Đề Xuất 2/2023 # Sáng Kiến Kinh Nghiệm Ôn Luyện Giải Toán Về Đoạn Thẳng Trong Hình Học Lớp 6 # Top 7 Like | Asianhubjobs.com

Đề Xuất 2/2023 # Sáng Kiến Kinh Nghiệm Ôn Luyện Giải Toán Về Đoạn Thẳng Trong Hình Học Lớp 6 # Top 7 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Sáng Kiến Kinh Nghiệm Ôn Luyện Giải Toán Về Đoạn Thẳng Trong Hình Học Lớp 6 mới nhất trên website Asianhubjobs.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Khi học về đoạn thẳng, sau khi học sinh nắm được khái niệm đoạn thẳng, cách vẽ đoạn thẳng, giáo viên cần khắc sâu cho học sinh về đoạn thẳng cắt đoạn thẳng, cắt tia, cắt đường thẳng, để cuối cùng học sinh vẽ và nhận dạng được.

Khi dạy về độ dài đoạn thẳng, giáo viên cần lưu ý phân biệt đoạn thẳng với độ dài đoạn thẳng: Đoạn thẳng là một hình, còn độ dài đoạn thẳng là một số, tuy nhiên đoạn thẳng AB và độ dài đoạn thẳng AB đều được ký hiệu là AB. Hai cách nói “độ dài đoạn thẳng AB” và “khoảng cách giữa hai điểm A và B” cũng có sự phân biệt tế nhị: Đoạn thẳng AB có độ dài lớn hơn 0, nhưng khoảng cách giữa hai điểm A và B bằng 0 khi điểm A trùng với điểm B.

