Đề Xuất 2/2023 # Quân Giải Phóng Miền Nam Việt Nam Và Những Bài Học Lịch Sử # Top 2 Like | Asianhubjobs.com

Đề Xuất 2/2023 # Quân Giải Phóng Miền Nam Việt Nam Và Những Bài Học Lịch Sử # Top 2 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Quân Giải Phóng Miền Nam Việt Nam Và Những Bài Học Lịch Sử mới nhất trên website Asianhubjobs.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Chào mừng kỷ niệm 60 năm Ngày thành lập Quân giải phóng miền Nam Việt Nam (1961-2021)

Tại Hội thảo khoa học Quân giải phóng miền Nam Việt Nam – Vai trò, ý nghĩa và bài học lịch sử do Bộ Quốc phòng phối hợp với Tỉnh ủy Đồng Nai tổ chức sáng 8-1, có 9 bài tham luận tiêu biểu trong tổng số gần 90 bài tham luận khoa học đã được các đại biểu trình bày.

Nhân dân Sài Gòn đổ ra đường chào đón Quân giải phóng. Ảnh: TL/TTXVN

Các bài tham luận đã khẳng định chủ trương thành lập Quân giải phóng miền Nam Việt Nam (QGPMNVN) là sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo nguyên lý chủ nghĩa Mác – Lênin về xây dựng lực lượng vũ trang của Đảng. Khẳng định sự lãnh đạo của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhân tố quyết định tạo nên sức mạnh chiến đấu, làm nên chiến thắng của QGPMNVN; ý nghĩa,  vai trò của QGPMNVN đối với sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà. Đồng thời, rút ra những bài học kinh nghiệm trong quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của QGPMNVN, vận dụng vào sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

* Vai trò to lớn đối với cách mạng Việt Nam

Thiếu tướng, TS Nguyễn Hoàng Nhiên, Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Phó trưởng ban chỉ đạo hội thảo cho biết, dưới sự lãnh đạo của Đảng, QGPMNVN đã vượt qua muôn vàn gian khó, chấp nhận hy sinh, anh dũng, sáng tạo, chiến đấu quên mình, lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ, giành thắng lợi từng bước để đi đến thắng lợi cuối cùng bằng Cuộc tổng tiến công nổi dậy mùa xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Chặng đường vinh quang đó đã ghi đậm những dấu ấn chiến công, ngời sáng chủ nghĩa anh hùng cách mạng, khẳng định chân lý: Không có gì quý hơn độc lập tự do.

Báo cáo đề dẫn tại hội thảo, thượng tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, Phó trưởng ban chỉ đạo hội thảo đã nêu, với bản chất, hiếu chiến, đế quốc Mỹ đã trắng trợn vi phạm Hiệp định Genevè, nhanh chóng nhảy vào miền Nam Việt Nam, dựng lên chính quyền bù nhìn tay sai Ngô Đình Diệm, áp đặt chính sách thực dân kiểu mới. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (tháng 9-1960) khẳng định “xây dựng và củng cố lực lượng vũ trang nhân dân là một trong những điều kiện quan trọng của cách mạng nước ta để chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược”. Quán triệt chủ trương của đại hội, tháng 1-1961, Tổng quân ủy ra chỉ thị thành lập QGPMNVN, trực tiếp chiến đấu trên chiến trường miền Nam. Ngày 15-2-1961, tại Chiến khu Đ, QGPMNVN được chính thức tuyên bố thành lập.

Trung tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Trưởng ban Chỉ đạo Hội thảo khoa học cho hay: “Hội thảo là dịp để đánh giá, nhìn nhận lại quá trình xây dựng, chiến đấu, công lao, đóng góp của GPMNVN đối với sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; khẳng định sự sáng tạo, linh hoạt của Đảng trong tổ chức và sử dụng lực lượng vũ trang phục vụ nhiệm vụ chiến lược. Qua đó, góp phần giáo dục truyền thống cách mạng cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, hun đúc tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, ý chí độc lập, tự chủ, tinh thần quật khởi và khát vọng yêu chuộng hòa bình cho các thế hệ hôm nay và mai sau. Đồng thời, đúc rút những bài học kinh nghiệm lịch sử để vận dụng vào sự nghiệp xây dựng  và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới”.

