Đề Xuất 3/2023 # Nhiều Giải Pháp Tăng Độ Che Phủ Rừng # Top 7 Like | Asianhubjobs.com

Đề Xuất 3/2023 # Nhiều Giải Pháp Tăng Độ Che Phủ Rừng # Top 7 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Nhiều Giải Pháp Tăng Độ Che Phủ Rừng mới nhất trên website Asianhubjobs.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Hiện nay, tỷ lệ độ che phủ rừng của tỉnh Khánh Hòa đạt 46,01%. Để tiếp tục gia tăng độ che phủ rừng lên ít nhất 47,5% vào năm 2020 theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2015 – 2020, ngành lâm nghiệp, các địa phương đang tập trung thực hiện nhiều giải pháp.

Ông Nguyễn Khương – Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết: “Số liệu kiểm kê rừng gần nhất cho thấy, tỷ lệ độ che phủ rừng của tỉnh đang ngày càng tăng, đến nay đã đạt 46,01%. Trong đó, các địa phương có tỷ lệ che phủ cao như: Khánh Vĩnh gần 78%, Khánh Sơn hơn 62%, Vạn Ninh hơn 52%, Cam Lâm hơn 47,7%… Tuy nhiên, nếu không tính diện tích huyện Trường Sa thì tỷ lệ độ che phủ rừng của tỉnh đạt đến 51%. So với cả nước, tỷ lệ che phủ rừng của Khánh Hòa cao hơn nhiều”.

Trồng rừng trên thượng nguồn Đa Rao (xã Khánh Thượng, huyện Khánh Vĩnh).

Theo ông Khương, độ che phủ rừng trên địa bàn tỉnh tăng trong thời gian gần đây là nhờ chủ trương đóng cửa rừng tự nhiên của Thủ tướng Chính phủ. Bên cạnh đó, hiệu quả từ rừng sản xuất mang lại cho người dân ngày một cao nên ở nhiều địa phương, diện tích rừng sản xuất tăng, nhiều khu vực có độ dốc cao đã được người dân trồng keo. Cùng với đó, việc trồng rừng, chăm sóc, khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên của các chủ rừng cũng được chú trọng.

Tại huyện Vạn Ninh, năm 2017, do ảnh hưởng của cơn bão số 12, nhiều diện tích rừng tự nhiên, rừng trồng bị thiệt hại nặng nhưng nhờ thực hiện tốt các biện pháp quản lý, bảo vệ rừng và phát triển rừng nên huyện vẫn duy trì được tỷ lệ độ che phủ rừng hơn 52% (hiện nay, Vạn Ninh có hơn 24.051ha rừng tự nhiên và hơn 5.172ha rừng trồng). Ông Đỗ Lam Điền – Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Vạn Ninh cho hay: “Việc giữ vững độ che phủ rừng trên địa bàn huyện trong năm 2018 gặp nhiều khó khăn. Ngoài diện tích rừng bị thiệt hại nặng do cơn bão số 12, vấn đề giữ rừng cũng gặp nhiều khó khăn do nhu cầu gỗ tái thiết lồng bè nuôi trồng thủy sản tăng rất cao. Một số khu vực trên địa bàn xuất hiện tình trạng người dân vào rừng khai thác, vận chuyển mua bán cây gỗ làm lồng bè. Tuy nhiên, nhờ Hạt Kiểm lâm, chủ rừng, các địa phương tăng cường tuần tra, truy quét sâu vào rừng, các chốt bảo vệ rừng được xây dựng, đặt cố định tại các điểm nóng nên nhiều diện tích rừng đã được bảo vệ tốt hơn. Trong năm, huyện đã phát hiện, xử lý 29 vụ khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép”.

