng thổ lộ tình cảm và đón nhận ý kiến của bạn bè nếu người mẹ không sẳn sàng làm bạn với con mình.

Nếu hiểu sâu sắc vừa nêu trên thì “Lương y như từ mẫu” vẫn có thể áp dụng cho y học hiện đại. Thầy thuốc giỏi trong thời đại hiện nay là bác sĩ hành nghề theo y học thực chứng đã nêu ở trên. Và nếu thầy thuốc đó có tấm lòng mẹ hiền sẽ làm tốt việc phối hợp kiến thức kỹ năng chuyên môn được cập nhật những chứng cứ khoa học là thử nghiệm lâm sàng có độ tin cậy cao nhất với sự tôn trọng nỗi đau và kỳ vọng của bệnh nhân. Thầy thuốc giỏi không phán lệnh như gia trưởng mà đối xử bệnh nhân như người bạn chân tình, để bác sĩ và bệnh nhân cùng đóng vai trò quyết định phương án điều trị dựa vào chứng cứ tốt nhất.

Như vậy, ta thấy câu “Lương y như từ mẫu” nếu hiểu một cách sâu sắc vừa có thể xem là cách ví von tuyệt vời về từ ngữ vừa có ý nghĩa phù hợp với y học hiện đại dựa trên y học thực chứng.

PGS.TS. NGUYỄN HỮU ĐỨC

( Đại học Y Dược TPHCM)

Giải Nobel Y Học : Từ 1901 Đến Nay

Năm

Tên nhà khoa học

Quốc tịch

Công trình

2019

William G. Kaelin Jr

Sir Peter J. Ratcliffe

Gregg L. Semenza 

Mỹ

Anh

Mỹ

Khám phá ra cách tế bào cảm nhận và thích nghi với sự thay đổi nồng độ oxy.

2018

James P. Allison

Tasuku Honjo

Mỹ

Nhật Bản

Phát triển liệu pháp miễn dịch chống ung thư bằng cách ức chế điều hòa miễn dịch âm tính (thuốc ipilimumab).

2017

Jeffrey C. Hall Michael Rosbash Michael W. Young

Mỹ

Mỹ

Mỹ

Khám phá cơ chế phân tử kiểm soát nhịp sinh học ngày – đêm.

2016

Yoshinori Ohsumi

Nhật

Khám phá cơ chế tự thực bào (autophage) – là cơ chế các tế bào tự loại bỏ các thành phần đã lão hóa hoặc hư hại của mình để tái sử dụng nguyên liệu thu được hoặc/và để tạo các thành phần mới thay thế (ví dụ các bào quan).

2015

William C. Campbell

Satoshi Ōmura

Mỹ, Ireland

Nhật Bản

Khám phá thuốc điều trị các loại giun tròn ký sinh. Ví dụ thuốc avermectin.

Tu Youyou

Trung Quốc

Khám phá thuốc điều trị sốt rét (artemisinin, dihydroartemisinin).

2014

John O’Keefe

May-Britt Moser

Edvard Moser

Anh, Mỹ

Na Uy

Na Uy

Khám phá các tế bào thiết lập hệ thống định vị trong não.

2013

James E. Rothman

Randy Schekman

Thomas C. Südhof

Mỹ

Mỹ

Mỹ

Khám phá cơ chế điều hòa vận chuyển các túi tiết – là hệ thống vận chuyển chính bên trong tế bào.

2012

John B. Gurdon

Shinya Yamanaka

Anh

Nhật

Khám phá các tế bào trưởng thành có thể được tái lập trình thành các tế bào gốc vạn năng.

2011

Ralph M. Steinman

Canada

Khám phá vai trò của tế bào tua trong miễn dịch tự nhiên thu được.

Bruce A. Beutler

Jules A. Hoffmann

Mỹ

Luxembourg, Pháp

Khám phá về sự hoạt hóa hệ miễn dịch tự nhiên.

2010

Robert Edwards

Anh

Phát triển phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm (IVF).