Khẳng định chủ trương thành lập QGPMNVN là sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo nguyên lý chủ nghĩa Mác – Lênin về xây dựng lực lượng vũ trang của Đảng, là nét đặc sắc của nghệ thuật sử dụng lực lượng trong thực hiện nhiệm vụ cách mạng, trong bài tham luận QGPMNVN – sự sáng tạo, linh hoạt về tổ chức biên chế của Quân đội nhân dân Việt Nam, Trung tướng Vũ Văn Sỹ, Cục trưởng Cục Quân lực Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam đã đi sâu phân tích và khẳng định sự sáng tạo, linh hoạt về tổ chức biên chế; đánh dấu bước phát triển mới về tổ chức lực lượng của Quân đội nhân dân Việt Nam, một thành công lớn của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Theo trung tướng Vũ Văn Sỹ, QGPMNVN là một bộ phận của Quân đội nhân dân Việt Nam, chịu sự chỉ đạo trực tiếp, xuyên suốt của Đảng Lao động Việt Nam, là nòng cốt của các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ được xây dựng và phát triển trên cơ sở các đội vũ trang tự vệ, vũ trang tuyên truyền của các địa phương miền Nam và lực lượng cán bộ, chiến sĩ, nhân viên kỹ thuật quân sự ở miền Bắc bổ sung, tăng cường.

Ngay sau khi ra đời, Quân giải phóng đã xây dựng, phát triển lực lượng, tập trung xây dựng bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích. Trong đó, chú trọng phát triển bộ đội chủ lực cả về tổ chức biên chế và vũ khí trang bị. Tùy vào tình hình chiến sự thực tế, biên chế của Quân giải phóng cũng thay đổi để đáp ứng nhiệm vụ được giao.

Thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh là một minh chứng cho sự lớn mạnh của Quân giải phóng về tổ chức lực lượng; trình độ tổ chức, chỉ huy, hiệp đồng tác chiến với các quân chủng, binh chủng, kết hợp chặt chẽ giữa tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng, thực hiện trận quyết chiến chiến lược kết thúc chiến tranh, mở ra một thời kỳ mới cho cách mạng Việt Nam.

Đồng tình với quan điểm này, trong tham luận Nghệ thuật tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng của QGPMNVN trong chống Mỹ, cứu nước, đại tá, PGS-TS Hoàng Xuân Nhiên, Khoa Chiến lược Học viện Quốc phòng cho rằng, trong chiến dịch quyết chiến chiến lược mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh, ta đã chủ động thực hiện hiệp đồng giữa đánh địch trên tuyến phòng thủ từ xa và đột phá tuyến phòng ngự cơ bản ở ven đô của địch với đánh địch bằng binh đoàn thọc sâu vào trung tâm thành phố; giữa cắt đường bộ với ngăn đường sông, khống chế đường không; giữa tiêu diệt, đánh tan bộ binh thiết giáp với chế áp trận địa pháo binh và bắn phá, ném bom làm tê liệt sân bay địch. Điểm rất mới là ta đã dùng máy bay lấy được của địch để ném bom sân bay Tân Sơn Nhất, tạo nên sự phối hợp chiến dịch giữa trên không và mặt đất càng thúc đẩy tốc độ tiến công vào thời điểm rất quan trọng của địch. Nhất là, với các quân đoàn binh chủng hợp thành có sức đột kích mạnh, khả năng cơ động cao, phối hợp chặt chẽ với chiến tranh nhân dân ở các địa phương, chúng ta đã thực hành tác chiến hiệp đồng binh chủng với quy mô rất lớn, lần lượt đập tan những hệ thống phòng thủ kiên cố, loại khỏi chiến đấu từng quân đoàn địch, đánh chiếm các căn cứ quân sự lớn, giải phóng các thành phố, thị xã, đánh vào tận sào huyệt của địch, đánh đổ ngụy quyền, giải phóng miền Nam…