động trực quan (Quan sát, phát hiện, gấp hình, đo, vẽ, kiểm tra, thực hành) với hoạt động suy luận, kỹ năng sử dụng các dụng cụ đo, vẽ, vẽ hình đúng kích thước (Độ dài đoạn thẳng) ước lượng, kỹ năng chuyển đổi ngôn ngữ hình học (Ngôn ngữ nói, viết,ngôn ngữ hình vẽ, sơ đồ, ngôn ngữ ký hiệu,..). - Tháng 10: Triển khai sáng kiến trong các tiết học, áp dụng với từng đối tượng học sinh, đánh giá kết quả bước đầu. - Tháng 11, 12: Triển khai sáng kiến, đánh giá kết quả thông qua từng đối tượng học sinh về mặt nhận thức và kỹ năng. Thông qua việc kiểm tra đánh giá kết quả nhận thức và kỹ năng làm bài của học sinh, tôi đã nhận ra một số vấn đề khi rèn kỹ năng giải bài tập chương I Hình học 6. 3.1. Những sai lầm học sinh thường mắc phải trong việc sử dụng ngôn ngữ nói, viết, ký hiệu. Hình học lớp 6 là phần chuyển tiếp từ giai đoạn học hình học bằng quan sát, thực nghiệm ở bậc tiểu học sang giai đoạn tiếp thu kiến thức bằng suy diễn ở cấp Trung học cơ sở, ở Tiểu học mỗi hình là một chỉnh thể, bây giờ mỗi hình là một số "bộ phận" có liên hệ với nhau và ngay giữa các hình cũng có mối quan hệ nào đó. Trước hết "Hình" được hiểu theo nghĩa khái quát và thống nhất "Hình là một tập hợp điểm" từ đó suy ra "điểm là một hình" và "Toàn bộ mặt phẳng cũng là một hình", đường thẳng là một hình, nó là một "bộ phận" của mặt phẳng, đường thẳng là một tập hợp vô hạn điểm. Một cách tổng quát, mỗi hình phẳng là một tập hợp con của mặt phẳng và mặt phẳng là một tập hợp điểm cho trước, nên khi nói đến các khái niệm điểm, đường thẳng, đoạn thẳng, tia . Học sinh thường không cho nó là một hình do đó khi định nghĩa nêu khái niệm giáo viên cũng cần phải nhấn mạnh cho các em, trước hết nó là "một hình được tạo bởi ". Hơn thế cách hiểu "Mỗi hình học là một tập hợp điểm" là cách hiểu hiện đại về hình học. Từ đó quan hệ "thuộc", ký hiệu Î giữa phần tử và tập hợp, đã biết trong lý thuyết tập hợp trở thành quan hệ được thừa nhận trong hình học. Mệnh đề thông thường "điểm M là một phần tử của tập hợp d", ký hiệu M Î d và đọc là "Điểm M thuộc đường thẳng d", từ các điểm ta xây dựng các hình, từ các hình này ta xây dựng nên các hình khác, đó là lôgic phát triển của hình học phẳng. Chẳng hạn: "đoạn thẳng MN là hình gồm điểm M, điểm N và các điểm nằm giữa M và N". Tuy nhiên cũng có thể không ít học sinh coi thường cách ký hiệu, có lẽ đây là chỗ học sinh hay mắc phải nhất, trong sách giáo khoa khi nêu khái niệm đoạn thẳng AB thì các em nhầm viết là đoạn thẳng ab nhưng nếu giáo viên yêu cầu học sinh vẽ đoạn thẳng AB thì có thể học sinh viết nhầm là đoạn ab. Khi đó giáo viên cần chú ý nhấn mạnh và chỉ rõ cho học sinh khi viết, nói cần phải hiểu: Điểm thì ký hiệu bằng chữ cái in hoa, đoạn thẳng thì ký hiệu bằng hai chữ cái in hoa viết liền nhau. Nhưng cũng phải phân biệt được giữa đường thẳng với đoạn thẳng. Chẳng hạn đường thẳng ta thường ký hiệu bằng chữ cái in thường nhưng cũng có khi đường thẳng đi qua hai điểm A, B ta nói là đường thẳng AB hoặc nếu đường thẳng chứa ba điểm A, B, C thì được gọi tên như thế nào? Từ các cách gọi tên khác nhau của đường thẳng trên (có sáu cách: Đường thẳng AB, đường thẳng AC, ). Khi cho học sinh học về đường thẳng giáo viên phải chú ý cho học sinh đọc tên đường thẳng, nói cách viết tên đường thẳng, diễn đạt quan hệ giữa các điểm A, B với đường thẳng d bằng cách khác nhau; viết ký hiệu AÎ d, B Ï d. Đối với bài "Ba điểm thẳng hàng" học sinh đã có biểu tượng "Nhiều điểm thuộc đường thẳng" thì dễ cho học sinh thấy nhiều điểm cùng thuộc một đường thẳng thì thẳng hàng, nhiều điểm không thuộc bất kỳ đường thẳng nào thì không thẳng hàng. Nhưng khi xét ba điểm thẳng hàng giáo viên có thể mô tả vị trí tương đối của chúng nhờ các thuật ngữ "nằm cùng phía", "nằm khác phía", "nằm giữa" để học sinh dễ tiếp nhận vì chúng gần gũi với ngôn ngữ thông thường trong cuộc sống hằng ngày. Tóm lại: Để giúp học sinh học tốt môn hình học thì trước hết phải hướng dẫn học sinh để học sinh có kỹ năng nói, viết, ký hiệu một cách chính xác, không được nhầm lẫn giữa các khái niệm này với các khái niệm khác, giữa hình này với hình khác, đối với mỗi bài của chương giáo viên cần chú trọng cách viết ký hiệu, cách sử dụng ngôn ngữ ký hiệu. 3.2. Kỹ năng vẽ hình, đọc tên phân biệt các hình và một số chú ý khi dạy: Nói đến hình học là phải nói đến hình vẽ vì vậy khâu vẽ hình là vô cùng quan trọng, nó là đặc trưng của bộ môn hình học và có vị trí vô cùng quan trọng trong việc dạy và học môn hình học. Muốn học tốt hình học trước hết phải biết vẽ hình. Câu nói này không chỉ nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sử dụng công cụ vẽ hình và thao tác vẽ hình, mà còn yêu cầu phân biệt hình học với hình vẽ của nó. Các khái niệm hình học như điểm, đường thẳng là sản phẩm của sự trừu tượng hoá các đối tượng hiện thực, các hình học chỉ có trong ý thức của con người. Chấm chì để lại trên giấy là hình ảnh của điểm, vết chì vạch theo cạnh thước là hình ảnh của đường thẳng. Chấm chì, vạch đường thẳng là hình vẽ cho ta hình ảnh trực quan của điểm, đường thẳng có thể nói mỗi khái niệm, mỗi định nghĩa, mỗi nhận xét muốn đúng phải vẽ hình chính xác, nếu vẽ không chính xác sẽ dẫn đến việc hiểu sai và rất khó cho việc học tập sau này. Ví dụ 1: Vẽ ba điểm A, B, C thẳng hàng. (hình a) Muốn vẽ ba điểm A, B, C thẳng hàng thì phải thoả mãn điều kiện ba điểm A, B, C cùng thuộc đường thẳng (hình a) còn nếu ba điểm A, B, C không cùng thuộc đường thẳng thì ba điểm A, B, C không thẳng hàng (hình b). (hình b) Ví dụ 2: Vẽ hai tia đối nhau Ox, Oy Hai tia đối nhau thoả mãn đồng thời hai điều kiện: - Chung gốc. - Cùng tạo thành một đường thẳng. Nếu vi phạm một trong hai điều kiện trên thì không phải là hai tia đối nhau: (hình a) (hình b) (hình c) Ở hình (a) vẽ hai tia Ox, Oy là hai tia đối nhau là chính xác. Ở hình (b) vẽ hai tia Ox, Oy không tạo thành một đường thẳng. Ở hình (c) vẽ hai tia Ax, By là hai tia không chung gốc. Như vậy ở hình (b), (c) không có hai tia đối nhau được. Ví dụ 3: Vẽ hai tia trùng nhau OA và Ox Ở hình (a) vẽ hai tia Ox, Ax tuy có nhiều điểm chung chúng không trùng nhau, chúng là hai tia phân biệt. Có thể hiểu các tia trùng nhau theo phương diện khác, đó là các khả năng đặt tên khác nhau cho cùng một tia (ở hình b) tia Ox còn được gọi là tia OA, tia OB, OC. Về việc giải bài tập, học sinh cần vẽ hình, quan sát, nhận xét quan trọng nhất là khâu vẽ hình, thầy phải thường xuyên nhắc nhở những kỹ năng vẽ hình cần thiết, yêu cầu học sinh phải vẽ chính xác, có thể dùng bút màu để phân biệt hình cần phân biệt. Khi học sinh đã được học đến hai đoạn thẳng bằng nhau, phải lưu ý cho học sinh đánh ký hiệu trên hình vẽ giống nhau. Khi học sinh đã bước đầu có kỹ năng vẽ hình rồi, thì việc làm bài tập của các em sẽ đỡ vất vả, sau này các em còn có thể chứng minh một bài toán hình học mà nhìn vào hình vẽ ta có thể tận dụng được triệt để các yếu tố của đầu bài đã cho. Ví dụ : Để vẽ ba điểm thẳng hàng, trước hết ta dùng thước vẽ một đường thẳng rồi lấy ba điểm thuộc đường thẳng ấy, để vẽ ba điểm không thẳng hàng ta chỉ cần vẽ một đường thẳng rồi lấy hai điểm thuộc đường thẳng và một điểm không thuộc đường thẳng ấy. Khi phát biểu điểm C nằm giữa hai điểm A, B. Giáo viên dùng phấn màu tô đậm điểm C để học sinh nhận biết rõ hơn. Khi dạy hình học, giáo viên cần lưu ý cho học sinh từng thao tác vẽ hình sao cho chính xác, cẩn thận, tránh những thao tác vẽ ẩu, vẽ sai hình. Một điều quan trọng hơn hết đó là trong mỗi tiết hình học, mỗi bài cụ thể, giáo viên phải cân nhắc kỹ càng, tìm hiểu sâu và rút ra những điểm chú ý nhất, từ đó khơi dậy cho các em trí tưởng tượng, cách sử dụng ngôn ngữ diễn đạt, cách vẽ hình, cách suy luận logic để sau mỗi bài học các em hiểu sâu và nắm chắc kiến thức cơ bản hơn: Khi dạy ba điểm thẳng hàng, xét đến điểm nằm giữa hai điểm, ta có thể mô tả vị trí tương đối của chúng nhờ các thuật ngữ "nằm cùng phía", "nằm khác phía", "nằm giữa" để học sinh tiếp nhận một cách dễ dàng và khi nhận xét ba điểm thẳng hàng, cần chú ý nhận xét tính chất ba điểm thẳng hàng: Có một và chỉ có một điểm nằm giữa hai điểm còn lại, không có khái niệm " điểm nằm giữa" khi "ba điểm không thẳng hàng". Để khắc sâu điểm "điểm nằm giữa" giáo viên cần có bảng phụ thể hiện các hình vẽ khác nhau sau, không thể nói điểm nào nằm giữa hai điểm còn lại. Khi dạy bài đường thẳng đi qua hai điểm giáo viên cần chú ý cho học sinh cách vẽ đường thẳng, cách đặt tên cho đường thẳng. Khi học về tia, học sinh đã được học đường thẳng điểm thuộc đường thẳng, một cách tự nhiên là từ nhận xét: "Điểm O trên đường thẳng chia đường thẳng thành hai phần đường thẳng riêng biệt" từ đó giới thiệu khái niệm tia bằng mô tả trực quan "Một phần đường thẳng bị chia ra bởi điểm O và tất cả các điểm cùng phía với điểm O được gọi là một tia gốc O". Nhấn mạnh nhóm từ "Tia gốc O" để khêu gợi trí tưởng tượng là tia được giới hạn về phía gốc và không giới hạn về phía kia. Việc diễn tả "phần đường thẳng riêng biệt" bằng ngôn ngữ toán học làm rõ dần về sau qua bài tập. Sau khi giới thiệu cho học sinh khái niệm "hai tia đối nhau", cần cho học sinh củng cố, đưa ra tình huống: Có hai điểm A, B trên đường thẳng xy, xét xem có mấy tia được thành lập, hãy đọc tên các tia đối nhau. Đây là hoạt động nhận dạng khái niệm, nhằm khắc sâu kiến thức về tia và hai tia đối nhau, hai tia đối nhau phải thoả mãn hai điều kiện: + Chung gốc. + Cùng tạo thành một đường thẳng. Nhấn mạnh: Nếu vi phạm một trong hai điều kiện trên thì không phải là hai tia đối nhau. Khi học về đoạn thẳng, sau khi học sinh nắm được khái niệm đoạn thẳng, cách vẽ đoạn thẳng, giáo viên cần khắc sâu cho học sinh về đoạn thẳng cắt đoạn thẳng, cắt tia, cắt đường thẳng, để cuối cùng học sinh vẽ và nhận dạng được. Khi dạy về độ dài đoạn thẳng, giáo viên cần lưu ý phân biệt đoạn thẳng với độ dài đoạn thẳng: Đoạn thẳng là một hình, còn độ dài đoạn thẳng là một số, tuy nhiên đoạn thẳng AB và độ dài đoạn thẳng AB đều được ký hiệu là AB. Hai cách nói "độ dài đoạn thẳng AB" và "khoảng cách giữa hai điểm A và B" cũng có sự phân biệt tế nhị: Đoạn thẳng AB có độ dài lớn hơn 0, nhưng khoảng cách giữa hai điểm A và B bằng 0 khi điểm A trùng với điểm B. Sau khi học sinh học xong bài 8: Khi nào AM + MB = AB ? Thì giáo viên cần mở rộng cho việc cộng nhiều đoạn thẳng ở hình bên ta có: AM + MN + NP + PB = AB. Thật vậy vì N là một điểm của đoạn thẳng AB nên: AN + NB = AB. Vì M nằm giữa A, N nên: AM + MN = AN. Vì P nằm giữa N, B nên: NP + PB = NB. Từ đó suy ra: AM + MN + NP + PB = AB. Khi dạy về "Trung điểm của đoạn thẳng" bằng quan sát trực quan về trung điểm của đoạn thẳng, ta có thể diễn tả trung điểm của đoạn thẳng AB bằng các cách khác nhau: Cách 1: M là trung điểm của đoạn thẳng AB. Cách 2: Nếu MA+ MB = AB và MA = MB thì M là trung điểm của đoạn thẳng AB. Cách 3: Nếu thì M là trung điểm của đoạn thẳng AB. 3.3. Kỹ năng thực hành: Đối với hình học lớp 6, về kỹ năng thực hành của học sinh cũng rất là quan trọng, qua lý thuyết, giáo viên có thể lồng ghép yêu cầu học sinh thực hành để một lần nữa khẳng định kiến thức vừa lĩnh hội một cách chắc chắn. Chẳng hạn sau khi học về đường thẳng, giáo viên có thể yêu cầu học sinh thực hành ngay tại lớp thông qua bài tập: (Sách giáo khoa - trang 105). Yêu cầu mỗi học sinh gấp giấy để có hình ảnh đường thẳng hoặc là khi dạy "Trung điểm của đoạn thẳng", giáo viên yêu cầu học sinh dùng sợi dây, hai mút của đoạn thẳng là hai đầu sợi dây. Yêu cầu học sinh xác định trung điểm của đoạn thẳng sợi dây đó như thế nào? Hoặc cách vẽ trung điểm M của đoạn thẳng AB được nêu dưới dạng bài tập, yêu cầu học sinh giải bằng hai cách: Cách 1: Vẽ điểm M trên tia AB sao cho Cách 2: Gấp giấy. Như vậy học sinh sẽ thông qua thực hành đề phát hiện được tính chất của trung điểm:M là trung điểm của AB: Tóm lại: Qua những kiến thức của hình học lớp 6 về điểm, đoạn thẳng, tia, đường thẳng, điểm nằm giữa hai điểm,độ dài đoạn thẳng, khi nào thì AM + MB = AB, vẽ đoạn thẳng cho biết độ dài, trung điểm của đoạn thẳng. Sau mỗi bài học thì học sinh đều được rèn kỹ năng thực hành, có thể nói rèn kỹ năng thực hành là khâu quan trọng, để học sinh vận dụng kiến thức áp dụng thực tế, biết gióng các điểm thẳng hàng để có cọc rào, trồng cây thẳng hàng biết xác định trung điểm đoạn thẳng, biết so sánh hai đoạn thẳng bằng đo độ dài của chúng Chính vì vậy mà sau mỗi bài học, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh thực hành đo tính 3.4. Kỹ năng suy luận chặt chẽ: Đối với hình học 6, tính chất nổi bật là trực quan, đây là giai đoạn xây dựng cơ sở ban đầu của hình học phẳng chuẩn bị cho việc chứng minh suy diễn trong các chương trình sau: Học sinh học tập hình học thông qua các hoạt động hình học: Kết hợp hoạt động trực quan (quan sát, phát hiện, gấp hình, đo, vẽ, kiểm tra, thực hành) là chủ yếu, rồi tới hoạt động suy luận (quy nạp, suy diễn). Khi dạy đến bài khi nào thì AM + MB = AB thì học sinh bước đầu tập suy luận dạng: "nếu có a + b = c và biết hai trong ba số a, b, c thì suy ra số thứ ba". Trước hết cho điểm M nằm giữa hai điểm A và B, đo AM, MB và AB rồi so sánh AM + MB với AB rồi nhận xét kết quả, ta có mệnh đề: Nếu điểm M nằm giữa hai điểm A và B thì AM + MB = AB. Sau đó lại thử nghiệm để tìm mệnh đề phản của mệnh đề trên: Lấy điểm M không nằm giữa hai điểm A, B nhưng A, B, M vẫn thẳng hàng. Đo AM, MB, AB rồi so sánh AM + MB với AB rồi đi đến nhận xét: Nếu điểm M không nằm giữa hai điểm A và B thì: AM + MB # AB kết hợp hai nhận xét ta có mệnh đề: Điểm M nằm giữa hai điểm A và B khi và chỉ khi AM + MB = AB. Khi học xong bài này, giáo viên cho học sinh làm bài tập thì cần lưu ý cách lập luận chặt chẽ: Ví dụ 1: Bài tập 47 - SGK-T121: Gọi M là một điểm của đoạn thẳng HK. Biết HM = 4 cm, HK = 8cm. So sánh hai đoạn thẳng HM và MK. Học sinh có thể lập luận như sau: Vì M là thuộc đoạn thẳng HM nên: HM + MK = HK thay MH = 4cm, HK = 8cm ta có: 4 + MK = 8. Hai đoạn thẳng MK và HM có độ dài bằng nhau nên HM = MK. Ví dụ 2: Bài tập 49 - SGK-T121: Gọi M và N là hai điểm nằm giữa 2 mút của đoạn thẳng AB. Biết rằng AN = BM. So sánh AM và BN. Xét cả hai trường hợp. (a) (b) Hình a: Vì N nằm giữa A và M nên: AM = AN + NM. Vì M nằm giữa N và B nên: NM + MB = NB. Theo giả thiết AN = BM, lại vì NM = MN nên suy ra AM = BN. Hình b: Vì M nằm giữa A và N nên: AM + MN = AN. Vì N nằm giữa B và M nên: BN + NM = BM. Theo giả thiết thì AN = BM nên suy ra: AM + MN = BN + MN. Khi học xong bài "Vẽ đoạn thẳng cho biết độ dài", qua bài tập, học sinh bước đầu biết suy luận chặt chẽ. Ví dụ 3: Bài 54 (SGK-T124): Trên tia Ox vẽ ba đoạn thẳng OA, OB, OC sao cho OA = 2cm, OB = 5cm, OC = 8cm. So sánh BC và BA. Vì A, B thuộc tia Ox, OA < OB nên điểm A nằm giữa O và B. Ta có: OA + AB = OB. Vì B, C thuộc tia Ox, OB < OC nên điểm B nằm giữa O và C. Ta có OB + BC = OC Hai đoạn thẳng BA và BC có cùng độ dài là 3 cm nên chúng bằng nhau. Ví dụ 4: Bài 59 (SGK-T124). Trên tia Ox cho ba điểm M, N, P biết OM = 2cm, ON = 3cm, OP = 3,5cm. Hỏi trong ba điểm M, N, P thì điểm nào nằm giữa hai điểm còn lại? Vì sao?. Có thể hướng dẫn học sinh lập luận một cách chặt chẽ như sau: Trên tia Ox có OM < ON (Vì 2 cm < 3 cm) nên M nằm giữa O và N, suy ra: MN = ON - OM = 3 - 2 = 1 (cm). Vì OM < OP (Vì 2 cm < 3,5cm) nên M nằm giữa O và P suy ra: MP = OP - OM = 3,5 - 2 = 1,5 (cm). Trên tia Mx có: MN < MP (vì 1cm < 1,5 cm) nên N nằm giữa hai điểm M và P. Khi học về trung điểm của đoạn thẳng, học sinh nắm được: M là trung điểm của đoạn thẳng Nói tóm lại khi dạy những phần này, giáo viên cần phải hướng dẫn cho học sinh cách trình bày một bài tập hình học, biết cách lập luận chặt chẽ, lô gíc dựa trên nền tảng kiến thức các em lĩnh hội được. 3.5. Giải một số bài toán nâng cao: Do đặc thù của nhà trường, học sinh đa phần là con em nông dân điều kiện kinh tế khó khăn, việc nhận thức của các em còn chưa được mở rộng, một số em cần được nâng cao hơn về kiến thức để làm hạt nhân cho phong trào mũi nhọn sau này điều đó làm cho bản thân tôi có phần nào trăn trở, chính vì vậy khi giảng dạy tôi cũng cố gắng lồng ghép những bài toán khó, những bài toán nâng cao vào giờ dạy để các em được mở rộng kiến thức nhiều hơn. Ví dụ 1: Vẽ 5 điểm A, B, C, D, E thoả mãn điều kiện sau: - Điểm C ở giữa A và B. - C, B, E thẳng hàng. - A, B cùng phía đối với E. - Điểm D thuộc đường thẳng BC. a. Có bao nhiêu đường thẳng (phân biệt) kẻ qua các điểm đã cho. b. Chỉ rõ rằng A, B, E thẳng hàng. c. Có bao nhiêu cách đặt tên cho đường thẳng đi qua hai điểm A, E (dùng các chữ cái A, B, C, E). d. Chỉ rõ các điểm cùng phía đối với B, khác phía đối với B. Giải: a. Có 5 đường thẳng AB, AD, BD, CD, ED. b. Điểm C ở giữa A và B suy ra B, C, A thẳng hàng tức là A Î BC. Vậy A, B, C, E cùng thuộc BC tức là A, B, E thẳng hàng. c. Dùng các chữ A, B, C, E thì có 12 cách đặt tên cho đường thẳng đi qua A, E tức là các đường thẳng AC, CA, AB, BA, AE, EA, CB, BC, CE, EC, BE, EB. d. A, C là hai điểm cùng phía đối với B. Các điểm A và E khác phía đối với B. Các điểm C và E cùng khác phía đối với B. Ví dụ 2: Trên đường thẳng xy cho ba điểm A, B, C theo thứ tự đó. a. Liệt kê tất cả các tia được xác định trên đường thẳng đó. b. Liệt kê tất cả các cặp tia đối nhau. c. Liệt kê tất cả các tia có gốc A trùng nhau. Giải: a. Ax, Ay, Bx, By, Cx, Cy. b. Ax và Ay, Bx và By, Cx và Cy là các cặp tia đối nhau. c. AB, AC, Ay là các tia trùng nhau. Ví dụ 3: Cho bố