2009

Elizabeth H. Blackburn

Carol W. Greider

Jack W. Szostak

Mỹ, Australia

Mỹ

Anh, Canada, Mỹ

Khám phá telomere (trình tự lập lại ở đầu mút nhiễm sắc thể) và cơ chế bảo vệ nhiễm sắc thể của enzyme telomerase.

2008

Harald zur Hausen

Đức

Khám phá Human papilloma virus (HPV) gây ung thư cổ tử cung ở người.

Françoise Barré-Sinoussi

Luc Montagnier

Pháp

Pháp

Khám phá virus gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV).

2007

Mario R. Capecchi

Sir Martin Evans

Oliver Smithies

Mỹ, Italia

Anh

Anh, Mỹ

Khám phá các nguyên lý chuyển gene vào chuột bằng cách sử dụng tế bào gốc phôi.

2006

Andrew Fire

Craig Mello

Mỹ

Mỹ

Khám phá kỹ thuật can thiệp vào RNA, để khóa hoạt động của gene ở mức độ RNA.

2005

Barry Marshall

J. Robin Warren

Australia

Australia

Khám phá vi khuẩn Helicobacter pylori gây viêm loét dạ dày.

2004

Richard Axel

Linda B. Buck

Mỹ

Mỹ

Khám phá các receptor tiếp nhận mùi và tổ chức của hệ thống khứu giác.

2003

Paul Lauterbur

Sir Peter Mansfield

Mỹ

Anh

Khám phá kỹ thuật hình ảnh chụp cộng hường từ (MRI).

2002

Sydney Brenner

H. Robert Horvitz

John E. Sulston

Anh

Mỹ

Anh

Khám phá cơ chế di truyền điều hòa sự phát triển của các cơ quan trong cơ thể và hiện tượng tế bào chết theo lập trình (apoptosis).

2001

Leland H. Hartwell

Tim Hunt

Sir Paul Nurse

Mỹ

Anh

Anh

Khám phá ra các phân tử quan trọng điều hòa chu trình tế bào.

2000

Arvid Carlsson

Paul Greengard

Eric Kandel

Thụy Điển

Mỹ

Áo, Mỹ

Khám phá cơ chế dẫn truyền tín hiệu trong hệ thần kinh (thông qua synap).

1999

Günter Blobel

Mỹ, Đức

Khám phá các phân tử protein chứa một hoặc nhiều trình tự tín hiệu trong cấu trúc của chúng. Các trình tự tín hiệu này giúp định hướng protein đến đúng vị trí của chúng để có thể thự hiện được đúng chức năng.

1998

Robert F. Furchgott

Louis Ignarro

Ferid Murad

Mỹ

Mỹ

Mỹ

Khám phá khí NO (nitric oxide) do tế bào nội mô mạch máu tổng hợp có vai trò như một phân tử tín hiệu giúp điều hòa hệ tim mạch.

1997

Stanley B. Prusiner

Mỹ

Khám phá prion – một phân tử protein có khả năng gây bệnh.

1996

Peter C. Doherty

Rolf M. Zinkernagel

Úc

Thụy Sĩ

Khám phá cơ chế miễn dịch qua trung gian tế bào (Lympho T).

1995

Edward B. Lewis

Christiane Nüsslein-Volhard

Eric F. Wieschaus

Mỹ

Đức

Mỹ

Khám phá cơ chế kiểm soát quá trình biệt hóa tế bào trong giai đoạn phát triển sớm của phôi.

1994

Richard J. Roberts

Phillip A. Sharp

Mỹ

Mỹ

Khám quá protein G (protein liên kết với GTP) và vai trò của protein này trong cơ chế truyền tin nội bào.

1993

Richard J. Roberts

Phillip A. Sharp

Anh

Mỹ

Khám phá cơ chế RNA loại bỏ các trình tự intron ra và kết hợp các trình tự exon lại với nhau để dịch mã thành protein.

1992

Edmond H. Fischer

Edwin G. Krebs

Thụy Sĩ, Mỹ

Mỹ

Khám phá quá trình gắn hoặc loại nhóm phosphate cũng là một cơ chế điều hòa sinh học.

1991

Erwin Neher

Bert Sakmann

Đức

Đức

Khám phá cơ chế vận chuyển các ion ra/vào tế bào thông qua các kênh ion trên màng tế bào.