* Những bài học lịch sử còn nguyên giá trị

Được tuyên bố thành lập vào ngày 15-2-1961 đến khi kết thúc vai trò lịch sử vào ngày 7-7-1976, chặng đường xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của QGPMNVN đã làm nên những thắng lợi huy hoàng, để lại những bài học kinh nghiệm quý báu về lãnh đạo chỉ đạo của Đảng trong xây dựng và phát huy vai trò của lực lượng vũ trang trong thực hiện nhiệm vụ cách mạng; bài học về tổ chức, xây dựng lực lượng vũ trang phù hợp với hoàn cảnh và nhiệm vụ; phát huy sức mạnh chính trị – tinh thần, xây dựng ý chí quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ cho cán bộ, chiến sĩ; về tư tưởng tiến công, sáng tạo trong thực hiện vụ, phát huy sức mạnh tổng hợp…

Báo cáo đề dẫn của thượng tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam cho rằng,  hội thảo là dịp để ôn lại lịch sử hào hùng; bản chất, truyền thống tốt đẹp, những chiến công oanh liệt của QGPMNVN, của Quân đội nhân dân Việt Nam và nhân dân ta. Qua đó, khơi dậy niềm tự hào, tự tôn dân tộc, phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội; phát huy ý chí tự lực, tự cường vượt qua mọi khó khăn thử thách xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân ngày càng vững chắc; xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.  Hội thảo đã góp phần làm sáng tỏ, sâu sắc hơn những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra từ quá trình xây dựng, chiến đấu, phát huy vai trò của QGPMNVN trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đó là nền tảng khoa học vững chắc trong cuộc chiến chống âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc lịch sử của các thế lực thù địch; đồng thời, góp phần giáo dục truyền thống đấu tranh cách mạng, bồi đắp tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân, nhất là các thế hệ trẻ Việt Nam hôm nay và mai sau.

Trong tham luận Xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu cho QGPMNVN – bài học kinh nghiệm trong xây dựng lực lượng vũ trang Quân khu 7 hiện nay, thiếu tướng Hoàng Đình Chung, Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 7 cho biết, vận dụng những kinh nghiệm xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu của QGPMNVN, việc xây dựng quyết tâm chiến đấu của lực lượng vũ trang Quân khu 7 ngày nay tập trung vào một số nội dung sau: giáo dục bộ đội nhận rõ đối tượng, đối tác của cách mạng, đối tượng tác chiến của quân đội trong tình hình mới, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Tập trung củng cố, tăng cường niềm tin, lý tưởng chiến đấu, làm cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân vững tin vào thắng lợi của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc trong tương lai, phát huy truyền thống anh hùng của dân tộc, của quân đội, truyền thống trung thành vô hạn, chủ động sáng tạo, tự lực tự cường, đoàn kết quyết thắng của lực lượng vũ trang Quân khu 7. 

Xây dựng lực lượng vũ trang Quân khu vững mạnh toàn diện, mẫu mực tiêu biểu, lấy xây dựng vững mạnh về chính trị làm cơ sở. Xây dựng Đảng bộ Quân khu trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang Quân khu và sự nghiệp quốc phòng. Chủ động, tích cực đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, nhất là trên internet, mạng xã hội, bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong quân đội. Chủ động chia sẻ, lan tỏa những tin, bài, ảnh có nội dung tích cực, gương người tốt việc tốt… nhằm nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, không tin theo, không truy cập và tán phát, chia sẻ những thông tin xấu độc, góp phần đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động.

Bên cạnh đó, thường xuyên quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội, thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội, kết hợp công tác tư tưởng với công tác tổ chức và công tác chính sách, dân vận, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, nếp sống văn minh, “sáng, xanh, sạch, đẹp”; ngăn chặn, đẩy lùi tác động của mặt trái kinh tế thị trường, tệ nạn, tiêu cực trong xã hội đối với cán bộ, chiến sĩ.

Đại tá Lương Đình Lành, Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân đoàn 4 chia sẻ, Quân đoàn đã và đang tập trung xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, mẫu mực, tiêu biểu; xây dựng Đảng bộ Quân đoàn vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Nhân kỷ niệm 60 năm Ngày thành lập QGPMNVN (1961-2021), Quân đoàn 4 tiếp tục phát huy truyền thống “Trung thành, đoàn kết, anh dũng, sáng tạo, tự lực, quyết thắng”, tập trung nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao…

Hạnh Dung

PGS-TS Nguyễn Đức Nhuệ, Phó viện trưởng phụ trách Viện Sử học (Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam): Giải phóng quân anh dũng chiến thắng

 

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc, QGPMNVN là đội quân chủ lực thực hiện nhiệm vụ “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, góp phần quan trọng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, viết nên trang sử vàng trong quá trình xây dựng và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam, để lại dấu ấn đậm nét trong tiến trình lịch sử dân tộc.

