Đề Xuất 1/2023 # Skkn Rèn Luyện Kĩ Năng Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 2 # Top 2 Like | Asianhubjobs.com

Đề Xuất 1/2023 # Skkn Rèn Luyện Kĩ Năng Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 2 # Top 2 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Skkn Rèn Luyện Kĩ Năng Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 2 mới nhất trên website Asianhubjobs.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI: 1. Xuất phát từ vị trí tầm quan trọng của môn Toán trong trường tiểu học. Bậc tiểu học là bậc học góp phần quan trọng trong việc đặt nền móng cho việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh. Môn Toán cũng như những môn học khác cung cấp những tri thức khoa học ban đầu, những nhận thức về thế giới xung quanh nhằm phát tiển năng lực nhận thức, hoạt động tư duy và bồi dưỡng tình cảm tốt đẹp của con người. Môn Toán ở trường tiểu học là một môn độc lập, chiếm phần lớn thời gian trong chương trình học của trẻ. Môn Toán có tầm quan trọng to lớn. Nó là bộ môn khoa học nghiêm cứu có hệ thống, phù hợp với hoạt động nhận thức tự nhiên của con người Môn Toán có khả năng giáo dục rất lớn trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận lô gíc, thao tác tư duy cần thiết để con người phát triển toàn diện, hình thành nhân cách tốt đẹp cho con người lao động trong thời đại mới. Để góp phần tạo ra những con người thông minh, sáng tạo, giàu ý chí và nghị lực, vững tin vào bàn tay, khối óc của mình, người thầy giáo phải coi trọng việc rèn luyện kĩ năng tư duy độc lập cho học sinh qua các môn học nói chung, qua môn toán nói riêng và đặc biệt là qua học giải toán có lời văn. 2. Xuất phát từ ý nghĩ của việc dạy giải toán có lời văn. Giải toán là mạch kiến thức hết sức quan trọng, chính vì thế, nó được sắp xếp xen kẽ với các mạch kiến thức cơ bản khác của môn toán ở bậc tiểu học. Giải toán ở bậc tiểu học giúp học sinh vừa thực hiện nhiệm vụ củng cố kiến thức toán học đã lĩnh hội, đồng thời vận dụng kiến thức ấy vào giải các bài toán gắn với tình huống thực tiễn. Qua giải toán tạo điều kiện giúp các em phát triển trí thông minh tư duy độc lập, khả năng suy luận hợp lý và diễn đạt đúng (nói và viết), cách phát hiện và cách giải quyết các vấn đề đơn giản, gần gũi trong cuộc sống, kích thích trí tưởng tượng cho các em, góp phần hình thành bước đầu phương pháp tự học và làm việc có kế hoạch, khoa học, chủ động, linh hoạt sáng tạo. Đối với học sinh lớp Hai, các em mới làm quen với giải toán có lời văn (các em đã được học ở lớp Một nhưng rất ít) nên người thầy phải hết sức chú trọng để trang bị cho các em một số kiến thức và kĩ năng cơ bản trong giải toán để các em có thể học tốt hơn môn toán. Xuất phát từ những lí do trên, tôi đã nghiên cứu tài liệu, học hỏi, tham khảo bạn bè đồng nghiệp và qua thực tế giảng dạy tôi đã rút ra một số kinh nghiệm nhỏ trong việc “Rèn luyện kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 2” và đã viết nên đề tài này. II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU. – Tìm hiểu nội dung, chương trình và những phương pháp dùng để giảng dạy toán có lời văn. – Tìm hiểu những kĩ năng cơ bản cần trang bị để phục vụ việc giải toán có lời văn cho học sinh lớp 2. – Giúp học sinh luyện tập, củng cố, vận dụng các kiến