1990

Joseph E. Murray

E. Donnall Thomas

Mỹ

Mỹ

Khám phá phương pháp giúp chống thải loại mảnh ghép khi cấy ghép tế bào (ghép tủy) và cấy ghép cơ quan (ghép thận…).

1989

J. Michael Bishop

 Harold E. Varmus

Mỹ

Mỹ

Khám phá nguồn gốc của các gene sinh ung thư (oncogene) của virus là từ tế bào vật chủ.

1988

Sir James W. Black

Gertrude B. Elion

George H. Hitchings

Scotland, Anh

Mỹ

Mỹ

Khám phá nhiều loại thuốc mới cũng như cơ chế của chúng trong điều trị bệnh.

1987

Susumu Tonegawa

Nhật

Khám phá cơ chế di truyền giúp tạo ra sự đa dạng kháng thể.

1986

Stanley Cohen

Rita Levi-Montalcini 

Mỹ

Ý, Mỹ

Khám phá các yếu tố tăng trưởng (yếu tố tăng trưởng thần kinh, yếu tố tăng trưởng biểu bì).

1985

Michael S. Brown

Joseph L. Goldstein

Mỹ

Mỹ

Khám phá quá trình điều hòa chuyển hóa cholesterol.

1984

Niels K. Jerne

Georges J.F Köhler 

César Milstein

Đan Mạch

Đức

Argentina, Anh

Khám phá cơ chế tế bào lympho T được huấn luyện tại tuyến ức để nhận diện các thành phần của bản thân (tránh phản ứng tự miễn). Khám phá nguyên lý giúp sản xuất kháng thể đơn dòng.

1983

Barbara McClintock

Mỹ

Khám phá các gene nhảy hay còn gọi là các yếu tố di truyền di động (giải thích hiện tượng nhiều màu hạt trên cùng một quả bắp…).

1982

Sune K. Bergström

Bengt I. Samuelsson

John R. Vane

Thụy Điển

Thụy Điển

Anh

1981

Roger W. Sperry

Mỹ

Khám phá sự chuyên hóa về chức năng của các bán cầu đại não: Bán cầu não trái chuyên về khả năng ngôn ngữ, toán học, tư duy phản biện; Và bán cầu não phải chuyên về nhận thức không gian, nhận thức các âm thanh phức tạp (ví dụ âm nhạc).

David H. Hubel

Torsten N. Wiesel

Mỹ

Thụy Điển

Khám phá quá trình xử lý hình ảnh của hệ thống thị giác, đặc biệt là hoạt động của các neuron tại vùng vỏ não thị giác sơ cấp khi có kích thích ánh sáng.

1980

Baruj Benacerraf

Jean Dausset

George D. Snell 

Veneuzela, Mỹ

Pháp

Mỹ

Khám phá các gene mã hóa cho các protein trên bề mặt màng tế bào giúp hệ miễn dịch nhận diện các tác nhân lạ, các gene này được gọi là phức hợp tương hợp mô chính (MHC). Khi cấy ghép cơ quan hoặc cấy ghép tế bào, để tránh thải loại miễn dịch, yêu cầu người cho và người nhận phải có sự tương hợp MHC (ở người gọi là HLA) ở mức độ nhất định.

1979

Allan M. Cormack

Godfrey N. Hounsfield

Nam Phi, Mỹ

Anh

Khám phá phương pháp chụp cắt lớp vi tính (chụp CT).

1978

Werner Arber

Daniel Nathans

Hamilton O. Smith 

Thụy Sĩ

Mỹ

Mỹ

Khám phá enzyme cắt giới hạn và ứng dụng của chúng trong sinh học phân tử như: công nghệ tái tổ hợp gene, giải trình tự gene…

1977

Roger Guillemin 

Andrew V. Schally

Pháp, Mỹ

Ba Lan, Mỹ

Khám phá các hormone peptide ở não. Ví dụ hormone được sản xuất tại vùng dưới đồi (TRH, GnRH).