Sáng Kiến Kinh Nghiệm

Mụn toỏn ở tiểu học bước đầu hỡnh thành và phỏt triển năng lực trừu tượng hoỏ, khỏi quỏt hoỏ, kớch thớch trớ tưởng tượng, gõy hứng thỳ học tập toỏn, phỏt triển hợp lý khả năng suy luận và biết diễn đạt đỳng bằng lời, bằng viết, cỏc, suy luận đơn giản, gúp phần rốn luyện phương phỏp học tập và làm việc khoa học, linh hoạt sỏng tạo. Tuy nhiên trong thực tế hiện nay, việc rèn luyện kỹ năng giải toán có lời văn là một vấn đề bức xúc, khó giải quyết ở các trường tiểu học vùng cao và đặc biệt là ở các vùng dân tộc thiểu số trong đó có trường tiểu học Pha Long huyện Mường Khương. Các em là con người dân tộc, thông hiểu ngôn ngữ Tiếng Việt còn hạn chế cho nên việc giải toán có lời văn gặp rất nhiều khó khăn . Trong dạy – học toỏn ở tiểu học, việc giải toỏn cú lời văn chiếm một vị trớ quan trọng. Cú thể coi việc dạy – học và giải toỏn là ” hũn đỏ thử vàng” của dạy – học toỏn. Trong giải toỏn, học sinh phải tư duy một cỏch tớch cực và linh hoạt, huy động tớch cực cỏc kiến thức và khả năng đó cú vào tỡnh huống khỏc nhau, trong nhiều trường hợp phải biết phỏt hiện những dữ kiện hay điều kiện chưa được nờu ra một cỏch tường minh và trong chừng mực nào đú, phải biết suy nghĩ năng động, sỏng tạo. Vỡ vậy cú thể coi giải toỏn cú lời văn là một trong những biểu hiện năng động nhất của hoạt động trớ tuệ của học sinh. Ở học sinh lớp 5, kiến thức toỏn đối với cỏc em khụng cũn mới lạ, khả năng nhận thức của cỏc em đó được hỡnh thành và phỏt triển ở cỏc lớp trước, tư duy đó bắt đầu cú chiều hướng bền vưỡng và đang ở giai đoạn phỏt triển. Vốn sống, vốn hiểu biết thực tế đó bước đầu cú những hiểu biết nhất định. Tuy nhiờn trỡnh độ nhận thức của học sinh khụng đồng đều, yờu cầu đặt ra khi giải cỏc bài toỏn cú lời văn cao hơn những lớp trước, cỏc em phải đọc nhiều, viết nhiều, bài làm phải trả lời chớnh xỏc với phộp tớnh, với cỏc yờu cầu của bài toỏn đưa ra, nờn thường vướng mắc về vấn đề trỡnh bày bài giải: sai sút do viết khụng đỳng chớnh tả hoặc viết thiếu, viết từ thừa. Một sai sút đỏng kể khỏc là học sinh thường khụng chỳ ý phõn tớch theo cỏc điều kiện của bài toỏn nờn đó lựa chọn sai phộp tớnh. Trong quá trình giảng dạy các em học sinh lớp 5 A trường tiểu học Pha Long, tôi nhận thấy các em học sinhh trong lớp hầu như rất lúng túng trong việc giải toán có lời văn. Là một giáo viên đứng lớp trước những thực tế đó nên tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài : “ Biện pháp rèn kỹ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 5 ”. Phần II : nộI DUNG I. Thực trạng 1. Thuận lợi + Điều kiện cơ sở vật chất đảm bảo cho việc dạy và học + Đồ dùng dạy học tương đối đầy đủ cho giáo viên , học sinh . + Học sinh được dự án trường học trang bị thêm một số đồ dùng cá nhân như áo khoác ,dép + được sự quan tâm và chỉ đạo sát sao của ban giám hiệu nhà truờng tới giáo viên chủ n hiệm và lớp học 2 . khó khăn a. về phía giáo viên – Còn lúng túng trong quá trình hướng dẫn học sinh giải bài toán có lời văn – Một số bài toán giáo viên hướng dẫn cách giải còn trừu tượng với học sinh tiểu học b. Về phía học sinh – 47,4% học sinh trong lớp chưa có kỹ năng giải toán có lời văn – Bài giải toán của học sinh chưa đúng ,đủ theo yêu cầu của bài toán 3. nguyên nhân Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến việc học sinh chưa có kỹ năng giải toán có lời văn nhưng nguyên nhân chủ yếu là : – Phương pháp hướng dẫn học sinh giẩi toán của giáo viên chưa phù hợp với đối tượng học sinh của lớp – Khả năng đọc hiểu của các em còn hạn chế nên các em không hiểu sâu về ngôn ngữ toán học .Vì vậy khi đọc đề toán , học sinh không hiểu rõ yêu cầu của bài toán ,khó nhận dạng và định hình về các dạng bài toán. 4. kết quả khảo sát đầu năm về kỹ năng giải toán có lời văn Tổng số học sinh : 19 Trong đó giỏi : 0 Trung bình :7 Yêú : 9 Khá :3 II. Một số biện pháp rèn kỹ năng giảI toán có lời văn cho học sinh lớp 5 Toỏn cú lời văn thực chất là những bài toỏn thực tế. Nội dung bài toỏn được thụng qua những cõu văn núi về những quan hệ, tương quan và phụ thuộc, cú liờn quan đến cuộc sống thường xảy ra hành ngày. Cỏi khú của bài toỏn cú lời văn là phải lược bỏ những yếu tố về lời văn đó che đậy bản chất toỏn học của bài toỏn, hay núi cỏch khỏc là chỉ ra cỏc mối quan hệ giữa cỏc yếu tố toỏn học chứa đựng trong bài toỏn và nờu ra phộp tớnh thớch hợp để từ đú tỡm được đỏp số bài toỏn. Giáo viên cần đổi mới phương pháp dạy học về giải toán có lời văn, hướng dẫn học sinh cách giải a. Đề bài của bài toỏn cú lời văn bao giờ cũng cú hai phần: – Phần đó cho hay cũn gọi giả thiết của bài toỏn. – Phần phải tỡm hay cũn gọi kết luận của bài toỏn. Ngoài ra, trong đề toỏn cú nờu mối quan hệ giữa phần đó cho và phần phải tỡm hay thực chất là mối quan hệ tương quan phụ thuộc vào giả thiết và kết luận của bài toỏn. b. Quy trỡnh giải toỏn cú lời văn thường thụng qua cỏc bước sau: – Nghiờn cứu kỹ đầu bài: Trước hết cần đọc cẩn thận đề toỏn, suy nghĩ về ý nghĩa bài toỏn, nội dung bài toỏn, đặc biệt chỳ ý đến cõu hỏi bài toỏn. Chớ vội tớnh toỏn khi chưa đọc kỹ đề toỏn. – Thiết lập mối quan hệ giữa cỏc số đó cho và diễn đạt nội dung bài toỏn bằng ngụn ngữ hoặc túm tắt điều kiện bài toỏn, hoặc minh hoạ bằng sơ đồ hỡnh vẽ. – Lập kế hoạch giải toỏn: học sinh phải suy nghĩ xem để trả lời cõu hỏi của bài toỏn phải thực hiện phộp tớnh gỡ? Suy nghĩ xem từ số đó cho và điều kiện của bài toỏn cú thể biết gỡ, cú thể làm tớnh gỡ, phộp tớnh đú cú thể giỳp trả lời cõu hỏi của bài toỏn khụng? Trờn cỏc cơ sở đú, suy nghĩ để thiết lập trỡnh tự giải toỏn. – Thực hiện phộp tớnh theo trỡnh tự đó thiết lập để tỡm đỏp số. Mỗi khi thực hiện phộp tớnh cần kiểm tra đó tớnh đỳng chưa? Phộp tớnh được thực hiện cú dựa trờn cơ sở đỳng đắn khụng?… Giải xong bài toỏn, khi cần thiết, cần thử xem đỏp số tỡm được cú trả lời đỳng cõu hỏi của bài toỏn, cú phự hợp với cỏc điều kiện của bài toỏn khụng? Trong một số trường hợp, giáo viờn nờn khuyến khớch học sinh tỡm xem cú cỏch giải khỏc gọn hay khụng? Vớ dụ 1: Thựng to cú 21 lớt nước mắm, thựng bộ cú 15 lớt nước mắm. Nước mắm được chứa vào cỏc chai như nhau, mỗi chai cú 0,75 lớt. Hỏi cú tất cả bao nhiờu chai nước mắm? Giỏo viờn hướng dẫn học sinh thực hiện bài toỏn trờn bằng cỏch dựng phương phỏp hỏi đỏp, kết hợp với minh hoạ bằng túm tắt đề toỏn. + Phõn tớch nội dung bài toỏn: Giỏo viờn dựng hai cõu hỏi: Bài toỏn cho biết gỡ? Bài toỏn hỏi gỡ? Để học sinh thấy rừ nội dung: – Thựng to cú 21 lớt nước mắm. – Thựng nhỏ cú 15 lớt nước mắm. – Mỗi chai chứa 0,75 lớt nước mắm. – Hỏi cú tất cả bao nhiờu chai nước mắm ? + Túm tắt bài toỏn: Theo những cõu trả lời của học sinh, giao viờn hướng dẫn học sinh túm tắt như sau: Thựng to: 21 lớt. Thựng nhỏ : 15 lớt. Cú … chai nước mắm ? Túm tắt trờn chớnh là chỗ dựa cho học sinh tỡm ra trỡnh tự giải và phộp tớnh tương ứng. + Thiết lập trỡnh tự giải: Giao viờn đặt cõu hỏi: ” Muốn biết cú bao nhiờu chai nước mắm, ta làm thế nào?” Học sinh trả lời: ” Trước hết ta phải tỡm tổng số nước mắm cú ở cả hai thựng; sau đú mới tỡm tổng số chai đựng nước mắm”. + Tỡm phộp tớnh và thực hiện phộp tớnh: Học sinh tự đặt lời giải và làm như sau: Bài giải Tổng số nước mắm ở hai thựng là: 21 + 15 = 36 (lớt ) Số chai đựng nước mắm là: 36 : 0,75 = 48 ( chai) Đỏp số: 48 chai. * CÁC PHƯƠNG PHÁP DÙNG ĐỂ DẠY GIẢI BÀI TOÁN Cể LỜI VĂN a. Phương phỏp trực quan: Nhận thức của trẻ từ 6 đến 11 tuổi cũn mang tớnh cụ thể , gắn với cỏc hỡnh ảnh và hiện tượng cụ thể, trong khi đú kiến thức của mụn toỏn lại cú tớnh trừu tượng và khỏi quỏt cao. Sử dụng phương phỏp này giỳp học sinh cú chỗ dựa cho hoạt động tư duy, bổ xung vốn hiểu biết, phỏt triển tư duy trừu tượng và vốn hiểu biết. Vớ dụ: khi dạy giải toỏn ở lớp Năm, giỏo viờn cú thể cho học sinh quan sỏt mụ hỡnh hoặc hỡnh vẽ, sau dú lập túm tắt đề bài qua, rồi mới đến bước chọn phộp tớnh. b. Phương phỏp thực hành luyện tập: Sử dụng phương phỏp này để thực hành luyện tập kiến thức, kỹ năng giải toỏn từ đơn giản đến phức tạp ( Chủ yếu ở cỏc tiết luyện tập ). Trong quỏ trỡnh học sinh luyện tập, giỏo viờn cú thể phối hợp cỏc phương phỏp như: gợi mở – vấn đỏp và cả giảng giải – minh hoạ. c. Phương phỏp gợi mở – vấn đỏp: Đõy là phương phỏp rất cần thiết và thớch hợp với học sinh tiểu học, rốn cho học sinh cỏch suy nghĩ, cỏch diễn đạt bằng lời, tạo niềm tin và khả năng học tập của từng học sinh. d. Phương phỏp giảng giải – minh hoạ: Giỏo viờn hạn chế dựng phương phỏp này. Khi cần giảng giải – minh hoạ thỡ giỏo viờn núi gọn, rừ và kết hợp với gợi mở – vấn đỏp. Giỏo viờn nờn phối hợp giảng giải với hoạt động thực hành của học sinh ( Vớ dụ: Bằng hỡnh vẽ, mụ hỡnh, vật thật…) để học sinh phối hợp nghe, nhỡn và làm. g. Phương phỏp sơ đồ đoạn thẳng: Giỏo viờn sử dụng sơ đồ đoạn thẳng để biểu diễn cỏc đại lượng đó cho ở trong bài và mối liờn hệ phụ thuộc giữa cỏc đại lượng đú. Giỏo viờn phải chọn độ dài cỏc đoạn thẳng một cỏch thớch hợp để học sinh dễ dàng thấy được mối liờn hệ phụ thuộc giữa cỏc đại lượng tạo ra hỡnh ảnh cụ thể để giỳp học sinh suy nghĩ tỡm tũi giải toỏn. * MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢI CÁC BÀI TOÁN Cể LỜI VĂN Ở LỚP 5: Muốn phõn tớch được tỡnh huống, lựa chọn phộp tớnh thớch hợp, cỏc em cần nhận thức được: cỏi gỡ đó cho, cỏi gỡ cần tỡm, mối quan hệ giữa cỏi đó cho và cỏi phải tỡm. Trong bước đầu giải toỏn, việc nhận thức này, việc lựa chọn phộp tớnh thớch hợp đối với cỏc em là một việc khú. Để giỳp cỏc em khắc phục khú khăn này, cần dựa vào cỏc hoạt động cụ thể của cỏc em với vật thật, với mụ hỡnh, dựa vào hỡnh vẽ , cỏc sơ đồ toỏn học…. nhằm làm cho cỏc em hiểu khỏi niệm ” gấp ” với phộp nhõn, khỏi niệm ” một phần … ” với phộp chia” trong tương quan giữa cỏc mối quan hệ trong bài toỏn. Trong một bài toỏn, cõu hỏi cú một chức năng quan trọng vỡ việc lựa chọn phộp tớnh thớch hợp được quy định khụng chỉ bởi cỏc dữ kiện mà cũn bởi cỏc cõu hỏi. Với cựng cỏc dữ kiện như nhau cú thể đặt cỏc cõu hỏi khỏc nhau do đú việc lựa chọn phộp tớnh cũng khỏc nhau, việc thấu hiểu cõu hỏi của bài toỏn là điều kiện căn bản để giải đỳng bài toỏn đú. Nhưng trẻ em ở giai đoạn đầu khi mới giải toỏn chưa nhận thức được đầy đủ chức năng của cõu hỏi trong bài toỏn. Để rốn luyện cho cỏc em suy luận đỳng, cần giỳp cỏc em nhận thức được chức năng quan trọng của cõu hỏi trong bài toỏn. Muốn vậy cú thể dựng biện phỏp: thường xuyờn gợi cho cỏc em phõn tớch đề toỏn để xỏc định cỏi đó cho, cỏi phải tỡm, cỏc dữ kiệm của bài toỏn , cõu hỏi của bài toỏn, đụi khi nờu cho