thức và thao tác thực hành các kiến thức đã học; rèn luyện kỹ năng tính toán là bước tập dượt vận dụng kiến thức và rèn luyện kỹ năng thực hành vào thực tiễn. – Giúp học sinh từng bước phát triển năng lực tư duy, rèn luyện phương pháp và kỹ năng suy luận, khơi gợi và tập dượt khả năng quan sát, phỏng đoán, tìm tòi. – Rèn luyện cho học sinh những đức tính và phong cách làm việc của người lao động như: tư duy, cẩn thận, nhanh nhẹn, cụ thể….. – Khảo sát và hướng dẫn cụ thể một số bài toán giải, một số dạng toán có lời văn ở lớp 2, để từ đó đúc rút kinh nghiệm cho bản thân, và đề xuất một số ý kiến nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học giải toán có lời văn. III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU. – Đối tượng: Học sinh lớp 2B, Trường Tiểu học……. – Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 09/2016 đến tháng 2/2017 VI. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. a. Phương pháp quan sát: Nhận thức của trẻ từ 6 đến 11 tuổi còn mang tính cụ thể, gắn với các hình ảnh và hiện tượng cụ thể, trong khi đó kiến thức của môn Toán lại có tính trừu tượng và khái quát cao. Sử dụng phương pháp này giúp học sinh có chỗ dựa cho hoạt động tư duy, bổ sung vốn hiểu biết, phát triển tư duy trừu tượng. Đối với học sinh lớp 2, việc sử dụng đồ dùng trực quan nhiều hơn. Ví dụ: Khi dạy giải toán ở lớp 2, giáo viên có thể cho học sinh quan sát mô hình hoặc hình vẽ, sau đó hướng dẫn các em lập tóm tắt đề bài rồi mới đến bước chọn phép tính. b. Phương pháp điều tra, khảo sát: Điều tra, khảo sát khả năng giải toán có lời văn của học sinh khối lớp 2 Trường Tiểu học……. c. Phương pháp phân tích, đàm thoại: Đây là phương pháp cần thiết và thích hợp với học sinh ở tiểu học, rèn luyện cho học cách suy nghĩ, cách diễn đạt bằng lời, tạo niềm tin và khả năng học tập của từng học sinh. Để sử dụng tốt phương pháp này, giáo viên cần lựa chọn hệ thống câu hỏi chính xác và rõ ràng, nhờ thế mà học sinh có thể nắm được ngay nội dung kiến thức từ đầu và giúp các em dễ dàng trả lời các câu hỏi. d. Phương pháp thực hành và luyện tập: Sử dụng phương pháp này thực hành luyện tập kiến thức, kĩ năng giải toán từ đơn giản đến phức tạp. Trong quá trình học sinh luyện tập, giáo viên có thể phối hợp các phương pháp như: Gợi mở, vấn đáp và giảng giải minh hoạ. PHẦN 2. NỘI DUNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN. Dạy học toán ở tiểu học nhằm giúp học sinh biết cách vận dụng những kiến thức về toán vào các tình huống thực tiễn, đa dạng, phong phú, những vấn đề thường gặp trong cuộc sống. Mạch kiến thức giải toán có lời văn được sắp xếp xen kẽ với các mạch kiến thức cơ bản khác trong môn Toán lớp 2. giải toán có lời văn giúp học sinh vừa thực hiện nhiệm vụ củng cố kiến thức toán học đã lĩnh hội đồng thời vận dụng kiến thức ấy vào giải các bài toán gắn liền với tình huống thực tiễn. Học sinh tự giải được các bài toán có lời văn là một yêu cầu cơ bản của dạy toán học. Vì vậy, việc dạy học giải toán có lời văn cho học sinh tiểu học có vai trò hết sức quan trọng trong việc dạy học toán. Nhờ giải toán, học sinh có điều kiện rèn luyện và phát triển năng lực tư duy, rèn luyện phương pháp suy luận và những phẩm chất cần thiết của người lao động mới. Vì vậy giải toán là một hoạt động bao