Rosalyn Yalow

Mỹ

Phát triển phương pháp phân tích miễn dịch đánh dấu bằng phóng xạ – RIA (tiền thân của phương pháp ELISA) giúp xác định sự hiện diện cũng như nồng độ của các phân tử sinh học. Ví dụ: Xác định kháng nguyên của tác nhân gây bệnh, định lượng hormone, kháng thể…

1976

Baruch S. Blumberg

Mỹ

Khám phá ra một loại virus gây viêm gan (HBV), phát triển phương pháp xét nghiệm HBV và vaccine HBV.

D. Carleton Gajdusek

Mỹ

Đóng góp trong nghiên cứu bệnh Kuru, một bệnh do tác nhân là prion gây ra.

1975

David Baltimore 

Renato Dulbecco

Howard Martin Temin

Mỹ

Ý, Mỹ

Mỹ

Khám phá các virus sinh ung thư có thể chèn vật liệu di truyền của chúng vào bộ gene của vật chủ.

1974

Albert Claude

Christian de Duve

George E. Palade

Bỉ

Bỉ

Mỹ

Sử dụng phương pháp ly tâm và kính hiển vi điện tử để nguyên cứu cấu trúc và chức năng của các bào quan trong tế bào.

1973

Karl von Frisch

Konrad Lorenz

Nikolaas Tinbergen

Đức

Áo

Hà Lan, Anh

1972

Gerald M. Edelman

Rodney R. Porter 

Mỹ

Anh

Khám phá cấu trúc điển hình của kháng thể: Gồm 4 chuỗi polypeptide trong đó có 2 chuỗi nặng và 2 chuỗi nhẹ kết hợp thành cấu trúc hình chữ Y.

1971

Earl W. Sutherland

Mỹ

1970

Sir Bernard Katz

Ulf von Euler

Julius Axelrod

Đức, Mỹ

Thụy Điển

Mỹ

Khám phá cơ chế dẫn truyền qua synap. Thông qua các chất trung gian hóa học được dự trữ và giải phóng từ màng trước synapse, khuyếch tán qua khe synapse đến gắn vào receptor tại màng sau synapse.

1969

Max Delbrück

Alfred D. Hershey

Salvador E. Luria

Mỹ

Mỹ

Ý, Mỹ

1968

Robert W. Holley

Har Gobind Khorana

Marshall W. Nirenberg

Mỹ

Ấn Độ, Mỹ

Mỹ

Giải mã mã di truyền (64 codon) và chức năng của nó trong việc tổng hợp protein (trừ 3 codon kết thúc, các codon còn lại sẽ mã hóa cho các amino acid tương ứng).

1967

Ragnar Granit

Haldan Keffer Hartline

George Wald

Thụy Điển

Mỹ

Mỹ

– Khám phá 3 loại tế bào nón nhạy cảm với 3 bước sóng khác nhau.

– Khám phá các tế bào nhận cảm ánh sáng trong võng mạc phối hợp với nhau, để khi một tế bào bị kích thích thì các tế bào lân cận sẽ bị ức chế, điều này giúp tăng khả năng tiếp nhận hình ảnh.

– Khám phá vitamin A là một thành phần quan trọng của rhodopsin – một chất nhạy cảm với ánh sáng nằm ở tế bào que trong võng mạc.

1966

Peyton Rous

Mỹ

Khám phá virus cảm ứng sinh khối u.

Charles Brenton Huggins

Canada, Mỹ

1965

François Jacob

André Lwoff 

Jacques Monod

Pháp

Pháp

Pháp

– Khám phá cơ chế gene tự điều hòa việc biểu hiện để phù hợp với môi trường.

– Khám phá một số virus chèn vật liệu di truyền vào tế bào chủ và vật liệu di truyền này sẽ nhân lên cùng với quá trình phân chia của tế bào chủ, và sẽ tạo thành virus khi có tác nhân kích thích.

1964

Konrad Bloch

Feodor Lynen

Đức, Mỹ

Mỹ

– Khám phá các bước hình thành cholesterol từ acetic acid.

1963

Sir John Carew Eccles

Alan Lloyd Hodgkin

Andrew Fielding Huxley

Úc

Anh

Anh

– Khám phá synap ức chế và synap kích thích.