Trải qua gần 15 năm (1961-1975), QGPMNVN, bộ phận của Quân đội nhân dân Việt Nam đã làm tròn nhiệm vụ chiến đấu ở chiến trường miền Nam, hoàn thành sứ mệnh lịch sử của dân tộc giao phó, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, QGPMNVN thật xứng đáng với 7 chữ vàng “Giải phóng quân anh dũng chiến thắng”, tung bay trên quân kỳ do Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam trao tặng ngay trong ngày thành lập.

Đồng chí Phạm Xuân Hà, Ủy viên Ban TVTU, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Đồng Nai: Khẳng định vai trò quan trọng của Chiến khu Đ

 

Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Chiến khu Đ gắn liền với lịch sử thành lập và hoạt động của những đơn vị vũ trang mạnh, những tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn và hàng loạt trận đánh, chiến dịch, mà kết quả của nó đã góp phần tạo nên những bước ngoặt quan trọng trong quá trình phát triển của cuộc chiến tranh. Từ đây, đã ra đời những đơn vị vũ trang tập trung đầu tiên của miền Đông và của Xứ ủy, rồi tập trung thành Tiểu đoàn 800, Tiểu đoàn 500, Trung đoàn Đồng Nai. Đây cũng là nơi thành lập và đứng chân tác chiến của lực lượng quân chủ lực Miền như Trung đoàn 762, Sư đoàn 9, Sư đoàn 5, Sư đoàn 7, và trong cuộc tổng tiến công nổi dậy mùa xuân năm 1975 là nơi tập kết của lực lượng Quân đoàn 1, Quân đoàn 4 trước khi tiến về giải phóng Sài Gòn.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng trong 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, Chiến khu Đ tồn tại như một biểu tượng của cuộc kháng chiến, tiêu biểu cho ý chí, sức mạnh tinh thần của toàn dân, là nguồn hy vọng, là niềm tin của toàn thể cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trên địa bàn miền Đông Nam bộ. Truyền thống anh hùng của lực lượng vũ trang QGPMNVN đã góp phần làm nên một Chiến khu Đ còn, Sài Gòn mất. Đây không chỉ là một đánh giá về mặt vị trí chiến lược của căn cứ đối với kẻ thù, mà còn mang ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại, phát triển của các lực lượng vũ trang cách mạng trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược.

Đại tá Nguyễn Viết Tá, nguyên Tổng biên tập Báo Quân giải phóng, nguyên Trưởng phòng Khoa học quân sự Quân khu 7, thư ký của thượng tướng Trần Văn Trà: Dấu ấn thượng tướng Trần Văn Trà

 

Thượng tướng Trần Văn Trà là người chỉ huy tài ba, mưu lược, để lại dấu ấn sâu đậm với tên gọi thân thương “Vị tướng của Thành đồng Tổ quốc”. Trên cương vị Tư lệnh QGPMNVN, thượng tướng Trần Văn Trà đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận xét “là một cán bộ quân sự quan tâm lãnh đạo toàn diện các mặt công tác quân sự, chính trị, hậu cần, kinh tế, ngọai giao. Dù ở cương vị nào đồng chí cũng hòa mình với quần chúng, gương mẫu, thương yêu, đoàn kết, tôn trọng cán bộ, chiến sĩ, được đồng đội và nhân dân quý mến.

Nhà văn Trầm Hương, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, chuyên viên cao cấp Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ: Vẻ vang nữ tướng Nguyễn Thị Định

 

Từ chỉ huy Đội quân tóc dài trong phong trào Đồng Khởi, bà Nguyễn Thị Định đã trở thành Phó tư lệnh QGPMNVN, là nữ tướng duy nhất của Quân đội nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong nhân dân và đồng đội, là tấm gương sáng của phụ nữ Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Chưa có người phụ nữ nào được vinh dự nhận lấy sự tín nhiệm của Đảng, Nhà nước và nhân dân như bà Nguyễn Thị Định. Năm 1965. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Phó tổng tư lệnh quân giải phóng là cô Nguyễn Thị Định. Cả thế giới chỉ nước ta có vị tướng quân gái như vậy. Thật là vẻ vang cho miền Nam, cho cả dân tộc ta”.            