gồm những thao tác: Xác lập mối quan hệ giữa các dữ liệu, giữa các đã cho với cái cần tìm, trên cơ sở đó chọn được phép tính thích hợp và trả lời đúng câu hỏi của bài toán. Dạy học giải toán giúp học sinh tự phát hiện, giải quyết vấn đề, tự nhận xét, so sánh, phân tích, tổng hợp, rút ra các quy tắc ở dạng khái quát nhất định. Như vậy đây là một loại toán khó đối với học sinh tiểu học bởi ở lứa tuổi này các em chưa tiếp xúc nhiều với cuộc sống, bản chất của các em còn rất hồn nhiên và ngây thơ, sự chú ý của các em còn hướng ra bên ngoài chưa có khả năng hướng vào bên trong, vào tư duy, vào trí nhớ lô gíc, trí nhớ máy móc cũng dễ dàng đối với các hiện tượng hình ảnh cụ thể hơn là các câu chữ trừu tượng, khô khan. Để giúp học sinh giải toán có lời văn theo hướng tích cực giáo viên cần giúp học sinh tự mình tìm hiểu được các mối quan hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm, mô tả mối quan hệ đó bằng cấu trúc phép tính cụ thể, thực hiện phép tính, trình bày lời giải của bài toàn. Để đạt được mục tiêu trên, giáo viên phải thực hiện được các yêu cầu sau: Tổ chức cho học sinh hoạt động nắm vững các khái niệm toán học, cấu trúc phép tính, các thuật ngữ…(chuẩn bị cho học sinh giải toán). Tổ chức cho học sinh thực hiện giải toán. Tổ chức rèn kĩ năng giải toán. Rèn luyện năng lực khái quát hóa giải toán. II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Qua thực tế dạy học từ Trường Tiểu học, bằng việc dự giờ, thăm lớp, trao đổi giờ dạy và rút ra kinh nghiệm giờ dạy của các đồng nghiệp cho thấy. 1. Về phía giáo viên Đa số giáo viên đã biết hướng dẫn cho học sinh nắm bắt được cách giải bài toán có lời văn theo các bước giải nhưng thống nhất theo một trình tự chặt chẽ, đôi lúc làm tắt, bỏ qua một số bước ( Ví dụ: không cho hoc sinh tóm tắt bài toán, không cho học sinh xác định dạng bài, kiểu bài…) Một bộ phận giáo viên chưa linh hoạt trong cách hướng dẫn học sinh giải bài toán, chưa biết cách hướng dẫn học sinh khai thác đề bài để định hướng cách làm bài 2. Về phía học sinh Học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 2 nói riêng, đa số các em là thích học toán nhưng lại rất ngại những bài toán có lời văn vì đối với dạng bài này bắt buộc các em phải tư duy, trình bày nhiều hơn. Mặt khác, vì mới học lớp 2 nên vốn ngôn ngữ của các em còn hạn chế, đầu năm học có em còn đọc chưa thạo, có em đọc được nhưng còn chưa hiểu vì vậy khi giải các bài toán có lời văn, lời giải chưa gọn, có khi còn thiếu chính xác, chưa liên hệ được những điều đã biết, điều cần tìm trong bài để có phép tính đúng. Khảo sát chất lượng: Đầu năm, sau khi nhận lớp, tôi bắt tay ngay về tìm hiểu đối tượng học sinh, tôi nhận thấy lớp 2B các em có lực học khá đồng đều, nhưng đối với giải toán có lời văn các em vẫn còn hơi yếu: Kết quả khảo sát đầu năm: Sĩ số Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành 21 SL TL SL TL SL TL 10 47,6% 8 38% 3 14,4% Trong đó đối với bài toán giải: Số học sinh sai về lời giải là 5 em = 23,8% Số học sinh sai về phép tính là 8 em = 38% Số học sinh sai về đơn vị là 3 em = 14,4% Nguyên nhân: Sau khi khảo sát, tìm hiểu thực tiễn tôi thấy có những nguyên nhân như sau: 1. Do học sinh không đọc kĩ đề bài nên không nắm vững được những điều đã biết, những điều cần tìm trong bài toán