– Khám phá điện thế hoạt động của tế bào được hình thành do sự di chuyển ion kali và ion natri qua kênh ion trên màng tế bào.

1962

Francis Crick

James Watson

Maurice Wilkins

Anh

Mỹ

New Zealand, Mỹ

Khám phá cấu trúc phân tử deoxyribonucleic acid (DNA): Gồm 2 chuỗi polypeptide (đơn phân là các nucleotide A, T, G, C), trong đó các nucleotide ở 2 chuỗi bắt cặp tương ứng với nhau (A-T, G-C) tạo thành chuỗi xoắn kép.

1961

Georg von Békésy

Hungary, Mỹ

Khám phá chức năng của ốc tai trong việc tiếp nhận kích thích âm thanh. Tế bào có lông tại màng nền trong ốc tai có mức độ chuyển động khác nhau phụ thuộc vào tần số của sóng âm. Các tế bào này sẽ tiếp nhận kích thích từ sóng âm và truyền theo dây thần kinh thính giác về não bộ.

1960

Macfarlane Burnet

Peter Brian Medawar

Úc

Anh

Khám phá sự dung nạp miễn dịch đạt được trong quá trình phát triển (hiện tượng không đáp ứng của hệ miễn dịch với các phân tử nhất định). Đặc biệt là quá trình dung nạp miễn dịch đạt được ở giai đoạn bào thai.

1959

Severo Ochoa

Arthur Kornberg

Tây Ban Nha, Mỹ

Mỹ

Khám phá enzyme DNA polymerase và quá trình sinh tổng hợp DNA và RNA.

1958

George Wells Beadle

Edward Lawrie Tatum

Joshua Lederberg

Mỹ

Mỹ

Mỹ

– Khám phá gene thực hiện chức năng thông qua việc điều chỉnh các quá trình sinh hóa trong tế bào. Đưa ra giả thuyết “một gene – một enzyme”.

– Khám phá hiện tượng giao nạp (tiếp hợp) thông qua cầu nối tế bào chất của hai tế bào và tải nạp nhờ virus.

1957

Daniel Bovet

Thụy Sĩ, Ý

Khám phá các thuốc antihistamine, có tác dụng block histamin – một chất quan trọng gây nên các triệu chứng của dị ứng.

1956

André Frédéric Cournand

Werner Forssmann 

Dickinson W. Richards

Mỹ

Đức

Mỹ

Khám phá phương pháp đặt catheter vào tim (đặt một ống thông vào buồng tim theo đường tĩnh mạch) để nghiên cứu sinh lý và bệnh lý của hệ tuần hoàn.

1955

Hugo Theodor Theorell

Thụy Điển

1954

John Franklin Enders

Thomas Huckle Weller

Frederick C. Robbins

Mỹ

Mỹ

Mỹ

Khám phá phương pháp nuôi cấy virus gây bại liệt trên nhiều loại mô khác nhau, đặc biệt là mô cơ. Giúp tạo lượng lớn virus bại liệt để sản xuất vaccine bại liệt.

1953

Hans Adolf Krebs

Anh

Khám phá chu trình citric acid (chu trình Krebs).

Fritz Albert Lipmann

Mỹ

Khám phá co-enzyme A và tầm quan trọng của nó – là một chất trung gian của nhiều con đường chuyển hóa vật chất trong tế bào.

1952

Selman A.Waksman

Mỹ

Khám phá streptomycin, kháng sinh đầu tiên điều trị lao hiệu quả.

1951

Max Theiler

Nam Phi

1950

Edward Calvin Kendall

Tadeus Reichstein

Philip Showalter Hench

Mỹ

Thụy Sỹ

Mỹ

1949

Walter Rudolf Hess

Thụy Sỹ

Khám phá các vùng và chức năng của não trung gian, đặc biệt là chức năng của vùng dưới đồi.

Antonio Egas Moniz

Bồ Đào Nha

Phát triển phương pháp phẫu thuật thùy não (lobotomy) để điều trị các rối loạn tâm thần. Do tác dụng phụ quá lớn, đến những năm 1970 một số bang của Mỹ đã cấm thực hiện phương pháp này và ngày nay lobotomy gần như không còn được thực hiện.