Năm 2018, lực lượng kiểm lâm tỉnh đã phát hiện 309 vụ vi phạm các quy định trong lĩnh vực lâm nghiệp; đã tiến hành xử lý 290 vụ vi phạm, tịch thu 89,12m3 gỗ tròn, 543,71m3 gỗ xẻ hộp, hơn 1,1 tấn gỗ có hình thù phức tạp. Về phương tiện tịch thu có 5 xe ô tô, 11 xe máy, 8 máy cưa xăng…, thu nộp ngân sách hơn 1,5 tỷ đồng. Năm qua, trên địa bàn tỉnh xảy ra 1 vụ cháy gây thiệt hại rừng trồng phòng hộ; toàn tỉnh đã trồng mới 300ha rừng phòng hộ và gần 1.100ha rừng sản xuất.

Tại các địa phương miền núi như: Khánh Vĩnh, Khánh Sơn, bên cạnh việc tập trung thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng tự nhiên của các cấp, ngành, tỷ lệ độ che phủ rừng có chiều hướng tăng là nhờ người dân nhận thấy hiệu quả rừng sản xuất mang lại nên đã đầu tư trồng rừng. Đơn cử như huyện Khánh Vĩnh, 5 năm trở lại đây, từ các chương trình trồng rừng, địa phương này đã phát triển được hơn 5.000ha rừng trồng các loại. Nhiệm vụ bảo vệ, phát triển rừng luôn được lãnh đạo địa phương quan tâm, xem đây là nhiệm vụ trọng tâm, từ đó, việc tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người dân trong việc bảo vệ, phát huy vốn rừng được chú trọng.

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2015 – 2020 đặt mục tiêu đến năm 2020, tỷ lệ độ che phủ rừng đạt từ 47,5% trở lên. Để thực hiện đạt mục tiêu này, ngành lâm nghiệp tỉnh đang tiếp tục triển khai nhiều giải pháp để gia tăng độ che phủ rừng. Ông Nguyễn Khương cho biết: “Chi cục Kiểm lâm đã chỉ đạo các hạt kiểm lâm trực thuộc phải quyết liệt trong việc chống nạn lấn chiếm đất rừng, phát đốt rừng làm nương rẫy, nhất là ở các huyện miền núi; ngăn chặn nạn phá rừng; làm tốt công tác phòng cháy chữa cháy rừng. Một biện pháp quan trọng nữa là phải đẩy mạnh công tác chăm sóc, khoanh nuôi tái sinh rừng và triển khai kịp thời các chính sách để khuyến khích người dân phát triển rừng sản xuất”.

Theo Báo Khánh Hòa

Nhiều Phim Kỷ Niệm Ngày Giải Phóng Miền Nam Và Chiến Thắng Điện Biên Phủ

Nhiều phim kỷ niệm ngày giải phóng miền Nam và chiến thắng Điện Biên Phủ

Cập nhật 15:10 ngày 23-04-2009

http://www.nhandan.org.vn/tinbai/?top=43⊂=164&article=146031 Cảnh trong phim “Đừng đốt”, sẽ chiếu mở màn đợt phim kỷ niệm các ngày lễ lớn.

NDĐT – Trong số những phim mà Cục Điện ảnh chọn chiếu phục vụ công chúng nhân những ngày lễ lớn sắp tới, có ít nhất ba bộ phim mới vừa “ra lò”.

Đáng chú ý nhất là bộ phim truyện nhựa “Đừng đốt” do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Cục Điện ảnh) đặt hàng Hãng phim Hội Điện ảnh Việt Nam thực hiện sẽ được chiếu khai mạc đợt phim. Phim vừa mới hoàn thành hậu kỳ và sẽ bắt đầu khởi chiếu ngày 29-4 tại các hệ thống rạp trên toàn quốc. Với nhân vật chính là bác sĩ – liệt sĩ Đặng Thuỳ Trâm và số phận cuốn nhật ký nổi tiếng của chị, bộ phim là một khúc ca bi hùng đầy cảm động về một thế hệ trẻ trong chiến tranh. Với hiệu ứng xã hội từ cuốn sách “Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm” và tên tuổi của NSND Đặng Nhật Minh với vai trò đạo diễn, bộ phim hứa hẹn sẽ thu hút khán giả.