cỏc em bài toỏn vui khụng giải được, chẳng hạn: ” trờn cành cõy cú 8 con sóc, người thợ săn bắn rơi 2 con. Hỏi trong lồng cũn mấy con sóc ?” cú em sẽ nhẩm và trả lời là 6 con, lỳc đú giỏo viờn sẽ giải thớch để học sinh nhận ra cỏi sai trong cõu hỏi của bài toỏn. Đối với toỏn cú lời văn ở lớp 5, chủ yếu là cỏc bài toỏn hợp, giải bài toỏn cũng cú nghĩa là giải quyết cỏc bài toỏn đơn. Mặt khỏc cỏc dạng toỏn đều đó được học ở cỏc lớp trước, bao gồm hai nhúm chớnh như sau: a) Nhúm 1: Cỏc bài toỏn hợp mà quỏ trỡnh giải khụng theo một phương phỏp thống nhất cho cỏc bài toỏn đú. b) Nhúm 2: Cỏc bài toỏn điển hỡnh, cỏc bài toỏn mà trong quỏ trỡnh giải cú phương phỏp riờng cho từng dạng bài toỏn. Trong chương trỡnh toỏn 5 cú những dạng toỏn điển hỡnh sau: – Tỡm số trung bỡnh cộng. – Tỡm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đú. – Tỡm hai số khi biết tổng và tỉ của hai số đú. – Tỡm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đú. – Bài toỏn liờn quan đến đại lượng tỉ lệ thuận, liờn quan đến đại lượng tỉ lệ nghịch. Người giỏo viờn phải nắm vững cỏc dạng toỏn để khi hướng dẫn học sinh giải toỏn sẽ tổ chức cho học sinh trước hết xỏc định dạng toỏn để cú cỏch giải phự hợp. Giải toỏn là một hoạt động trớ tuệ khú khăn, phức tạp. Hỡnh thành kỹ năng giải toỏn khú hơn nhiều so với hỡnh thành kỹ năng tớnh vỡ bài toỏn là sự kết hợp đa dạng nhiều khỏi niệm, nhiều quan hệ toỏn học. Giải toỏn khụng chỉ là nhớ mẫu để rồi ỏp dụng , mà đũi hỏi nắm chắc khỏi niệm, quan hệ toỏn học, nắm chắc ý nghĩa của phộp tớnh, đũi hỏi khả năng độc lập suy luận của học sinh, đũi hỏi biết tớnh đỳng. Cỏc bước để giải một bài toỏn cú lời văn ở tiểu học núi chung và lớp Năm núi riờng đó được đề cập ở một số sỏch về phương phỏp giải toỏn ở bậc tiểu học. ở đõy tụi rỳt ra một số kinh nghiệm hướng dẫn: Phần dạy toỏn cú lời văn ở lớp Năm. Ở lớp 5 việc học phõn số, học số thập phõn, học về cỏc đơn vị đo đại lượng … cũng được kết hợp học cỏc phộp tớnh, học giải toỏn được kết hợp một cỏch hữu cơ để cú tỏc dụng hỗ trợ lẫn nhau. Việc dạy cho học sinh nắm được phương phỏp chung để giải toỏn được chỳ trọng ngay từ khi cỏc em giải bài toỏn đầu tiờn ở đầu bậc tiểu học và sau này vẫn được thường xuyờn quan tõm, cỏc em luụn được rốn luyện trong việc tỡm hiểu đề toỏn, trong việc phõn tớch cỏi gỡ đó cho, cỏi gỡ phải tỡm trong việc suy nghĩ tỡm ra cỏch giải và trong việc thực hiện cỏch giải. Đặc biệt, cỏc em được thường xuyờn sử dụng việc túm tắt đề toỏn bằng sơ đồ, hỡnh vẽ. Sau đõy là một số vớ dụ về cỏc dạng bài toỏn cú lời văn ở lớp 5: Vớ dụ 1: Bài 4 ( trang 65 SGK Toỏn 5) Bài toỏn về đại lượng tỉ lệ thuận. Có 243,2 kg gạo đựng đều trong 8 bao. Hỏi có 12 bao gạo như thế cân nặng bao nhiêu ki- lô -gam ? Bài giải Số kg gạo của một bao là 243,2 : 8 = 30,4 (kg) 12 bao gạo như thế cân nặng số kg là 30,4 x 12 = 364,8 (kg) Đỏp số: 364,8 ( kg) Vớ dụ 2: Bài 3 ( tr 64 SGK Toỏn 5) Toỏn chuyển động đều. Một người đi xe máy ttrong 3 giờ đI được 126,54 km .Hỏi trung bình mỗi giờ người đó đi được bao nhiêu ki -lô -mét ? Hướng dẫn học sinh tóm tắt 3 giờ :126.54km 1 giời : chúng tôi ? Hướng dẫn học sinh trình bày bài giải Bài giải Trung bình mỗi giờ người đó đi được bao nhiêu km 126.54 : 3 = 42,18 (km) Đáp số : 42 ,18 km Vớ dụ 3: Bài 4 (tr 125 SGK Toỏn 5) Toỏn về tỉ lệ nghịch. Một đội thợ xõy dựng cú 8 người xõy xong một bức tường trong ngày. Hỏi muốn xõy xong bức tường đú trong 4 ngày thỡ cần bao nhiờu thợ xõy (sức làm ngang nhau). Túm tắt: ngày cần: 8 người 4 ngày cần: ? người Bài giải: ngày = ngày Xõy xong trong 1 ngày thỡ cần số thợ là: 8 x = 44 (thợ) Xõy xong trong 4 ngày thỡ cần số thợ là: 44 : 4 = 11 (thợ) Đỏp số: 11 thợ. Vớ dụ 4:Bài 3 (trang 59) Bài toỏn về nhõn số thập phõn với số thập phõn. Một vườn cõy hỡnh chữ nhật cú chiều dài 15,62 m, chiều rộng 8,4 m. Tớnh chu vi và diện tớch vườn cõy đú. Túm tắt: Chiều dài: 15,62 m Chiều rộng: 8,4 m Chu vi: ? m; Diện tớch: ? Bài giải: Chu vi vườn cõy hỡnh chữ nhật là: ( 15,62 + 8,4 ) x 2 = 48,04 (m) Diện tớch vườn cõy hỡnh chữ nhật là: 15,62 x 8,4 = 131,208 (m2) Đỏp số: 1) 48,08 m 2) 131,208 m2 Đối với cỏc bài toỏn cú lời văn như trờn, giỏo viờn nờn khuyến khớch học sinh tự nờu ra cỏc giả thiết đó biết, cỏi cần phải tỡm, cỏch túm tắt bài toỏn và tỡm đường lối giải. Cỏc phộp tớnh giải chỉ là khõu thứ yếu mang tớnh kĩ thuật. * Một số bài nõng cao dành cho dành cho học sinh khỏ, giỏi: Đối với những đối tượng học sinh đó giải được và giải thành thạo cỏc bài toỏn đơn cơ bản, thỡ việc đưa ra hệ thống bài tập nõng cao là rất quan trọng và cần thiết để cho học sinh cú điều kiện phỏt huy năng lực trớ tuệ của mỡnh, vượt xa khỏi tư duy cụ thể mang tớnh chất ghi nhớ và ỏp dụng một cỏch mỏy múc trong cụng thức. Qua đú phỏt triển trớ thụng minh cho học sinh. Dưới đõy là cỏc dạng bài nõng cao mà tụi đó thực hiện trong cỏc tiết dạy để nõng cao tớnh hiểu biết của học sinh đồng thời bồi dưỡng học sinh giỏi. Vớ dụ 1: Hai người thợ cựng làm chung một cụng việc thỡ sau 5 giờ sẽ xong. Sau khi làm được 3 giờ thỡ người thợ cả bận việc phải nghỉ, chỉ cũn người thợ thứ hai phải làm nốt cụng việc cũn lại trong 6 giờ. Hỏi nếu mỗi người thợ làm một mỡnh thỡ mất mấy giờ mới xong cụng việc ? Bài giải: Hai người làm chung thỡ hết 5 giờ mới xong. Vậy mỗi giờ 2 người làm được cụng việc. Trong 3 giờ, hai người làm được là: x 3 = (cụng việc) Phõn số chỉ cụng việc người thứ hai làm một mỡnh là: 1 – = (cụng việc) Mỗi giờ người thứ hai làm được là: : 6 = (giờ) Thời gian người thứ hai làm một mỡnh là: 1 : = 15 (giờ) Mỗi giờ người thứ nhất làm được là: – = (cụng việc) Thời gian người thứ nhất làm một mỡnh là: 1 : = 7 giờ = 7 giờ 30 phỳt Đỏp số: 1) 7 giờ 30 phỳt; 2) 15 giờ. Vớ dụ 2: Tân , Kim , Sú và chá á cú 1 số quyển vở. Tân lấy số vở để dựng, Kim lấy cũn lại, Sú lấy cũn lại, cuối cựng Chá dựng nốt 8 quyển vở. Hỏi lỳc đầu cả 4 bạn cú tất cả bao nhiờu quyển vở ? Túm tắt:Tân Kim Sú Chá 8 vở Bài giải: Sú vở của Sú và Chá là: 8 : 2 x 3 = 12 (quyển Số vở của Sú ,Chá và Kim là: 12 : 2 x 3 = 18 (quyển) Số vở của 4 bạn lỳc đầu là: 18 : 2 x 3 = 27 (quyển) Đỏp số: 27 quyển. 2. Về phía học sinh Các em cần đọc kỹ yêu cầu của bài toán có lời văn để hiểu rõ bài toán cho biết gì ? Bài toán yêu cầu gì ? từ đó học sinh có kỹ năng giải bài toán chính xác theo yêu cầu của đề bài . Bài soạn minh hoạ Toán Tiết 16: Ôn tập và bổ sung về giải toán I/ Mục tiêu: – HSY : làm được bài 1 theo hướng dẫn của giáo viên II Đồ dùng dạy học : – Bảng nhóm III/ Các hoạt động dạy học: 1. Kiểm tra bài cũ: 2. Bài mới. a. Ví dụ: -GV nêu ví dụ. -Cho HS tự tìm quãng đường đi được trong 1 giờ, 2giờ, 3 giờ. -Gọi HS lần lượt điền kết quả vào bảng ( GV kẻ sẵn trên bảng. -Em có nhận xét gì về mối quan hệ giữa hai đại lượng: thời gian đi và quãng đường được? b. Bài toán: -GV nêu bài toán. -Cho HS tự giải bài toán theo cách rút về đơn vị đã biết ở lớp 3. -GV gợi ý để dẫn ra cách 2 “tìm tỉ số”: +4 giờ gấp mấy lần 2 giờ? +Quãng đường đi được sẽ gấp lên mấy lần? c. Thực hành: *Bài 1: GV gợi ý để HS giải bằng cách rút về đơn vị: -Tìm số tiền mua 1 mét vải. -Tìm số tiền mua 7mét vải. – hớng dẫn HSY tìm hiểu yêu cầu bài 1 – GVnhận xét Bài 2 : Mời 1 HS nêu yêu cầu bài toán -Hướng dẫn HS nêu cách giải . – yêu cầu làm bài theo nhóm 4 – hướng dẫn HSY làm bài 1 vào vở Bài 3: GV hướng dẫn để HS tóm tắt. -Yêu cầu HS tìm ra cách giải rồi giải vào vở: – Cả lớp và GV nhận xét, đánh giá IV. Củng cố – dặn dò: -Bài tập về nhà: BT2 – tr.19. -GV nhận xét giờ học. -HS tìm quãng đường đi được trong các khoảng thời gian đã cho. -HS lần lượt điền kết quả vào bảng. -Nhận xét: SGK- tr.18. Tóm tắt: 2 giờ: 90 km. 4 giờ:..km? Bài giải: *Cách 1: “Rút về đơn vị”. Trong 1 giờ ô tô đi đợc là: 90 : 2 = 45 (km) (*) Trong 4 giờ ô tô đi được là: 45 x 4 = 180 (km) Đáp số: 180 km. *Cách 2: “ Tìm tỉ số”. 4 giờ gấp 2 giờ số lần là: 4: 2 = 2 (lần) Trong 4 giờ ô tô đi được là: 90 x 2 = 180 (km) Đáp số: 180 km. Tóm tắt: 5m: 80000 đồng. 7m:..đồng? – HS làm nháp , 1 HS làm bảng phụ Số tiền mua 1 mét vải là: 80000 : 5 = 16000 (đồng) Mua 7 mét vải hết số tiền là: 16000 x 7 = 112000 (đồng) Đáp số: 112000 đồng. HS làm bài theo yêu cầu . Tóm tắt: 3 ngày: 1200 cây. 12 ngày:cây? Bài giải: Một ngày trồng được số cây là. 1200 : 3 = 400( cây) 12 ngày trồng được số cây là. 400 x12 =4800(cây). Đáp số: 4800 cây – HS nêu yêu cầu Tóm tắt: 1000 người tăng: 21 người 4000 người tăng:..người? 1000 người tăng: 15 người 4000 người tăng..người? Bài giải: 4000 người gấp 1000 số lần là: 4000 : 1000 = 4 (lần) Sau 1 năm dân số xã đó tăng thêm là: 21 x 4 = 84 (người) Đáp số: 84 người. ( làm tương tự). Đáp số: 60 người. 3 . Kết quả cuối học kỳ I Qua quá trình nghiên cứu và áp dụng biện pháp rèn kỹ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 5 A Các em học sinh có kỹ năng giải toán thành thạo .Cuối học kỳ I cho thấy Tổng số học sinh :19 Trong đó : Giỏi : 5 Trung bình : 5 Khá : 8 Yếu  : 1 Phần III KếT Luận chung Qua thời gian nghiên cứu và áp dụng và biện pháp rèn kỹ năng giải toán có lời văn cho học sinh phụ thuộc vào nhiều yếu tố .Việc bồi dưỡng kiến thức cũ ,rèn kỹ năng đọc hiểu đề ,nhận thức của học sinh về giải toán có lời văn . Điều này hoàn toàn phù hợp với giả thiết mà đề tài nêu ra với nhiều tác dụng : Hướng dẫn và giỳp học sinh giải toỏn cú lời văn nhằm giỳp cỏc em phỏt triển tư duy trớ tuệ, tư duy phõn tớch và tổng hợp, khỏi quỏt hoỏ, trừu tượng hoỏ, rốn luyện tốt phương phỏp suy luận lụgic. Bờn cạnh đú đõy là dạng toỏn rất gần gũi với đời sống thực tế. Do vậy, việc giảng dạy toỏn cú lời văn một cỏch hiệu quả giỳp cỏc em trở thành những con người linh hoạt, sỏng tạo, làm chủ trong mọi lĩnh vực và trong cuộc sống thực tế hàng ngày. Những kết quả mà tụi đó thu được trong quỏ trỡnh nghiờn cứu khụng phải là cỏi mới so với kiến thức chung về mụn toỏn ở bậc tiểu học, song lại là cỏi mới đối với bản thõn tụi. Trong quỏ trỡnh nghiờn cứu, tụi đó phỏt hiện và rỳt ra nhiều điều lý thỳ về nội dung và phương phỏp dạy học giải toỏn cú lời văn ở bậc tiểu học Đối với giỏo viờn, ở mỗi dạng toỏn cần hướng dẫn học sinh nhận dạng bằng nhiều cỏch: đọc, nghiờn cứu đề, phõn tớch bằng nhiều phương phỏp ( Mụ hỡnh, sơ đồ đoạn thẳng, suy luận ….) để học sinh dễ hiểu, dễ nắm bài hơn. Khụng nờn dừng lại ở kết quả ban đầu ( giải đỳng bài toỏn ) mà nờn cú yờu cầu cao hơn đối với học sinh. Trẻ em là tương lai của đất nước, là hạnh phúc của mỗi gia đình. Chúng ta hãy trang bị cho các em một hệ thống tri thức cơ bản, vững chắc để các em tự tin bước vào thời