1948

Paul Hermann Müller 

Thụy Sĩ

Khám phá DDT (Dichloro-Diphenyl-Trichloroethane) có hiệu quả cao trong việc diệt côn trùng truyền bệnh như chấy, rận, muỗi. Do gây ra nhiều rủi ro cho sức khỏe, ngày nay DDT đã bị cấm sử dụng ở nhiều quốc gia.

1947

Carl Ferdinand Cori

Gerty Cori

Bernardo Houssay

Áo, Mỹ

Áo, Mỹ

Argentina

– Khám phá chu trình Cori và quá trình chuyển hóa glycogen.

– Khám phá vai trò của hormone thùy trước tuyến yên đối với sự chuyển hóa đường.

1946

Hermann Joseph Muller

Mỹ

Khám phá cách tạo ra đột biến bằng phương pháp chiếu xạ (tia X).

1945

Sir Alexander Fleming

Ernst Boris Chain

Sir Howard Walter Florey

Anh

Anh

Úc

Khám phá kháng sinh pennicilin và tác dụng chữa trị các bệnh nhiễm trùng của nó.

1944

Joseph Erlanger

Herbert Spencer Gasser

Mỹ

Mỹ

– Khám phá các dạng khác nhau của tế bào thần kinh (neuron).

– Khám phá rằng ngưỡng kích thích và tốc độ dẫn truyền điện thế hoạt động trên các loại neuron khác nhau thì khác nhau. (Vận tốc dẫn truyền điện thế hoạt động trên sợi trục của tế bào thần kinh tỉ lệ với đường kính sợi trục.)

1943

Henrik Carl Peter Dam

Đan Mạch

Phát hiện ra vitamin K và vai trò của nó trong việc giúp đông máu.

Edward Adelbert Doisy

Mỹ

Tinh chế và khám phá bản chất hóa học của vitamin K.

1942

KHÔNG TRAO GIẢI

1941

KHÔNG TRAO GIẢI

1940

KHÔNG TRAO GIẢI

1939

Gerhard Domagk 

Đức

Khám phá ra tác dụng kháng khuẩn của Prontosil (sulfonamides).

1938

Corneille Heymans 

Bỉ

Khám phá các thụ thể hóa học ở động mạch cảnh tham gia điều hòa hô hấp.

1937

Albert Szent-Györgyi

Hungary

– Khám phá vitamin C.

– Nghiên cứu về hô hấp tế bào, vai trò của fumaric acid trong chu trình Krebs.

1936

Henry Hallett Dale 

Otto Loewi

Anh

Đức, Áo, Mỹ

Khám phá acetycholine – là một chất dẫn truyền thần kinh.

1935

Hans Spemann

Đức

1934

George Hoyt Whipple

George Richards Minot

William Parry Murphy 

Mỹ

Mỹ

Mỹ

Khám phá việc ăn gan động vật (gan chứa nhiều vitamin B12) có thể tăng số lượng hồng cầu, giúp điều trị thiếu máu (do thiếu vitamin B12).

1933

Thomas Hunt Morgan

Mỹ

– Khám phá vai trò của nhiễm sắc thể trong di truyền (gene chứa trong nhiễm sắc thể nằm trong nhân tế bào).

– Khám phá hiện tượng trao đổi chéo giữa hai nhiễm sắc thể.

1932

Charles Scott Sherrington

Edgar Douglas Adrian

Anh

Anh

Khám phá chức năng của tế bào thần kinh (neuron).

1931

Otto Heinrich Warburg 

Đức

Nghiên cứu bản chất và cơ chế tác động của hemoglobin (một enzyme hô hấp).  

1930

Karl Landsteiner

Áo

Khám phá hệ nhóm máu ABO và cơ chế truyền máu.

1929

Frederick G. Hopkins

Anh

Khám phá vitamin – một loại chất với lượng nhỏ nhưng cần thiết cho sự phát triển bình thường của cơ thể.