                An Yên (ghi)

Sự Ra Đời Quân Giải Phóng Miền Nam Việt Nam: Khẳng Định Giá Trị Lịch Sử

Cách đây tròn 60 năm, ngày 15/02/1961, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam – một bộ phận của Quân đội Nhân dân Việt Nam ra đời, thực hiện nhiệm vụ thiêng liêng giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Quân giải phóng miền Nam Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh, trưởng thành về mọi mặt, hoàn thành sứ mệnh của mình.

Đầu năm 1961, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đứng trước tình thế mới, phong trào Đồng khởi trong hai năm 1959, 1960 của nhân dân miền Nam thắng lợi đã chuyển cách mạng từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công. Cuối tháng 1-1961, Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng lao động Việt Nam đã họp bàn về phương hướng và nhiệm vụ công tác trước mắt của Cách mạng miền Nam, đề ra phương châm đấu tranh “Đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh chính trị, đồng thời đẩy mạnh đấu tranh vũ trang lên song song với đấu tranh chính trị, tấn công địch bằng cả hai mặt chính trị và quân sự”.

Về bản chất quân giải phóng miền Nam Việt Nam là một bộ phận của Quân đội nhân dân Việt Nam, chịu sự chỉ đạo trực tiếp xuyên suốt của Đảng lao động Việt Nam. Những đoàn quân vượt qua vĩ tuyến 17, đều được gọi là quân giải phóng miền Nam Việt Nam cùng thực hiện nhiệm vụ chiến đấu cho thống nhất nước nhà. Cũng từ đây Cách mạng miền Nam có bước chuyển bước căn bản từ khởi nghĩa từng phần lên chiến tranh Cách mạng, đáp ứng yêu cầu quy luật phát triển của chiến tranh, trực tiếp tăng cường sức mạnh của Cách mạng miền Nam sẵn sàng đương đầu và đập tan các kế hoạch quân sự của Mỹ và chính quyền Sài Gòn.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, trực tiếp là Trung ương Cục miền Nam Quân ủy Bộ chỉ huy miền, Quân giải phóng miền Nam đã không ngừng lớn mạnh trưởng thành về mọi mặt, làm nên những chiến công xuất sắc, sau chặng đường 15 năm quân giải phóng miền Nam – bộ phận của Quân đội nhân dân Việt Nam đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử mà Đảng và nhân dân giao phó, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

Những Nhân Vật Lịch Sử Gắn Liền Với Di Tích Quốc Gia Đặc Biệt Căn Cứ Bộ Chỉ Huy Quân Giải Phóng Miền Nam Việt Nam

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, sự thành lập Căn cứ Bộ Chỉ huy Quân giải phóng miền Nam Việt Nam tại Tà Thiết có ý nghĩa lịch sử đặc biệt quan trọng. Nơi đây đã diễn ra sự kiện lịch sử có ý nghĩa to lớn, có tính chất quyết định đến cách mạng miền Nam, góp phần làm nên chiến thắng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Có thể nói căn cứ Bộ Chỉ huy Quân giải phóng miền Nam Việt Nam là nơi cụ thể hóa các chủ trương, quyết sách của Trung ương Đảng, của Bộ Chính trị vào thực tiễn cách mạng miền Nam, từ đó cho ra đời nhiều chỉ thị, nghị quyết về đường lối chiến lược của cách mạng miền Nam và triển khai thành công trong phạm vi chiến trường miền Nam. Nơi đây đã gắn liền với cuộc đời và hoạt động cách mạng của các nhân vật lịch sử sau này trở thành các nhà lãnh đạo nắm giữ những cương vị quan trong bộ máy của Đảng, Nhà nước như: Đại tướng Lê Đức Anh; Thượng tướng Trần Văn Trà; Thiếu tướng Nguyễn Thị Định; Đại tướng Văn Tiến Dũng, Chính ủy Phạm Hùng…

Thượng tướng Trần Văn Trà – Tư lệnh Bộ Tư lệnh quân giải phóng miền Nam Việt Nam qua các thời kỳ:

Đồng chí Trần Văn Trà tên thật là Nguyễn Chấn, sinh năm 1919 tại xã Tịnh Long, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, tham gia cách mạng từ năm 1936. Tháng 8/1938 đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Tháng 12/1939 đồng chí bị địch bắt tại Sài Gòn, chúng đưa đồng chí về giam tại nhà lao Huế và nhà lao Thừa Thiên sau đó được thả tự do và bị cấm đi khỏi nơi cư trú. Năm 1949-1950 là Tư lệnh và Chính ủy khu Sài Gòn – Chợ Lớn, Khu 7. Năm 1951 là Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh Nam Bộ. Năm 1963 đồng chí giữ chức vụ Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, Phó Bí thư Quân ủy Quân giải phóng miền Nam Việt Nam.

Thượng tướng Trần Văn Trà triển khai chiến dịch Nguyễn Huệ tháng 4 năm 1972.

Ảnh: tư liệu.

Tháng 3/1973, đồng chí là Trưởng đoàn đại biểu Quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Năm 1974, đồng chí được phong hàm Thượng tướng. Năm 1975 là Phó Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh. Thượng tướng Trần Văn Trà đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng các danh hiệu cao quý như: Hai Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất và Ba, Huân chương Chiến công hạng Nhất và nhiều phần thưởng cao quý khác.

Đại tướng Hoàng Văn Thái – Tư lệnh Bộ Tư lệnh quân giải phóng miền Nam Việt Nam:

Đồng chí Hoàng Văn Thái (Hoàng Văn Xiêm), sinh năm 1915 tại xã Tây An, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, tham gia cách mạng từ năm 1936 và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1938. Năm 1940, đồng chí bị thực dân Pháp bắt giam một thời gian. Ngày 3/8/1945, đồng chí tham gia chỉ huy giành chính quyền ở Chợ Đồng Lộc, An Châu và Tuyên Quang, phụ trách Trường Quân chính Kháng Nhật ở Tân Trào.

Đồng chí Hoàng Văn Thái (người cầm cờ) vinh dự được đứng trong hàng ngũ

34 đội viên Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Ảnh: tư liệu

Từ năm 1967-1973 là Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, Phó Bí thư Trung ương Cục và Phó Bí thư Quân ủy Quân giải phóng miền Nam Việt Nam.

Tháng 01/1980 được phong quân hàm Đại tướng. Đại tướng Hoàng Văn Thái đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng các danh hiệu cao quý như: Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất và Nhì, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất và nhiều phần thưởng cao quý khác.

Đại tướng Lê Đức Anh – Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh quân giải phóng miền Nam Việt Nam:

Đồng chí Lê Đức Anh sinh năm 1920 tại huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Năm 1937, tham gia phong trào bình dân, năm 1941 về Bình Phước phụ trách tổ chức các nghiệp đoàn cao su ở Lộc Ninh, Hớn Quản. Trong cách mạng tháng Tám năm 1945, đồng chí chỉ huy đội quân khởi nghĩa giành chính quyền ở Lộc Ninh. Năm 1964 đồng chí được điều vào Nam giữ chức Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng quân giải phóng miền Nam.

Năm 1975 là Phó Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh, kiêm Tư lệnh cánh quân Tây Nam đánh vào Sài Gòn.

Đại tướng Lê Đức Anh (thứ hai từ phải sang) cùng các thành viên thuộc

Bộ Tư lệnh Miền tại căn cứ Tà Thiết, Lộc Ninh, trước khi bước vào

Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Ảnh: Tư liệu

Đại tướng Lê Đức Anh đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng các danh hiệu cao quý như: Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất và nhiều phần thưởng cao quý khác.

Thiếu tướng Nguyễn Thị Định – Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh quân giải phóng miền Nam Việt Nam:

Đồng chí Nguyễn Thị Định (còn gọi là Ba Định) sinh năm 1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, tham gia cách mạng năm 1936 trong phong trào Đông Dương Đại hội. Tháng 10/1938 đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1945 tham gia cướp chính quyền tại tỉnh Bến Tre và được bầu vào Ban Chấp hành phụ nữ Cứu quốc tỉnh Bến Tre. Năm 1960 đồng chí là một trong những người lãnh đạo Đồng khởi Bến Tre và là người chỉ đạo trực tiếp phong trào Đồng Khởi. Năm 1965 giữ chức Phó Tư lệnh quân giải phóng miền Nam. Năm 1974 được phong quân hàm Thiếu tướng, là nữ tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Vườn cây lưu niệm bà Nguyễn Thị Định (thị xã Phước Long). Ảnh: Tư liệu