Hai bộ phim truyện video mới sản xuất cũng được khởi chiếu vào dịp này, đó là ” Pha Đin mây phủ“(Hãng phim Truyện Việt Nam) và” Âm sắc của màn đêm” (Điện ảnh chiều thứ bảy).

” Pha Đin mây phủ ” là bộ phim kể về những người chiến sĩ đã từng góp mặt trong cuộc chiến đấu giải phóng Điện Biên, nay tình nguyện ở lại, đưa gia đình lên xây dựng mảnh đất chiến trường xưa trở nên trù phú tươi vui. Phim do nhà văn Đỗ Kim Cuông biên kịch và NS Trần Vịnh làm đạo diễn.

” Âm sắc của màn đêm ” lại là câu chuyện về thời kỳ bao cấp những năm 80. Với kịch bản của Thu Dung, đạo diễn Bùi Tuấn Dũng cho rằng mình đã làm một phim video với “tinh thần” của phim nhựa. Phản ánh về cuộc sống thời bao cấp của một tầng lớp trí thức nghèo không chỉ là một câu chuyện dài, mà là dấu ấn lịch sử của một thời đại. Tuy nhiên, anh cũng cho rằng đây là một phim “khó xem”, đòi hỏi sự kiên nhẫn, bởi cách thức rất cũ, đề tài cũ, nhưng đó là cũng chính là tinh thần của một bộ phim nói lên sự chịu đựng của cả một dân tộc trong một thời đoạn lịch sử…

Cùng với những bộ phim mới trên, Cục Điện ảnh cũng sẽ trình chiếu tại các rạp bộ phim tài liệu video “Việt Nam” (đạo diễn Carmen) do Điện ảnh Cộng hoà Liên bang Nga tặng năm 2008.

Ngoài ra, đây cũng là dịp khán giả có thể xem lại các bộ phim truyện như Ký ức Điện Biên, Hoa ban đỏ, Hà Nội mùa đông năm 1946, Năm ngày trong đời vị tướng, Đường thư, Giải phóng Sài Gòn và một số phim tài liệu khác.

Tại các tỉnh, thành phố trong cả nước, ngoài một ít vé mời dành cho các vị lão thành cách mạng, các bà mẹ Việt Nam anh hùng, cựu chiến binh… vào buổi chiếu thứ hai, các buổi chiếu phim sẽ được bán vé và doanh thu sẽ được chuyển vào Quỹ hỗ trợ phát triển điện ảnh.

Đợt phim bắt đầu từ ngày 29-4 và sẽ kết thúc vào ngày 20-5 trên cả nước, đặc biệt chú trọng phục vụ khán giả miền núi, vùng sâu vùng xa, căn cứ cách mạng, vùng biên giới và hải đảo.

(T.L)

Một Số Giải Pháp Kết Hợp Phát Triển Kinh Tế Biển Với Tăng Cường Quốc Phòng

Việt Nam có bờ biển dài trên 3.260 km cùng hơn 3.000 đảo lớn, nhỏ, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; diện tích vùng biển nước ta rộng khoảng 1 triệu km 2(gấp 3 lần diện tích đất liền). Vùng biển Việt Nam có nguồn thuỷ sản dồi dào, nguồn khoáng sản phong phú, trữ lượng lớn, có đường hàng hải giao thương với các quốc gia trong khu vực và nhiều nước trên thế giới… Với vị trí địa lý, tiềm năng, thế mạnh đó, vùng biển nước ta có tầm quan trọng chiến lược trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, những năm qua, Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế biển gắn với tăng cường tiềm lực quốc phòng- an ninh (QP-AN), bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Đặc biệt, Hội nghị Trung ương 4 (khoá X) của Đảng đã ra Nghị quyết về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, với mục tiêu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển, gắn với bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo. Nhờ đó, các ngành kinh tế biển đã từng bước phát triển, trong đó một số ngành chủ chốt: khai thác, chế biến dầu khí, đóng tàu, vận tải và du lịch biển, khai thác thuỷ sản và tài nguyên biển,… phát triển với tốc độ nhanh. Tiềm lực, thế trận QP-AN trên biển, đảo được tăng cường một bước. Hệ thống phương án tác chiến bảo vệ các khu vực biển, đảo, quần đảo được xây dựng và điều chỉnh phù hợp với sự phát triển mới của tình hình. Sự phối hợp giữa các lực lượng vũ trang (LLVT), nòng cốt là Hải quân, Cảnh sát biển, Bộ đội Biên phòng, Phòng không-Không quân, các quân khu ven biển và giữa LLVT với cấp uỷ, chính quyền, nhân dân địa phương ven biển trong hoạt động bảo vệ chủ quyền vùng biển, đảo của Tổ quốc được coi trọng và chặt chẽ hơn.

Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế biển và bảo đảm QP-AN trên biển, đảo hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng to lớn của vùng biển đất nước. Quy trình khai thác, đánh bắt, chế biến nguồn lợi hải sản vẫn chủ yếu là sản xuất nhỏ, manh mún; hệ thống hạ tầng yếu kém, thiếu cảng biển lớn với dịch vụ hậu cần đồng bộ; các cơ sở nghiên cứu khoa học-công nghệ biển, cơ sở dự báo thiên tai từ biển đang bộc lộ nhiều bất cập. Cùng với đó, thách thức gay gắt nổi lên là tình hình ở khu vực Biển Đông đang diễn biến phức tạp, tiềm ẩn những yếu tố mất ổn định về an ninh, tranh chấp chủ quyền biển, đảo hết sức khó lường. Thực trạng cũng như những khó khăn, thách thức nêu trên đã và đang đặt ra những yêu cầu mới đòi hỏi chúng ta phải có hệ thống giải pháp đồng bộ, phù hợp trong chiến lược biển nhằm mục tiêu phát triển kinh tế biển nhanh, bền vững gắn với tăng cường QP-AN trên biển, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Theo đó, chúng tôi cho rằng, cần thực hiện tốt một số giải pháp chủ yếu sau:

1. Tăng cường tuyên truyền, giáo dục cho toàn dân về quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước ta về biển, đảo.

2. Đẩy mạnh phát triển kinh tế biển gắn với tăng cường tiềm lực, thế trận QP-AN trên biển, đảo vững mạnh.

Quán triệt sâu sắc chủ trương của Đảng và Nhà nước về kết hợp phát triển kinh tế biển với tăng cường QP-AN, bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền biển, đảo, các cấp, các ngành cần đẩy mạnh kết hợp phát triển kinh tế biển với tăng cường QP-AN từ trong quy hoạch, chương trình, dự án phát triển các lĩnh vực; tận dụng có hiệu quả các thành tựu khoa học-công nghệ, nguồn nhân lực, vốn, thiết bị để đưa vào sản xuất. Chú trọng đầu tư cho khoa học nghiên cứu biển, đào tạo cán bộ một cách toàn diện để khoa học-công nghệ đi trước một bước, làm cơ sở cho chiến lược phát triển kinh tế biển trước mắt và lâu dài. Tăng cường đầu tư, phát triển các ngành kinh tế trọng điểm như: khai thác, lọc hoá dầu, khai thác, chế biến thuỷ sản, nâng cao năng lực công nghệ đóng tàu, nâng công suất vận tải biển và bốc xếp hàng hoá, tìm kiếm, cứu hộ, thông tin dẫn dắt… Đầu tư xây dựng các nhà máy chế biến hải sản, đồ thủ công mỹ nghệ, xây dựng các kho chứa xăng, dầu, bể nước, âu thuyền, khu tránh bão… Tăng cường năng lực đánh bắt hải sản xa bờ, đẩy mạnh các hoạt động dân sự trên vùng biển chủ quyền, có biện pháp hạn chế các hoạt động xâm phạm lãnh hải, khai thác tài nguyên trái phép.

Khai thác tốt tiềm năng, lợi thế do thiên nhiên đem lại cho bờ biển nước ta để phát triển du lịch, dịch vụ thương mại, thu hút đầu tư; qua đó, vừa quảng bá hình ảnh đất nước, vừa tăng thu nhập cho nền kinh tế, đưa du lịch trở thành một trong những ngành kinh tế động lực để tạo sự phát triển bền vững.

Tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng nghề cá có tính lưỡng dụng tại các vùng ven biển, hải đảo; nhất là hệ thống giao thông, sân bay, cảng biển, cấp điện, cấp nước, thông tin liên lạc, trường học, bệnh xá; chú trọng kết nối giữa đất liền với đảo. Từng bước hình thành các khu công nghiệp đô thị mới ven biển, khu du lịch và tuyến du lịch; trong đó chú trọng phát triển các đảo lớn thành trung tâm kinh tế, văn hoá,… của mỗi khu vực.

Đi đôi với tăng cường tiềm lực QP-AN, chú trọng xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên biển, đảo liên hoàn, vững chắc, bảo đảm phục vụ tốt cho nhiệm vụ quản lý, bảo vệ vùng biển, đủ khả năng ngăn chặn, đánh bại các cuộc tiến công xâm lược của kẻ thù từ hướng biển. Với tính chất đặc thù về địa hình, hệ thống đảo, quần đảo nước ta có lợi thế trong việc bố trí thế trận phòng thủ liên hoàn giữa biển với bờ, tạo cơ sở thuận lợi cho việc làm chủ vùng biển. Do vậy, cần tiếp tục đầu tư thực hiện các chương trình, dự án xây dựng tuyến đảo và khu vực ven biển với mục đích tăng cường tiềm lực QP-AN, bố trí LLVT vừa làm nhiệm vụ bảo vệ, vừa kết hợp làm kinh tế, dịch vụ biển, dịch vụ hậu cần theo một cơ chế quản lý riêng. Để giữ vững chủ quyền biển, đảo, phải chú trọng xây dựng thế trận liên hoàn: bờ-biển-đảo, đáp ứng yêu cầu quản lý và bảo vệ biển, đảo trong mọi tình huống, kể cả khi địch gây chiến tranh có sử dụng vũ khí công nghệ cao trên biển.

3. Xây dựng LLVT vững mạnh, trước hết là lực lượng Hải quân làm nòng cốt bảo vệ biển, đảo.

Các LLVT làm nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biển, đảo cần phải được xây dựng vững mạnh, bảo đảm số lượng, chất lượng, cơ cấu thành phần lực lượng hợp lý, trang bị phù hợp. Lực lượng Hải quân cần được quan tâm xây dựng theo hướng hiện đại, phát triển nhanh về số lượng, chất lượng, chủng loại, có khả năng cơ động cao, thực sự là lực lượng nòng cốt trong hoạt động tác chiến, bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Tăng cường củng cố, phát triển Bộ đội Biên phòng, lực lượng Cảnh sát biển ngày càng lớn mạnh, hiện đại, đủ sức phát hiện, kiểm soát mọi hành động vi phạm trên các lĩnh vực kinh tế, QP-AN, ngăn chặn các hành động cướp biển, xâm phạm lãnh hải, hướng dẫn, khắc phục hậu quả thiên tai… Lực lượng Không quân cần được tăng cường năng lực tuần tra, kiểm soát, tác chiến bảo vệ vùng trời biển, đảo. Xây dựng các đơn vị pháo binh, tên lửa bố trí trên đất liền, trên đảo và các tàu chiến có thể kiểm soát hiệu quả các vùng biển đảo ở các cự li khác nhau. Cần hết sức coi trọng công tác huấn luyện, luyện tập nâng cao trình độ kỹ thuật, chiến thuật cho bộ đội; bổ sung, hoàn thiện các phương án tác chiến; củng cố, xây dựng mới công sự, trận địa trên các đảo và ven biển, nhằm đáp ứng yêu cầu tác chiến trong mọi hoàn cảnh.

Đại tá, TS. NGUYỄN ĐỨC TỈNH

Thuế Máu (Trích Bản Án Chế Độ Thực Dân Pháp) Trang 86 Sgk

Nhận xét về cách đặt tên chương, tên các phần trong văn bản.