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Rèn Kĩ Năng Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 5

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:“RÈN KĨ NĂNG GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN CHO HỌC SINH LỚP 5”

1

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀChương trình Toán của Tiểu học có vị trí rất quan trọng. Toán học góp phần quan trọngtrong việc đặt nền móng cho việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh. Trên cơ sởcung cấp những tri thức khoa học ban đầu về số học, các số tự nhiên, các số thập phân, cácđại lượng cơ bản, giải toán có lời văn ứng dụng thiết thực trong đời sống và một số yếu tốhình học đơn giản.Môn toán ở Tiểu học bước đầu hình thành và phát triển năng lực trừu tượng hoá, khái quánhoá, kích thích trí tưởng tượng, gây hứng thú học tập toán, phát triển hợp lý khả năng suyluận và biết diễn đạt đúng bằng lời, bằng viết, các suy luận đơn giản, góp phần rèn luyệnphương pháp học tập và làm việc khoa học, linh hoạt sáng tạo.Mục tiêu nói trên được thông qua việc dạy học các môn học, đặc biệt là môn Toán. Mônnày có tầm quan trọng vì toán học với tư cách là một bộ phận khoa học nghiên cứu hệthống kiến thức cơ bản và sự nhận thức cần thiết trong đời sống sinh hoạt và lao động của

con người. Môn toán là ”chìa khoá” mở của cho tất cả các ngành khoa học khác, nó là côngcụ cần thiết của người lao động trong thời đại mới. Vì vậy, môn toán là bộ môn không thểthiếu được trong nhà trường, nó giúp con người phát triển toàn diện, nó góp phần giáo dụctình cảm, trách nhiệm, niềm tin và sự phồn vinh của quê hương đất nước.Trong dạy – học Toán ở Tiểu học, việc giải toán có lời văn chiếm một vị trí quan trọng.Trong giải toán, học sinh phải tư duy một cách tích cực và linh hoạt, huy động tích cực cáckiến thức và khả năng đã có vào tình huống khác nhau, trong nhiều trường hợp phải biếtphát hiện những dữ kiện hay điều kiện chưa được nêu ra một cách tường minh và trongchừng mực nào đó, phải biết suy nghĩ năng động, sáng tạo. Vì vậy có thể coi giải toán cólời văn là một trong những biểu hiện năng động nhất của hoạt động trí tuệ của học sinh.Dạy học giải toán có lời văn ở bậc Tiểu học nhằm mục đích chủ yếu sau:– Giúp học sinh luyện tập, củng cố, vận dụng các kiến thức và thao tác thực hành đã học,rèn luyện kỹ năng tính toán bước tập dượt vận dụng kiến thức và rèn luyện kỹ năng thựchành vào thực tiễn.– Giúp học sinh từng bước phát triển năng lực tư duy, rèn luyện phương pháp và kỹ năngsuy luận, khêu gợi và tập dượt khả năng quan sát, phỏng đoán, tìm tòi.

2

– Rèn luyện cho học sinh những đặc tính và phong cách làm việc của người lao động, như:cẩn thận, chu đáo, cụ thể, …Ở học sinh lớp 5, kiến thức toán đối với các em không còn mới lạ, khả năng nhậnthức của các em đã được hình thành và phát triển ở các lớp trước, tư duy đã bắt đầu cóchiều hướng bền vững và đang ở giai đoạn phát triển. Học sinh đã có vốn sống, vốn hiểubiết thực tế đã bước đầu có những hiểu biết nhất định. Tuy nhiên trình độ nhận thức củahọc sinh không đồng đều, yêu cầu đặt ra khi giải các bài toán có lời văn cao hơn những lớptrước, các em phải đọc nhiều, viết nhiều, bài làm phải trả lời chính xác với phép tính, vớicác yêu cầu của bài toán đưa ra, nên thường vướng mắc về vấn đề trình bày bài giải: sai sótdo viết không đúng chính tả hoặc viết thiếu, viết từ thừa. Một số sai sót mà học sinhthường mắc là không chú ý phân tích theo các điều kiện của bài toán, … nên đã lựa chọnsai phép tính.Với những lý do đó, học sinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp 5 nói riêng, việc học toánvà giải toán có lời văn là rất quan trọng và rất cần thiết. Để thực hiện tốt mục tiêu đó, giáoviên cần phải nghiên cứu, tìm biện pháp giảng dạy thích hợp, giúp các em giải bài toán mộtcách vững vàng, hiểu sâu được bản chất của vấn đề cần tìm, mặt khác giúp các em cóphương pháp suy luận toán lôgic thông qua cách trình bày, lời giải đúng, ngắn gọn, sángtạo trong cách thực hiện. Từ đó giúp các em hứng thú, say mê học toán. Từ những căn cứđó tôi đã lựa và thực hiện sáng kiến “Rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 5” để nghiên cứu, với mục đích là:

– Tìm hiểu những kỹ năng cơ bản cần trang bị để phục vụ việc giải toán có lời văn cho họcsinh lớp 5.– Hướng dẫn học sinh giải cụ thể một số bài toán, một số dạng toán có lời văn ở lớp 5, từđó đúc rút kinh nghiệm, đề xuất một số ý kiến góp phần nâng cao chất lượng dạy – học giảitoán có lời văn.

3

PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ1. Cơ sở lý luậnGiải toán là một phần quan trọng trong chương trình giảng dạy môn toán ở bậc Tiểu học.Nội dung của việc giải toán gắn chặt một cách hữu cơ với nội dung của số học, số tự nhiên,phân số, các số thập phân, các đại lượng cơ bản, các yếu tố đại số và hình học có trongchương trình.Vì vậy, việc giải toán có lời văn có một vị trí quan trọng thể hiện ở các vấn đề sau:+) Các khái niệm và các quy tắc trong sách giáo khoa nói chung đều được giảng dạy thôngqua việc giải toán. Việc giải toán giúp học sinh củng cố, vận dụng các kiến thức, rèn luyệnkỹ năng tính toán. Đồng thời qua việc giải toán của học sinh mà giáo viên có thể dễ dàngphát hiện những ưu điểm hoặc thiếu sót của các em về kiến thức, kỹ năng và tư duy đểgiúp các em phát huy hoặc khắc phục.+) Việc kết hợp học và hành, kết hợp giảng dạy với đời sống được thực hiện thông quaviệc cho học sinh giải toán, các bài toán liên hệ với cuộc sống một cách thích hợp giúp họcsinh hình thành và rèn luyện những kỹ năng thực hành cần thiết trong đời sống hàng ngày,giúp các em biết vận dụng những kỹ năng đó trong cuộc sống.+) Việc giải toán góp phần quan trọng trong việc xây dựng cho học sinh những cơ sở banđầu của lòng yêu nước, tinh thần quốc tế vô sản, thế giới quan duy vật biện chứng: việcgiải toán với những nội dung thích hợp, có thể giới thiệu cho các em những thành tựu trongcông cuộc xây dựng CNXH ở nước ta và các nước anh em, trong công cuộc bảo vệ hoàbình của nhân dân thế giới, góp phần giáo dục các em ý thức bảo vệ môi trường, phát triểndân số có kế hoạch v.v… Việc giải toán có thể giúp các em thấy được nhiều khái niệm toánhọc, ví dụ: các số, các phép tính, các đại lượng v v… đều có nguồn gốc trong cuộc sốnghiện thực, trong thực tiễn hoạt động của con người, thấy được các mối quan hệ biện chứnggiữa các dữ kiện, giữa cái đã cho và cái phải tìm v v..+) Việc giải toán góp phần quan trọng vào việc rèn luyện cho học sinh năng lực tư duy vànhững phẩm chất tốt của con người lao động mới.Khi giải một bài toán, tư duy của học sinh phải hoạt động một cách tích cực vì các em cầnphân biệt cái gì đã cho và cái gì cần tìm, thiết lập các mối liên hệ giữa các dữ kiện giữa cáiđã cho và cái phải tìm; Suy luận, nêu lên những phán đoán, rút ra những kết luận, thực hiện4

nước thể hiện qua Nghị quyết XI của Đảng về đổi mới căn bản Giáo dục Việt Nam theohướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế. Qua đó tôithấy được đổi mới phương pháp dạy học là đổi mới từ cách nghĩ, cách soạn và giảng bài.Nhưng đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là loại bỏ những phương pháp dạyhọc truyền thống mà trên cơ sở đó chúng ta sử dụng những phương pháp dạy học tích cực,linh hoạt phù hợp với đặc trưng tiết dạy, thừa kế, phát huy những ưu điểm của phươngpháp dạy học truyền thống.3.2. Xây dựng các bước cơ bản khi dạy 1 bài toán có lời văn ở lớp 5.a/ Tìm hiểu đềĐây là bước rất quan trọng nó giúp học sinh nắm được các dữ liệu của bài toán đãcho yếu tố bài toán yêu cầu giải đáp. Do đó, khi đọc đề toán tôi hướng dẫn học sinh đọc kỹđề bài để nắm được các dữ liệu đã cho và yếu tố bài toán yêu cầu tìm.Dựa vào đề bài tóm tắt bài toán bằng lời ngắn gọn, hoặc sơ đồ đoạn thẳng.tắt đủ ý, chính xác, ngắn gọn và cô đọng.