Thiếu tướng Nguyễn Thị Định đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng các danh hiệu cao quý như: Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất… Ngoài ra, đồng chí còn được tặng giải thưởng Hòa bình Lê Nin, được Đảng và Nhà nước Cu Ba tặng thưởng Huân chương Plâya Giron, Huân chương Ana Mariam Granajales. Ngày 30/8/1995, Thiếu tướng Nguyễn Thị Định được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Thượng tướng Nguyễn Minh Châu – Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh quân giải phóng miền Nam Việt Nam:

Đồng chí Nguyễn Minh Châu, bí danh Năm Ngà, sinh năm 1921 tại xã Thái Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Đầu năm 1945, đồng chí tham gia cách mạng, tham gia hoạt động rải truyền đơn tuyên truyền chống Pháp, Nhật, trinh sát cướp súng đạn, vũ khí, chuẩn bị khởi nghĩa tại kho Xóm Chiếu, bến tàu Lăng Cô. Từ tháng 4/1963 đến 8/1969 giữ chức Tư lệnh Quân khu 6, Ủy viên thường trực Khu 6. Tháng 7/1970 giữ chức Tham mưu phó Bộ Chỉ huy miền. Tháng 9/1792 được bổ nhiệm Tham mưu trưởng Bộ Chỉ huy miền. Thượng tướng Nguyễn Minh Châu đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng các danh hiệu cao quý như: Huân chương Hồ Chí Minh, ba Huân chương Quân công hạng Nhất, ba Huân chương Chiến công hạng Nhất và nhiều phần thưởng cao quý khác. Năm 2010 đồng chí được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đồng chí Phạm Hùng – Chính ủy Bộ Tư lệnh quân giải phóng miền Nam Việt Nam:

Đồng chí Phạm Hùng, tên thật là Phạm Văn Thiện, sinh ngày 11/6/1912 tại xã Long Hồ, huyện Châu Thành, tỉnh Vĩnh Long. Năm 1967 được Bộ Chính trị phân công làm Bí thư Trung ương Cục miền Nam và Chính ủy các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam. Năm 1975, trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, đồng chí là Chính ủy Bộ Chỉ huy chiến dịch.

Đồng chí Phạm Hùng đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao vàng – huân chương cao quý nhất của Đảng và Nhà nước ta và nhiều huân chương cao quý khác. Ngoài ra, đồng chí được Nhà nước Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô Viết tặng Huân chương Cách mạng Tháng Mười, Huy chương vì sự nghiệp củng cố liên minh chiến đấu; Nhà nước Cộng hòa Cu Ba tặng Huân chương E. Chê Gheevara hạng Nhất và nhiều giải thưởng cao quý của các nước trong phe Xã hội Chủ Nghĩa.

Trung tướng Lê Văn Tưởng – Phó chính ủy Bộ Tư lệnh quân giải phóng miền Nam Việt Nam:

Đồng chí Lê Văn Tưởng có bí danh là Lê Chân, sinh năm 1919 tại xã Thạnh Lợi, huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

Từ năm 1967-1975 là Chủ nhiệm Chính trị Quân ủy miền Nam. Từ năm 1972 đến năm 1975, giữ chức Phó Chính ủy Bộ Tư lệnh miền, thường trực Quân ủy miền Nam. Sau giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, đồng chí được giao giữ nhiều trọng trách quan trọng trong lực lượng vũ trang. Từ tháng 5/1976 đến 10/1987, đồng chí giữ chức Chính ủy Quân khu 9, kiêm Phó Trưởng ban Kiểm tra quân ủy trung ương, Ủy viên thường trực Ủy ban Kiểm tra quân ủy trung ương. Đồng chí được phong quân hàm Thiếu tướng năm 1974 và quân hàm Trung tướng năm 1984.