Hướng dẫn giải

Nhận xét nhan đề và tên các phần trong văn bản

Thuế máu – một thứ thuế lạ, khơi gợi sự tò mò của người đọc, là những thứ thuế nặng nề, vô lí gông vào cổ của nhân dân An Nam. Họ phải dùng cả nước mắt, máu xương, tính mạng của mình để đóng cho đủ những thứ thuế ấy

Tên của các phần trong văn bản: Chiến tranh và “Người bản xứ” – Chế độ lính tình nguyện – Kết quả của sự hi sinh là quá trình lừa bịp trắng trợn, vắt đến tận xương tủy nhân dân của thực dân Pháp

Cách đặt tên nhan đề và các phần trong văn bản cho ta thấy được một niềm phẫn uất, căm hận, cả sự bất bình, đau đớn của một người khi chứng kiến cảnh nhân dân, đất nước, quê cha đất tổ bị chà đạp, phỉ nhổ. Đó cũng là cơ sở tiền đề cho những lí luận sắc bén và lời kết tội đanh thép của Bác sau này.

So sánh thái độ của các quan cai trị thực dân đối với người dân thuộc địa ở hai thời điểm : trước khi có chiến tranh và khi chiến tranh xảy ra. Số phận thảm thương của người dân thuộc địa trong các cuộc chiến tranh phi nghĩa được miêu tả như thế nào?

Hướng dẫn giải

Thái độ của các quan cai trị thực dân đối với người dân thuộc địa ở hai thời điểm :

Trước chiến tranh, người dân thuộc địa bị xem là giống người hạ đẳng, bị đối xử, đánh đập như súc vật.

Khi cuộc chiến tranh xảy ra, lập tức họ được các quan cai trị tâng bốc, vỗ về, phong cho những danh hiệu cao quý. Để chuẩn bị biến những ngưòi dân thuộc địa thành những vật hi sinh, chính quyền thực dân đã dùng thủ đoạn lừa bịp, bỉ ổi này.

Số phẩn thảm thương của người dân thuộc địa trong cuộc chiến tranh phi nghĩa được miêu tả như sau :

Họ phải đột ngột lìa xa gia đình, quê hương vì mục đích vô nghĩa, đem mạng sống để đánh đổi lấy danh dự hão huyền.

Bị biến thành vật hi sinh cho lợi ích, danh dự của nhũng kẻ cầm quyền. Phải chết thảm thương trên chiến trường ác liệt, xa xôi : “phơi thây trên các bãi chiến trường”, “bỏ xác tại những miền hoang vu”, “đưa thân cho người ta tàn sát”… Con số tám vạn người được đưa ra để chứng minh cho sự tàn khốc của chiến tranh phi nghĩa

Những người làm công việc chế tạo vũ khí, phục vụ chiến tranh cũng bị bệnh tật và chết đau đớn : “phải hít hơi ngạt”, “nhiễm phải những luồng khí độc”, “khạc ra từng miếng phổi”.

Nêu rõ các thủ đoạn, mánh khóe bắt lính của bọn thực dân. Người dân thuộc địa có thực “tình nguyện” hiến dâng xương máu như lòi lẽ bịp bợm của bọn cầm quyền không ?

Hướng dẫn giải

Thủ đoạn, mánh khóe bắt lính của bọn thực dân:

Tiến hành các cuộc lùng ráp lớn về nhân lực trên toàn cõi Đông Dương.

Lợi dụng việc bắt lính để nhũng lạm- tham nhũng.

Bắt những người nghèo khổ, khỏe mạnh và tống tiền con nhà giàu.

Dựng lên màn kịch rêu rao về chế độ ” tình nguyện” đi lính.

Người dân thuộc địa không tình nguyện như lời lẽ bọn cầm quyền:

Họ tự tìm cách làm cho mình bị nhiễm những căn bệnh nặng nhất để không phải đi lính.

Họ bị xiềng xích, bắt bớ, tống giam và bị áp tải xuống tàu.