Christiaan Eijkman

Hà Lan

Khám phá một loại chất có trong vỏ trấu giúp điều trị bệnh Beriberi, chất này được gọi là vitamin (vitamin B1).

1928

Charles Nicolle

Pháp

1927

Julius Wagner-Jauregg

Áo

Khám phá việc gây sốt (ví dụ gây sốt bằng cách gây nhiễm chủng ký sinh trùng sốt rét lành tính) để điều trị bại liệt (general paralysis).

1926

Johannes Fibiger 

Đan Mạch

Khám phá một loại giun tròn ký sinh ở chuột là Spiroptera carcinoma cảm ứng sinh ung thư dạ dày ở chuột (sau này các nhà khoa học xác nhận lại Spiroptera carcinoma không phải là tác nhân sinh ung thư).

1925

KHÔNG TRAO GIẢI

1924

Willem Einthoven

Hà Lan

Khám phá cơ chế ghi điện tim (ECG).

1923

Frederick G. Banting

John Macleod

Canada

Anh

Khám phá ra cách thu nhận insulin từ tuyến tụy và ứng dụng insulin trong điều trị bệnh tiểu đường.

1922

Archibald Vivian Hill

Anh

Otto Fritz Meyerhof 

Đức

Khám phá mối liên hệ giữa việc tiêu thụ oxygen và chuyển hóa acid lactic tại mô cơ.

1921

KHÔNG TRAO GIẢI

1920

August Krogh

Đan Mạch

Khám phá cơ chế điều hòa lượng máu đến mao mạch của mô (bằng cách đóng hoặc mở các cơ thắt tiền mao mạch).

1919

Jules Bordet

Bỉ

1918

KHÔNG TRAO GIẢI

1917

KHÔNG TRAO GIẢI

1916

KHÔNG TRAO GIẢI

1915

KHÔNG TRAO GIẢI

1914

Robert Bárány

Áo-Hung

Nghiên cứu sinh lý và bệnh lý của hệ tiền đình.

1913

Charles Robert Richet

Pháp

Nghiên cứu về phản vệ và dị ứng.

1912

Alexis Carrel

Pháp

Nghiên cứu về nối mạch máu và ghép cơ quan.

1911

Allvar Gullstrand

Thụy Điển

Nghiên cứu cơ chế mắt thu nhận hình ảnh của vật.

1910

Albrecht Kossel

Đức

1909

Emil Theodor Kocher

Thụy Sĩ

Nghiên cứu về sinh lý, bệnh lý và phẫu thuật tuyến giáp.

1908

Ilya Ilyich Mechnikov

Paul Ehrlich

Nga

Đức

– Khám phá khả năng thực bào của các tế bào miễn dịch. Ví dụ: đại thực bào, neutrophil.

– Khám phá phương pháp kháng huyết thanh để điều trị bệnh bạch hầu.

1907

Charles Laveran

Pháp

Khám phá bệnh sốt rét do một loại ký sinh trùng đơn bào gây ra (Plasmodium).

1906

Camillo Golgi

Santiago Ramón y Cajal

Ý

Tây Ban Nha

Phát triển phương pháp nhuộm tế bào thần kinh bằng bạc nitrate, góp phần nghiên cứu cấu trúc của hệ thần kinh.

1905

Robert Koch

Đức

Các công trình nghiên cứu về bệnh lao.

1904

Ivan Petrovich Pavlov

Nga

Các công trình nghiên cứu về sinh lý hệ tiêu hóa.

1903

Niels Ryberg Finsen

Đan Mạch

Khám phá phương pháp sử dụng ánh sáng cực tím (UV) để tiêu diệt vi khuẩn, ứng dụng điều trị bệnh lao da (Lupus vulgaris).

1902

Ronald Ross 

Anh

Các nghiên cứu về bệnh sốt rét.

1901

Emil Adolf von Behring

Đức

Khám phá phương pháp điều trị bằng huyết thanh, đặc biệt là cách sử dụng huyết thanh ngựa chứa kháng thể kháng bạch hầu để chữa bệnh bạch hầ

Bạn đang đọc nội dung bài viết “Lương Y Như Từ Mẫu” trên website Asianhubjobs.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!