Tóm

b/ Lập kế hoạch giảiDựa vào phần tóm tắt, tôi lựa chọn câu hỏi thích hợp để giúp học sinh xác định đầyđủ. Bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi gì? (Yêu cầu cần tìm).Bằng phương pháp gợi mở, tôi dẫn dắt học sinh bằng cách đưa ra những tình huốnggợi mở để học sinh tìm ra cách giải bài toán: Làm thế nào? tại sao?,…c/ Giải bài toánĐây là bước rất quan trọng bởi khi học sinh đã tìm ra được phép tính đúng nhưng khitrình bày bài giải lại chưa hoàn chỉnh ( câu trả lời chưa đúng). Vì vậy khi hướng dẫn họcsinh trình bày bài giải tôi đã hướng dẫn học sinh cần lưu ý dựa vào phần tóm tắt bài toánđể tìm ra câu trả lời đúng và ghi đúng danh số( dựa vào đề bài).d/ Thử lạiSau khi giải bài toán xong, tôi hướng dẫn học sinh thử lại.3.3. Hướng dẫn học sinh thực hiện các bước giải một bài toán có lời văn.

6

a. Dạy bài toán tìm số trung bình cộngĐối với dạng toán này tôi hướng dẫn học sinh giải bài toán theo các bước:– Tìm tổng– Chia tổng đó cho số các số hạng* Ví dụ:Một vòi nước chảy vào bể. Giờ đầu chảy được

bể, giờ thứ hai chảy vào được

bể. Hỏi trung bình mỗi giờ vòi nước đó chảy vào được bao nhiêu phần bể?( Bài 3 trang 32- SGK toán 5 )Bước1: Tìm hiểu đề– Cho học sinh tự đọc đề bài nhiều lượt.– Hướng dẫn học sinh nắm các dữ liệu bài toán.+) Bài toán cho biết gì? (Giờ đầu chảy

bể, giờ thứ hai chảy được

bể.)

+) Bài toán yêu cầu tìm gì? (Trung bình mỗi giờ vòi nước đó chảy vào được baonhiêu phần bể? )– Tóm tắt:Giờ đầu:

Giờ hai:

TB 1 giờ:… phần bể?

Bước 2: Lập kế hoạch giảiMuốn tìm trung bình mỗi giờ vòi nước chảy được bao nhiêu phần bể ta làm thế nào?( Ta lấy giờ đầu cộng giờ hai rồi chia cho 2)Bước 3: Giải bài toán

7

Bài giảiTrung bình mỗi giờ vòi nước chảy được là:(

(

Đáp số:

( bể nước)

bể

Bước 4: Thử lạiMuốn thử lại bài toán ta làm thế nào? ( lấy

nhân với 2 rồi trừ

1

bằng 5 )

b. Dạy bài toán tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó.Đối với bài toán này tôi đã hướng dẫn học sinh giải bài toán theo các bước giải .– Xác định tổng của hai số cần tìm .– Xác định tỉ số của hai số phải tìm– Vẽ sơ đồ.– Tìm tổng số phần bằng nhau.– Tìm giá trị 1 phần .– Tìm mỗi số phải tìm theo số phần được biểu thị.* Ví dụ:Tổng của hai số là 80. Số thứ nhất bằng

số thứ hai. Tìm 2 số đó.

( BT1/a – trang 18 – SGK toán 5 )Bước 1: Tìm hiểu đề– Tôi hướng dẫn các em đọc đề toán nhiều lần để tìm hiểu các dữ liệu tường minhcủa bài toán.+) Bài toán cho biết gì? (Tổng của hai số là 80. Số thứ nhất bằng

số thứ hai)

+) Bài toán yêu cầu tìm gì? (Tìm 2 số đó)– Tóm tắt bài toán

8

Hãy nêu cách vẽ sơ đồ bài toán? ( Dựa vào tỉ số của hai số, ta có thể vẽ sơ đồ bàitoán. Tỉ số của số thứ nhất và số thứ hai là

, nếu số thứ nhất là 7 phần thì số thứ hai sẽ là

9 phần như thế )Bước 2: Lập kế hoạch giải– Làm thế nào để tìm được hai số đó? ( Tính tổng số phần bằng nhau, sau đó tìm sốthứ nhất số thứ hai)– Dựa vào sơ đồ em có thể tìm số nào trước ( số thứ nhất hoặc số thứ hai trước đềuđược).– Em tìm số thứ nhất bằng cách nào? ( tính tổng số phần sau đó lấy tổng chia chotổng số phần rồi nhân với số phần biểu thị số đó).– Tìm được số thứ nhất rồi em làm cách nào để tìm được số thứ hai? (lấy tổng trừ đisố thứ nhất).Bước 3: Giải bài toánCách 1: Ta có sơ đồ:

?

Số thứ nhất:Số thứ hai:

Theo sơ đồ, số thứ nhất là:80 : ( 7 + 9 ) x 7 = 35Số thứ hai là :80 -35 = 45Đáp số : Số thứ nhất: 359

Số thứ hai

80

Số thứ nhất

?

Theo sơ đồ, số thứ hai là:80 : ( 9 + 7 ) x 9 = 45Số thứ nhất là:80 – 45 = 35Đáp số: Số thứ hai: 45Số thứ nhất: 35Bước 3: Thử lạiTổng số thứ nhất và số thứ hai là: 35 + 45 = 80Tỷ số giữa số thứ nhất và số thứ hai là:

c. Dạy bài toán tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đóĐối với dạy toán này tôi cũng hướng dẫn các em làm bài toán theo

bước:

– Xác định hiệu của 2 số .– Xác định tỉ số của hai số– Tìm hiệu số phần bằng nhau

10

– Tìm giá trị 1 phần– Tìm mỗi số theo số phần biểu thị.* Ví dụ: Hiệu của hai số là 55. Số thứ nhất bằng

số thứ hai. Tìm hai số đó .

( Bài 1/b – trang 18- SGK toán 5)Bước 1: Tìm hiểu đềGiáo viên yêu cầu học sinh đọc đề bài và tìm hiểu những dữ liệu đã biết của bài, yêu cầucủa bài toán.+) Bài toán cho biết gì? ( Hiệu của hai số là 55. Số thứ nhất bằng

số thứ hai)

+) Bài toán yêu cầu tìm gì? (Tìm 2 số đó)– Tóm tắt bài toánHãy nêu cách vẽ sơ đồ bài toán? ( Dựa vào tỉ số của hai số, ta có thể vẽ sơ đồ bàitoán. Tỉ số của số thứ nhất và số thứ hai là

, nếu số thứ nhất là 9 phần thì số thứ hai sẽ là

4 phần như thế )Bước 2: Lập kế hoạch giải– Làm thế nào để tìm được hai số đó? ( Tính hiệu số phần bằng nhau, sau đó tìm sốthứ nhất số thứ hai)– Làm thế nào để tìm được số thứ hai ( em hãy đi tìm giá trị của 1 phần rồi nhân với sốphần biểu thị )– Em tìm giá trị 1 phần bằng cách nào? ( lấy hiệu chia cho hiệu số phần)– Tìm được số thứ hai, muốn tìm số thứ nhất em phải làm thế nào?( Lấy số bé cộng với hiệu )– Bài nào có thể có mấy cách giải ( 2 cách giải )Bước 3: Giải bài toánCách 1:

?

11

Theo sơ đồ, số thứ hai là :55 : ( 9 – 4) x 4 = 44Số thứ nhất là :44 + 55 = 99Đáp số: Số thứ hai: 44Số thứ nhất: 99Cách 2:Ta có sơ đồ:

?

55

Số thứ hai:Theo sơ đồ, số thứ nhất là :55 : ( 9 – 4) x 9 = 99Số thứ hai là :99 – 55 = 44Đáp số: Số thứ nhất: 9912

Số thứ hai: 44Bước 4: Thử lạiHướng dẫn HS thử lại bài toán.Hiệu giữa 2 số là :

99 – 44 = 55

Tỉ số của số thứ nhất bằng

số thứ hai:

d. Dạy bài toán tìm tỉ số phần trăm* Dạy bài toán tìm tỉ số phần trăm của hai số.Đối với dạng toán này tôi hướng dẫn học sinh giải bài toán theo các bước:– Tìm thương của hai số đó.– Nhân thương đó với 100, viết thêm kí hiệu % vào bên phải tích tìm được.* Ví dụ:Một lớp học có 25 học sinh, trong đó có 13 học sinh nữ. Hỏi số học sinh nữ chiếmbao nhiêu phần trăm số học sinh của lớp đó?( Bài 3 trang 75 – SGK toán 5 )Bước 1: Tìm hiểu đề– Cho học sinh tự đọc đề bài nhiều lượt.– Hướng dẫn học sinh nắm các dữ liệu bài toán.+) Bài toán cho biết gì? (Lớp học có 25 học sinh, trong đó có 13 học sinh nữ)+) Bài toán yêu cầu tìm gì? (Số học sinh nữ chiếm bao nhiêu phần trăm số học sinhcủa lớp)– Tóm tắt bài toánLớp học: 25 học sinhTrong đó: 13 nữNữ: …% số HS lớp?

13

Bước 2: Lập kế hoạch giải:Muốn tính số HS nữ chiếm bao nhiêu số phần trăm số HS của lớp ta làm thếnào ? (Tìm thương của 13 và 25 sau đó nhân thương đó với 100, viết thêm kí hiệu phầntrăm vào bên phải tích vừa tìm được ).Bước 3 : Giải bài toánTỉ số phần trăm của số HS nữ và số HS cả lớp là:13 : 25 = 0, 520,52 = 52%Đáp số: 52 %Bước 3: Thử lạiMuốn thử lại bài toán ta làm thế nào? (Thực hiện phép tính ngược lại để kiểm tra kếtquả)52 : 100 × 25 = 13* Dạy bài toán tìm một số phần trăm của một số.Đối với dạng toán này tôi hướng dẫn học sinh giải bài toán theo các bước:– Lấy số đó chia cho 100.– Nhân thương đó với số phần trăm.Hoặc:

– Lấy số đó nhân với số phần trăm– Nhân tích đó với 100.

* Ví dụ :Một lớp học có 32 học sinh, trong đó số học sinh 10 tuổi chiếm 75%, còn lại là họcsinh 11 tuổi. Tính số học sinh 11 tuổi của lớp học đó.(Bài 1 – trang 77 – SGK toán 5)Bước 1: Tìm hiểu đề– Tôi hướng dẫn học sinh đọc đề toán nhiều lần, nhấn mạnh những dữ kiện cho trướcvà yếu tố cần tìm.+) Bài toán cho biết gì? ( lớp học có 32 học sinh, số học sinh 10 tuổi chiếm 75% cònlại là HS 11 tuổi).14

+) Bài toán yêu cầu tìm gì? (Tính số học sinh 11 tuổi của lớp học đó)– Tóm tắt bài toán:Lớp học: 32 học sinhHS 10 tuổi: 75%HS 11 tuổi:… học sinh

Bước 2: Lập kế hoạch giải:– Làm thế nào để tính được số học sinh 11 tuổi? ( Ta lấy tổng số học sinh cả lớp trừđi số học sinh 10 tuổi)– Vậy trước hết ta phải tìm gì? ( Tìm số HS 10 tuổi)Bước 3 : Giải bài toánBài giảiCách 1:32

×

Số học sinh 10 tuổi là:

75 : 100 = 24 (học sinh )Số học sinh 11 tuổi là:32 – 24 = 8 ( học sinh)

Đáp số: 8 học sinhCách 2: Số học sinh 10 tuổi là:32 : 100

×

75 = 24 (học sinh )Số học sinh 11 tuổi là:

32 – 24 = 8 (học sinh)Đáp số: 8 học sinhBước 4: Thử lạiHướng dẫn học sinh thử lại: 8 + 24 = 32* Dạy bài toán tìm một số khi biết giá trị một số phần trăm của nó15

Đối với bài toán này tôi đã hướng dẫn học sinh giải bài toán theo các bước giải:– Lấy giá trị phần trăm chia cho số phần trăm.– Nhân thương đó với 100.Hoặc: – Lấy giá trị phần trăm nhân với 100.– Lấy tích chia cho số phần trăm.* Ví dụ: Số học sinh khá của trường Vạn Thịnh là 552 em, chiếm 92% số học sinh toàntrường. Hỏi trường Vạn Thịnh có bao nhiêu học sinh?(BT1 – trang 78 – SGK toán 5 )Bước 1: Tìm hiểu đề– Tôi hướng dẫn các em đọc đề toán nhiều lần để tìm hiểu các dữ liệu tường minhcủa bài toán.+) Bài toán cho biết gì? ( Số HS khá 552 em chiếm 92% số HS cả trường)+) Bài toán yêu cầu tìm gì? ( Trường đó có bao nhiêu học sinh)– Tóm tắt bài toánHS khá trường 552 em : chiếm 92% số HS toàntrườngTrường: … học sinh?Bước 2 : Lập kế hoạch giải– Làm thế nào để tính được số HS của trường Vạn Thịnh? ( Tìm 1% số HS củatrường là bao nhiêu em)– Số HS khá chiếm 92% số HS toàn trường. Vậy số HS toàn trường là bao nhiêuphần trăm? ( 100%)– Tìm số HS toàn trường ta làm thế nào? ( lấy số HS của 1% nhân với 100)Bước 3: Giải bài toánBài giải16

Trường Vạn Thịnh có số học sinh là:552 × 100 : 92 = 600 ( học sinh)Đáp số: 600 học sinhBước 4: Thử lại– Hướng dẫn học sinh thử lại bài toán ( lấy số học sinh toàn trường chia cho 100 rồinhân với 92) 600 : 100 × 92 = 5524/ Hiệu quả của sáng kiếnQua quá trình hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn theo hướng đi trên. Tôi nhậnthấy năm học 1010 – 2011 học sinh ở lớp 5A đã nắm chắc được trình tự giải bài toán vềTìm số trung bình cộng; Bài toán tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó; Bài toántìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đó; Bài toán về tỉ số phần trăm. Các em đã biếttóm tắt bài toán, biết tìm lời giải và phép tính đúng theo yêu cầu của mỗi bài tập theo cácdạng toán đã học. Kết quả học tập môn Toán được nâng lên đáng kể. Cụ thể như sau:Thờigiankiểmtra

3

12

3

12

9

2

8

3

6

1

4

1

0

0

0

36

8

10

40

7

4

10

40

8

0

9

36

8

32

2

8

28

3

12

32

5

20

32

8

32

17

Như vậy, với việc áp dụng kinh nghiệm “Rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho họcsinh ở lớp 5″ Bản thân tôi đã lựa chọn phương pháp và sử dụng các hình thức dạy học phùhợp với đặc điểm, đối tượng học sinh gắn với từng nội dung của từng bài cụ thể. Nhờ đómà kết quả học tập môn toán của lớp tôi được nâng lên rõ rệt so với đầu năm học.

PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ1. Kết luận18

2.4. Đối với phụ huynhMua đủ sách giáo khoa cho học sinh và các loại sách tham khảo về môn Toán.2.5. Đối với học sinh+ Chăm chỉ học tập.+ Cần rèn luyện tốt phương pháp suy luận lôgic.Phượng Mao, ngày 20 tháng 10 năm 2011

20

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Hướng Dẫn Học Sinh Giải Bài Toán Có Lời Văn Lớp 1

Chương trình toán lớp 1 là một bộ phận của chương trình môn toán ở tiểu học, chương trình này kế thừa và phát triển những thành tựu về dạy toán lớp 1 ở nước ta. khắc phục một số tồn tại của dạy học toán lớp 1 trong giai đoạn vừa qua, thực hiện những đổi mới về giáo dục toán học lớp 1 nói riêng, ở tiểu học nói chung, để thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh xã hội 2001 đến 2010 đại hội IX của Đảng CSVN đã khẳng định ” Đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng thấp kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước CNH- HĐH hoà nhập với các nước trong khu vực”

Trước những đổi mới kinh tế XH đòi hỏi ngành giáo dục phải làm tốt chức năng Nâng cao dân trí , đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”. Do đó về mục tiêu, nội dung chương trình và phương pháp giáo dục đã được thiết lập lại ở bậc tiểu học nói chung và ở môn toán lớp 1 nói riêng cho phù hợp với yêu cầu phát triển của nhân loại cùng sự phát triển chung đó- môn toán lớp 1 cũng đã cố nhiều sự thay đổi đáng kể về nội dung, cấu trúc chương trình và đặc biệt đã có sự quan tâm đúng mức đến việc rèn kỹ năng và giải các bài toán.