Kết quả sự hi sinh của người dân thuộc địa trong các cuộc chiến tranh như thế nào ? Nhận xét về cách đối xử của chính quyền thực dân đối với họ sau khi đã bóc lột hết “thuế máu” của họ.

Hướng dẫn giải

Kết quả của những người dân thuộc địa:

Họ trở về “giống người bẩn thỉu”,” giống người hèn hạ” như trước khi xảy ra chiến tranh.

Họ bị cướp hết tài sản, của cải, bị đánh đạp, bị đối xử như súc vật, bị đuổi đi một cách trắng trợn.

Họ phải bỏ tính mạng của mình, nhưng không được hưởng chút công lý và chính nghĩa nào cả.

Nhận xét về trình tự bố cục các phần trong chương. Phân tích nghệ thuật châm biếm, đả kích sắc sảo, tài tình của tác giả thể hiện qua cách xây dựng hình ảnh, qua giọng điệu.

Hướng dẫn giải

Bố cục của Thuế máu được kết cấu theo trình tự:

Thời gian: trước, trong, và sau cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất.

Các chương liên kết về nôi dung, tố cáo bộ mặt giả nhân giả nghĩa trơ trẽn, bản thuế máu được phơi bày toàn diện, triệt để, từ đó thể hiện thân phận thảm thương của người dân nô lệ ở các xứ thuộc địa được miêu tả một cách cụ thể, sinh động.

Nghệ thuật châm biếm, đả kích sắc sảo, tài tình của tác giả thể hiện chủ yếu qua các phương diện sau :

Xây dựng, đưa vào những hình ảnh chân thực phản ánh chính xác thực trạng, có sức tố cáo mạnh mẽ.

Sự đồng cảm trước tình cảm khốn cùng thảm thương của người dân thuộc địa.

Dùng câu hỏi tu từ với mục đích đập tan luận điệu xảo trá đến trơ trẽn của chính quyền Đông Dương.

Giọng điệu trào phúng, châm biếm, mỉa mai để nói lên bản chất bọn thực dân: “Ấy thế mà cuộc chiến tranh vui tươi bùng nổ, thì lập tức họ biến thành những đứa “con yêu”, những người “bạn hiền” của các quan cai trị phụ mẫu nhân hậu…”, đùng một cái… được phong cho cái danh hiệu tối cao là “chiến sĩ bảo vệ công lí và tự do”

Nhận xét về yếu tố biểu cảm trong đoạn trích được đọc.

Hướng dẫn giải

Trong đoạn trích, yếu tố tự sự và yếu tố biểu cảm được kết hợp chặt chẽ với nhau. Thực ra, bản thân yếu tố tự sự đã bao hàm yếu tố biểu cảm.

Các sự kiện, con số nêu lên một cách chính xác, những hình ảnh xác thực, sinh động, giàu tính thuyết phục đã tạo nên tính biểu cảm của đoạn trích.

Các hình ảnh được xây dựng mang tính biểu cảm cao:” chiến tranh tươi vui”, ” Chứng kiến cảnh kì diệu của trò biểu diễn khoa học về phóng ngư lôi”, “Những miền hoang vu mộng mơ”, “quan phụ mẫu nhân hậu”.

Nhan đề Thuế máu gợi cho em suy nghĩ gì?

Hướng dẫn giải

“Thuế” vốn là một khái niệm đã quen thuộc. Nhưng tại sao lại gọi là “Thuế máu”? Cách đặt nhan đề tạo nên sự tò mò, mang đến sự chú ý, ấn tượng mạnh mẽ và gợi ra trong lòng độc giả nhiều suy nghĩ. Phải chăng chế chộ của thực dân xâm lược tàn bạo và hà khắc đến mức nhân dân ta phải đóng thuế bằng “máu”. Chữ “Máu” ở đây có lẽ Nguyễn Ái Quốc dùng với ngụ ý là sức lực, sức khỏe, hay chính là tính mạng của chính người dân.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Nhiều Giải Pháp Tăng Độ Che Phủ Rừng trên website Asianhubjobs.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!