Đại tướng Văn Tiến Dũng – Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh:

Đồng chí Văn Tiến Dũng (Lê Hoài), sinh năm 1917 tại xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Năm 1936, tham gia phong trào đấu tranh công khai của công nhân Hà Nội. Tháng 11/1937, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, cuối năm 1938 đồng chí được cử làm Bí thư Chi bộ ngành thợ dệt Hà Nội. Tháng 12/1946 là Cục trưởng Cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, Phó Bí thư Quân ủy Tung ương. Từ năm 1954 đến 1978 là Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Từ năm 1980 đến 1986 là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

Với những đóng góp to lớn và thành tích xuất sắc, Đại tướng Văn Tiến Dũng đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng các danh hiệu cao quý như: Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất và Nhì, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất và nhiều phần thưởng cao quý khác.

Lượt xem: 1892

Lịch Sử, Nguồn Gốc Và Ý Nghĩa Ngày Giải Phóng Miền Nam 30/4

Hình ảnh chiếc xe tăng của quân ta tiến vào Dinh Độc lập ngày 30/4/1975

Vào lúc 17 giờ ngày 26/4, quân ta đã nổ súng mở đầu chiến dịch, vượt qua tuyến phòng thủ của địch để tiến vào trung tâm Sài Gòn. 10 giờ 45 phút ngày 30/4, xe tăng và bộ binh của ta tiến vào Dinh Độc Lập, bắt toàn bộ Nội các của Sài Gòn, Dương Văn Minh vừa lên chức tổng thống ngày 28/4 đã phải tuyên bố đầu hàng quân ta không điều kiện. Đến 11 giờ 30 phút cùng ngày, lá cờ cách mạng tung bay trên Dinh Độc Lập, báo hiệu sự toàn thắng của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Sài Gòn được đổi tên thành Thành phố Hồ Chí Minh, theo tên của cố Chủ tịch Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh.

Ý nghĩa lịch sử của ngày 30/4/1975

Ngày 30/4/1975 không chỉ là biểu tượng đáng tự hào của dân tộc Việt Nam; mà còn là tấm gương sáng về công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Vào thời gian đó, nước ta chỉ là một đất nước nghèo, trình độ dân trí thấp, kinh tế kém phát triển và bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Vậy mà, nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, sự kiên cường, đoàn kết của cả dân tộc; nhân dân Việt Nam đã viết nên câu chuyện thần kỳ đánh đuổi chủ nghĩa đế quốc bằng chính sức mình.

Chiến thắng của nhân dân Việt Nam trước đế quốc Mỹ hùng mạnh đã góp phần làm suy yếu thế lực của chủ nghĩa đế quốc xâm lược; đảo lộn hoàn toàn kế hoạch xâm lược Đông Nam Á của Mỹ. Qua đó, trở thành độc lực, nguồn cổ vũ to lớn, thúc đẩy các dân tộc bị đô hộ trên thế giới vùng lên chiến đấu.

Ngày kỷ niệm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là ngày cả dân tộc cùng ôn lại truyền thống lịch sử vẻ vang hào hùng, giáo dục thế hệ trẻ về tình yêu quê hương đất nước và bài học về sức mạnh đoàn kết, một lòng.

Các hoạt động kỷ niệm ngày Giải phóng miền Nam năm nay

Nghỉ lễ Giải phóng miền nam 30/4 và Quốc tế lao động 1/5/2021 kéo dài 4 ngày.

Niềm tự hào dân tộc trong năm tháng lịch sử đó được Golden Gift Việt Nam tái hiện thông qua Bức Tranh Dinh Độc Lập TP HCM mạ vàng

Golden Gift Việt Nam xin kính chúc quý khách hàng, quý đối tác một kỳ nghỉ lễ vui vẻ, an toàn và hạnh phúc! Trong thời gian nghỉ lễ, khách hàng có thể liên hệ đến số hotline của Golden Gift Việt Nam: 090 368 1551 để được phục vụ và hỗ trợ trên toàn quốc.

Lịch sử ngày Giải phóng miền Nam 30-4-1975

Nguồn gốc ngày Giải phóng miền Nam 30-4

Ý nghĩa lịch sử ngày 30-4

Ngày lễ 30-4 và 1-5 tại Việt Nam

Các hoạt động trong dịp lễ 30-4/1-5

Thu Trang/ Golden Gift Việt Nam

Bạn đang đọc nội dung bài viết Quân Giải Phóng Miền Nam Việt Nam Và Những Bài Học Lịch Sử trên website Asianhubjobs.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!