biệt đã có sự quan tâm đúng mức đến việc rèn kỹ năng và giải các bài toán. Việc giải toán có lời văn là một việc hết sức khó khăn đối với các em học sinh lớp 1. Các em còn hạn chế về tư duy, ngôn ngữ, chữ viết nên để hoàn thành tốt một bài toán có lời văn phải mất nhiều thời gian và công sức đối với cả thầy và trò. II. Mục đích nghiên cứu. Việc nghiên cứu để tìm ra biện pháp " Hướng dẫn học sinh lớp 1 giải toán có lời văn" nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy góp phần giải quyết những khó khăn mà giáo viên và học sinh mắc phải trong quá trình giải toán đối với học sinh. Giải toán có lời văn là một kỹ năng cần có của học sinh lớp 1 để giúp cho quá trình xuyên suốt tiểu học học sinh có thể giải được các bài toán nhằm giảm bớt sự nhàn chán chỉ bởi những con số và số.Giải toán có lời văn làm khơi dây lòng say mê sáng tạo, năng lực tự vận động trong mỗi học sinh vì vậy việc hướng dẫn giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1 có ý nghĩa to lớn trong quá trình giảng dạy của người giáo viên. Việc nghiên cứu giúp giáo viên có sự nhìn nhận đúng hơn, sâu hơn về tầm quan trọng của việc hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn, từ đó giáo viên lựa chọn tìm ra những biện pháp tốt hơn, phù hợp hơn đối với đặc trưng môn học để có hiệu quả trong giảng dạy toán. III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Học sinh lớp 1 khu bản Pó In - Trường Tiểu học Chiềng Lương 2 + Tổng số: 16 HS Nam : 8 HS Nữ: 8 HS + Dân tộc: 16 HS Nghiên cứu chương trình toán lớp 1 phần giải toán có lời văn. IV. Phương pháp nghiên cứu. Để tiến hành nghiên cứu đề tài này tôi đã sử dụng phương pháp. 1. Nghiên cứu lý luận 2. Nghiên cứu thực tế - Các tài liệu dạy học - Trao đổi toạ đàm với đồng nghiệp - Thế giới trong ta - Phương pháp thống kê phân loại - Bồi dưỡng Mô Đun chương trìnhGK mới - Phương pháp quan sát hướng dẫn HS - P P độc lập lấy HS làm trung tâm phần 2 nội dung I.Cơ sở lý luận. Giải toán có lời văn là một trong bốn mạch kiến thức cơ bản của môn toán 1 (số và phép - Đo đại lượng - Yếu tố hình học - Giải toán có lời văn ). Mục tiêu của dạy học giải toán có lời văn ở lớp 1 nhằm giúp học sinh. - Nhận biết được thế nào là bài toán có lời văn ( Cấu trúc các phần của bài toán ) - Biết giải và trình bày bài giải các bài toán đơn bằng một phép tính cộng, hoặc một phép tính trừ. Trong đó có bài toán về " Thêm"; " bớt" một số đơn vị. (Viết được bài giải bao gồm: Câu lời giải, phép tính và đáp số). Nội dung dạy học giải toán có lời văn ở lớp 1 được sắp xếp thành hai giai đoạn. *Giai đoạn chúng tôi đoạn này " Chuẩn bị học giải toán có lời văn"giai đoạn này nằm trong học kỳ I lớp 1. HS được làm quen với các tình huống của bài toán đựoc diễn tả qua các hình ảnh, tranh vẽ. Yêu cầu của giai đoạn này HS chỉ cầ quan sát tranh. Phan tích nội dung của tranh, rồi viết được phép tính phù hợp ( chưa phải đòi hỏi trình bày lời giải hoàn chỉnh). Hình thức của loại bài tập này là " Viết phép tính thích hợp" ( viết số và phép tính vào 5 ô) * Giai đoạn 2. Giai đoạn "chính thức học giải toán có lời văn"giai đoạn này học chính thức trong học kỳ II của lớp 1. HS được biết thế nào là một bài toán có lời văn ( cấu tạo bài toán gồm 2 phần: Giả thiết (bài toán cho biết gì ?) và kết luận (bài toán hỏi gì ?) ). Từ đó HS biết cách giải và trình bày bài giải các bài toán về " thêm" " bớt" một số đơn vị. Với tầm quan trọng như vậy việc dạy học giải toán có lời văn ở lớp 1đòi hỏi người giáo viên phải quan tâm giúp đỡ HS rất nhiều. Dạy học cần phải theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học cần tổ chức giờ học dưới dạng các hoạt động học tập, học sinh được phát huy tích cực, chủ động , tự chiếm lĩnh kiến thức dưới sự hướng dẫn của giáo viên có như vậy kết quả học tập mới được nâng cao. II. Cơ sở thực tiễn. Đơn vị công tác của tôi: Trường Tiểu học Chiềng Lương 2 xã Chiềng Lương là một trường vùng 2 của huyện Mai Sơn với 100% các em là dân tộc "Thái". Mặt bằng dân trí, kinh tế xã hội còn thấp kém, lạc hậu, đọi ngũ giáo viên đều đạt chuẩn và trên chuẩn đa số đều có ý thức học hỏi, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Bên cạnh những thuận lợi trên không thể không nói tới, những hạn chế về khả năng nhận thức của học sinh và sự quan tâm của nhiều bậc phụ huynh học sinh . Những hạn chế này ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng học tập nói chung đối với môn toán nói riêng và đặc biệt là việc học giải toán có lời văn của học sinh, các em khi học sang giải toán có lời văn đã gặp rất nhiều khó khăn và đói với giáo viên dạy cũng rất vất vả khi giúp các em thực hiện dạng toán này. Trong quá trình giảng dạy tôi thấy được những nguyên nhân dẫn đến những tình trạng trên đó là. *Đối với giáo viên . Giáo viên đã quá quen với phương pháp dạy học truyền thống nên khi áp dụng phương pháp dạy học mới còn rát lúng túng, chưa phát huy được tính tích cực của học sinh. Cách tổ chức còn vụng về, đơn điệu còn chưa có hệ thống chua gây hứng thú đối với học sinh - giáo vien còn làm việc nhiều dẫn đến học sinh thụ động khi tiếp thu tri thức mới. Giáo viên chưa hình thành được cho học sinh " quá trình"giải toán có lời văn việc hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn rất lúng túng, nhiều khi giáo viên chỉ giảng chung chung rồi cho học sinh tự làm bài, hoạc giáo viên giải lên bảng sau đó cho học sinh chép bài vào vở. *Đối với học sinh. Với 100% các em là con em dân tộc Thái khả năng học vần còn hạn chế hết học kỳ I nhiều em chỉ biết đánh vần chưa đọc thông viết thạo nên việc đọc để hiểu một đề toán là một việc vô cùng khó khăn trong việc đọc, hiểu đề toán rồi việc đặt câu lời giải cho bài toánkhi giải còn khó khăn hơn nhiều. Việc viếtg để trình bày bài toán cũng là vấn đề hết sức hạn chế Schính những điều này dẫn đếnviệc giải toán có lời văn của các em lớp 1 gặp không ít khó khăn. *Đối với phụ huynh học sinh. 100% Phụ huynh học sinh làm nghề nông nghiệp và 70% phụ huynh học sinh không có trình độ học vấn hết tiểu học do đó việc quan tâm, kiểm tra kết quả tự học ở nhà của cá em là hoàn toàn không có. gia đình hầu như phó mặc việc học hành của con em mình cho thầy cô giáo mà thời gian học với thầy cô chỉ có 4 giờ trong một ngày như vậy là các em không được kèm cặp thêm các bài học ở nhà nên chất lượng về việc giải bài toán có lời văn còn nhiều hạn chế. III. Một số chú ý khi hướng dẫn học sinh lớp 1 giải toán có lời văn Hướng dẫn học sinh giải toán Trong chương trình toán 1 từ tuần 23 học sinh mới chính thức học cách giải bài toán có lời văn xong ngay từ tuần 7 đến tuần 16.(bắt đầu từ bài phép cộng trong phạm vi 3, luyện tập) xong hầu hết các tiết dạy về phép cộng, trừ trong phạm vi không quá 10 đều có các bài toán dạng "nhìn tranh nêu phép tính".Để giúp học sinh làm quen với việc , xem tranh vẽ, nêu bài toán bằng lời, nêu câu trả lời và điền phép tính thích hợp vào các ô có sẵn với tình huống trong tranh. Tiếp đó đến tuần 17 học sinh được làm quen với việc đọc tóm tất rồi nêu đề toán bằng lời sau đó nêu cách giải và tự điền số vào phép tính thích hợp vào dãy 5 ô trống. Tiếp theo trước khi chính thức học giải bài toán học sinh được học bài nói về cấu tạo của một bài toán có lời văn ở tuần 21 - 22. Khi học sinh bắt đầu làm quen với bài toán có lời văn từ tuần 7 đến tuần 16. Giáo viên cần chú ý nhiều đến việc luyện cho học sinh hiểu đề toán, chuẩn bị các câu lời giải để trả lời miệng. Ví dụ. Từ bức tranh " có 7 bạn đang chơi, 2 bạn đang chạy tới" bài 4 trang 77 SGK. Sau khi học sinh điền phép tính vào dãy ô trống 7 + 2 = 9 Giáo viên hỏi tiếp: "Vậy là có tất cả mấy bạn?" để học sinh trả lời miệng " có tất cả 9 bạn" hoặc hỏi " số bạn có tất cả là bao nhiêu?" và học sinh trả lời " số bạn có tất cả là 4" Căn cứ đưa ra các câu hỏi như vậy. Nhiều lần học sinh sẽ quen dần với cách nêu lời giải bằng miệng v à quên dần để sau này viết được câu lời giải cho khi trình bày bài toán. Trong quá trình giải toán có lời văn học sinh thường gặp khó khăn khi đọc để hiểu đề toán nhất là đối với các em dân tộc ngôn ngữ kém đối với trường hợp này giáo viên nêu cho các xem tranh và nêu câu hỏi để các em nhìn vào tran h để trả lời câu hỏi dẫn đến hiểu được đề toán. Ví dụ: Với bài 1trang 177SGK giáo viên có thể hỏi. Em thấy bạn An( bạn gái) có mấy quả bóng ? (có 4 quả bóng) Bạn Bình ( Bạn trai) có mấy quả bóng ?.(3 quả bóng ) Em có bài toán như thế nào ?.( học sinh nêu thành bài toán) *Trường hợp bài toán không có tranh ở sách giáo khoa như bài3(T.122 ) Giáo viên có thể tìm mẫu vật con gà trống, con gà mái để gắn lên bảng hỗ trợ cho học sinh dễ dàng giải được bài toán. Khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề toán giáo viên cần chú ý tổ chức cho học sinh đọc kỹ đề toán hiểu rõ một số khoá quan trọng như " thêm" và "tất cả" hoặc " bớt", bay đi, ăn mất, còn lại,..( có thể kết hợp quan sát tranh vẽ để hỗ trợ ) trong thời kỳ đầu giáo viên lên giúp học học sinh viết tóm tắt sau đó cho học sinh dựa vào tóm tắt để nêu lại đề toán. Đay là cách rất tốt để rút học sinh ngầm phân tích đề toán. Sau đó giáo viên giúp học sinh tìm hiểu đề toán để xác định rõ cái đã cho và cái phải tìm chẳng hạn ở bài 2 trang 118 SGK " Lúc đầu tổ em có 6 bạn, sau đó có thêm 3 bạn nữa hỏi tổ em có tất cả mấy bạn?" Bài toán cho biết gì ? ( lúc đầu có 6 bạn ) Bài toán cho biết gì nữa ? ( sau đó thêm 3 bạn ) Bài toán hỏi gì ? ( có tất cả mấy bạn ) Giáo viên nêu thêm một số câu hỏi để dẫn dắt bài toán vào phần bài giải " Muốn biết tổ em có tất cả em làm phép tính gì ?'' hoặc " muốn biết cả tổ có tất cả mấy bạn em phải làm thế nào?" cũng có thể hỏi " tổ em có tất cả mấy bạn" HS trả lời theo từng cách hỏi của giáo viên để rồi có phép cộng 6 + 3 = 9 Tới đây giáo viên gợi ý để học sinh tự nêu được 9 này là 9 bạn nên ta viết từ "bạn" vào trong dấu ngoặc đơn 6 + 3 = 9 ( bạn ) Có những trường hợp một số học sinh nhìn vào tranh ở sách giáo khoa để đếm ra kết quả. Vì vậy giáo viên cần xác nhận kết quả đúng song cần hỏi thêm " em tính thế nào ?" ( 6 + 3 + 9 ) sau đó giáo viên nhấn mạnh " Khi giải toán em cần phải nêu được phép tính để tìm ra đáp số nếu chỉ nêu đáp số thì chưa phải là giải toán". 2.Hướng dẫn học sinh đặt câu lời giải. Trong 3 bước giải bài toán có lời văn ( đặt câu lời giải, làm phép tính, viết đáp số ) thì đặt câu hỏi lời giải là khâu khó khăn nhất đối với học sịnh lớp 1. Giáo viên có thể dùng một trong các cách sau . Ví dụ bài toán ( trang 117 ) Cách 1. Dựa vào câu hỏi của bài toán rồi bỏ từ ( hỏi ) và từ ( mấy con gà ) để câu lời giải ; " nhà An có tất cả. hoặc thêm từ ( là )để có " nhà An có tất cảlà:" Cách 2. Dựa vào dòng cuối cùng của phần tóm tắt coi đó là ( từ khoá) của câu lời giải rồi thêm ví dụ; từ dòng của tóm tắt: " có tất cả.con gà ?" học sinh viết câu lời giải " nhà An có tất cả:" Cách 3. Đưa từ " con gà" ở cuói câu lên đầu thay thế từ" hỏi" và thêm từ " số" ở đầu câu, từ " là" ở cuối câu để có" số Gà nhà An có tất cả là". Cách 4. Giáo viên đưa câu hỏi miệng để học sinh giải được phép tính 5 + 4 = 9 ( con gà ) giáo viên chỉ vào số 9 và hỏi; 9 ở đây là gì ? ( là số gà nhà An có tất cả ) Từ câu trả lời của học sinh Giáo viên giúp các em chỉnh sửa thành câu lời giải; " số gà nhà An có tất cả là:" Cách 5. Giáo viên nêu câu hỏi miệng " nhà An có tất cả mấy con gà ?" để học sinh trả lời miệng: " nhà An có tất cả 9 con gà" rồi chèn phép tính vào để có cả bước giải: ( gồm câu lời giải và phép tính:) Nhà An có tất cả: 5 + 4 = 9 ( con gà ) Một số điều khác cần chú ý khi hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn. Trong quá trình hướng dẫn học sinh giải bài toán có lời văn giáo viên cần chú ý cho học sinh cách ghi danh số vào phép tính giải và cách ghi đáp số. Ví dụ: Bài 2 ( Trang 121 ) Ghi danh số" bức tranh" sau phép tính giải phải ở trong dấu ngoặc. 14 + 2 = 16 ( bức tranh ) Còn đáp số: 16 bức tranh thì không cần để danh số trong dấu ngoặc đơn nữa: Đáp số: 16 bức tranh. Trong khi hướng dẫn trình bày bài giải cần lưu ý để bài giải rõ ràng, sáng sủa - Giáo viên hướng dẫn cách trình bày bài giải như sau. Ví dụ: Bài 3 ( trang 124) Khi trình bày ta từ " bài giải" ra giữa phần giấy ta định trình bày bài giải - Viết câu lời giải ( tuỳ vào số tiếng trong câu ) sao cho cân đối với từ "bài giải". Viết đáp số sao cho tiếng " đáp" thẳng cột với tiếng 'bài" ở từ " bài giải" cụ thể: Bài giải. Hộp đó có tất cả là: 12 + 3 = 15 ( cái bút ) Đáp số: 15 cái bút. Không nên để học sinh trình bày bài giải theo kiểu: Hộp đó có tất cả là: 12 + 3 = 15 ( cái bút ) Đáp số: 15 cái bút IV. Kết quả. Với trách nhiệm của một người giáo viên trực tiếp dạy lớp 1 tôi mạnh dan j áp dụng. Những biện pháp trên với mong muốn học sinh đạt kết quả tốt hơn trong khi giải các bài toán có lời văn. Qua áp dụng thực tế tôi đã nhận thấy học sinh có nhiều tiến bộ rõ rệt so với kết quả khảo sát của năm trước phần lớn các em đã biết giải toán có lời văn. kết quả như sau. Năm học Số học sinh Số học sinh biết giải toán Số học sinh chưa biết giải toán ghi chú TS Tỉ lệ % TS Tỉ lệ % 2006 - 2007 13 8 61% 5 39% 2007 - 2008 17 14 82% 3 18% Với kết quả cho thấy rằng việc vận dụng đúng đắn phương pháp khi dạy học học sinh giải toán có lời văn thì phần lớn học sinh đều biết cách giải. Qua đó tôi đã rút ra cho mình những bài học kinh nghiệm sau nhằm giúp cho hiệu quả dạy học môn toánở lớp 1 được nâng cao. V. Bài học kinh nghiệm Sau khi học hết chương trình lớp 1. Về giải toán học sinh phải biết giải các bài toán đơn về thêm , bớt ( giải bằng một phép tính cộng hoặc trừ ) Và biết trình bày một bài giải gồm: câu lời giải, phép tính và đáp số. Việc dạy toán là một quá trình không nên vội vàng yêu cầu các em phải đọc thông để hiểu đề toán viết được câu lời giải, phép tính và đáp số để có được bài giair hoàn chỉnh ngay từ đầu tuần 2, 3 ,4,24 .Vì thế giáo viên cần bình tĩnh rèn cho học sinh từng bước để đến tuần 34, 35 học sinh hoàn thiện được cách giải và trình bày một bài toán có lời văn. Dạy học giải toán có lời văn ở lớp 1 chủ yếu là dạy học sinh phương pháp giải toán. Giáo viên không nên làm thay hoặc áp đặt cách giải trước khi cho học sinh suy nghĩ. Tìm tòi ra cách giải. Tránh tình trạng học sinh chỉ cố gắng tìm ra đáp số mà không hiểu quá trình tại sao lại tính được đáp số đó. Cần hình thànhcho học sinh một " quy trình" giải bài toán có lời văn. khuyến khích các em làm quen từng bước tự mình tìm ra cách giải bài toán tập chung vào ba bước cơ bản là: + Phân tích đề toán để biết bài toán cho biết gì ? ( giả thiết của bài toán ) bài toán hỏi gì ? ( kết lụân của bài toán) từ đó tự tóm tắt được bài toán. + trình bày bài giải ( diễn đạt . Bài toán gồm ba phần; Câu lời giải, phép tính và đáp số). *** Một số lưu ý. về phần tóm tắt bài toán yêu cầu học sinh tự đọc bài toán trong sách giáo khoa tìm hiểu bài toán rồi tự nêu hoặc tự tóm tắt bài toán. Trường hợp khó khăn giáo viên có thẻ hướng dẫn để học sinh quen dần với việc phân tích bài toán trước khi giải bài toán. Có thể tóm tắt bài toán bằng lời, việc cho học sinh biết tóm tắt bài toán là rất cần thiết trong quá trình dạy học giải tóan có lời văn ở lớp 1. Tuy nhiên giáo viên không nên ép học sinh phải có phần tóm tắt trong khi trình bày bài giải. Về viết câu lời giải trong phần bài giải, giáo viên phải kiên để học sinh tự diễn đạt câu trả lời bằng lời sau đó tập viết lời giải. Lúc đầu học sinh còn lúng túng, cách diễn đạt còn chưa hay nhưng đủ ý là được. Viết câu lời giải là khó khăn lớn nhất trong khi giải bài toán óc lời văn ở lớp 1. (Câu lời giải vừa phải đúng ý nghĩa toán học vừa phải đúng văn phạm tiếng việt mà với học sinh lớp 1 vừa học qua phần vần, đọc chưa thông, viết chưa thạo ) Do đó giáo vien cần cho học sinh tự trả lời miệng sau đó tập viết câu lời giải ( có thể làm nhiều lần, không nên vội vàng làm thay cho học sinh ). Về viết phép tính giải trong phàn bài giải. với lớp 1, học sinh chỉ giải các bài toán đơn là bài toán giải bằng một phép tính cộng hoặc trừ khi viết phép tính giải học sinh viết phân tích theo hàng ngang ở dưói câu lời giải tương ứng, tên đơn vị viết ở phần cuối, bên phải phép tính và để trong dấu ngoặc. ( ở phần đáp số, tên đơn vị không có dấu ngoặc ). Phần 3 Kết luận chung việc giải bài toán có lời văn cho học sinh lớp 1 là một việc không đơn giản, muốn các em học tốt phần này, đòi hỏi giáo viên phải rất nhiệt tình, sáng tạo, biết cách tổ chức các giờ học sao cho có hiệu quả. Bên cạnh đó, người giáo viên phải tự tìm tòi, phát hiện ra những cách dạy sao cho sự tiếp thu của học sinh đạt kết quả cao nhất. Giáo viên phải có kế hoạch cụ thể cả về các quy định đến phương pháp vận dụng sao cho phù hợp với từng đối tượng học sinh. Giáo viên chủ nhiệm phải nắm được hoàn cảnh từng đối tượng học sinh để có kế hoạch hỗ trợ, hướng dẫn các em học tốt, khuyến khích các em bằng sự hăng say, hứng thú học tập đạt kết quả cao. Giáo viên ngoài giờ lên lớp cần phải kết hợp với phụ huynh học sinh, hỗ trợ phụ huynh học sinh những phương pháp hướng dẫn giải bài toán cho các con em mình ở nhà góp phần giúp các em khi đến lớp học được rễ ràng hơn. Qua mỗi dạng toán giáo vien cần có kiểm tra đúc rút kinh nghiệm trong giảng dạy và đề ra biện pháp thực hiện tiếp theo để nâng cao chất lưọng dạy và học. Về bản thân tôi sẽ cố gắng học hỏi, tham khảo tài liệu tìm biện pháp tốt hơn nữa để giúp học sinh học tốt môn toán lớp 1 không những phàn giải toán có lời văn mà ở cả các phần khác nữa nhằm nâng cao hiệu qủa dạy học môn toán nói riêng và các môn học khác nói chung. Chiềng lương, ngày.. tháng..năm 2007 Xác nhận của nhà trường Người thực hiện Ngày.tháng..năm 2007 (Họ và tên và chữ ký ) Hiệu trưởng Giáo dục - Đào tạo Mai Sơn Trường Tiêủ học chiềng lương 2 Đề tài Nghiên cứu khoa học về nghiệp vụ sư phạm "Sáng kiến kinh nghiệm hướng dẫn học sinh giải bài toán có lời văn Lớp 1" ơ Chủ đề tài: : Dương Hương Lan

Bạn đang đọc nội dung bài viết Sáng Kiến Kinh Nghiệm Ôn Luyện Giải Toán Về Đoạn Thẳng Trong Hình Học Lớp 6 trên website Asianhubjobs.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!