dẫn đến chưa định hướng được cách làm bài. 2. Học sinh chưa biết cách tóm tắt bài toán. 3. Học sinh không nắm vững câu hỏi của bài nên không xác định được dạng bài. 4. Có học sinh không biết dựa vào câu hỏi để tìm lời giải. 5. Có học sinh chưa nắm vững cách trình bày bài giải. 6. Học sinh không có thói quen kiểm tra lại bài sau khi làm bài xong. III. MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN CHO HỌC SINH LỚP 2 A. Các bước thực hiện giải bài toán có lời văn: Khi hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn, GV phải giúp học sinh tự mình tìm hiểu mối quan hệ giữa cái đã biết và cái cần tìm, mô tả quan hệ đó bằng tóm tắt bài toán, bằng câu lời giải, bằng phép tính cụ thể. Xuất phát từ định hướng trên, khi dạy các bài toán có lời văn tôi tổ chức cho học sinh thực hiện các bước giải toán cụ thể như sau: 1. Đọc và tìm hiểu bài toán: Trong các bước giải toán theo tôi bước này là bước quan trọng nhất để giúp các em xác định được cách giải bài toán đó cụ thể như thế nào? Bước này tập trung cao độ tư duy của học sinh để lập được mối tương quan giữa các đại lượng. Giáo viên là người giúp đỡ học sinh hiểu rõ một số từ quan trọng như “thêm, hơn, kém, bớt, gấp, chia,…”; “còn lại, có tất cả,…” Ở đây giáo viên giúp học sinh biết suy luận: Muốn tìm cái chưa biết thì phải dựa vào thông tin đã biết. Để làm được điều đó cần thực hiện qua các bước: Bước 1: Đọc bài toán (đọc to, đọc nhỏ, đọc thầm, đọc bằng mắt). Bước 2: Tìm hiểu một số từ, thuật ngữ quan trọng để hiểu nội dung, nắm được mối quan hệ giữa những điều đã biết và những điều cần tìm trong bài toán. Xác định được kiểu bài, dạng bài. Thông thường đề bài của bài toán có lời văn bao gồm có 2 phần đó là: Điều đã biết; điều cần tìm. Giáo viên hướng dẫn cho học sinh nhận biết: Điều đã biết thường bắt đầu bằng từ “ có” Điều cần tìm thường bắt đầu bằng từ “ Hỏi” hay từ “ Tính” Ngoài ra trong đề toán còn nêu ra mối quan hệ giữa điều đã biết và điều cần tìm. Vì vậy muốn tìm hiểu được đề của bài toán yêu cầu học sinh phải đọc kĩ đề bài (3 lần trở lên). Tìm hiểu xem bài toán cho biết những gì, bài toán hỏi gì? Liên hệ với những điều đã học để xác định dạng bài. Ví dụ: Bài tập 4 (Trang 57 – SGK) Cửa hàng có 13 xe đạp, đã bán 6 xe đạp. Hỏi cửa hàng còn lại mấy xe đạp? Tìm hiểu, phân tích bài toán ta có thể có các cách như sau: Cách 1: GV hỏi HS: + Bài toán đã cho biết gì? (Cửa hàng có 13 xe đạp, đã bán 6 xe đạp.) + Bài toán hỏi gì? (Hỏi cửa hàng còn lại mấy xe đạp?) Cách 2: Bước 1: Giáo viên yêu cầu học sinh đọc thầm đề bài, dùng bút chì gạch một gạch dưới điều đã cho biết và hai gạch dưới điều cần tìm. Bước 2: + Học sinh cả lớp cùng hoạt động sau đó nêu ý kiến của mình hoặc lên bảng thực hiện những điều mà giáo viên yêu cầu. + Giáo viên cho một vài học sinh nêu lại điều đã biết và điều cần tìm. GV nhấn mạnh các từ có, đã bán, còn lại để học sinh nhận dạng được bài toán). Qua 2 cách làm trên cho ta thấy: Cách 1: Phân tích rất cụ thể, phù hợp với các đối tượng học sinh lớp 2. Tuy vậy cách phân tích đó nếu lập lại nhiều lần sẽ dập khuôn, máy móc, nhàm chán. Học sinh không phát huy được tính tích cực, chủ động, có em còn ỷ lại cho bạn hoặc chỉ thụ động làm theo ý bạn hay cô giáo nêu ra. Cách 2: Giúp học sinh có kỹ năng biết phân tích bài toán tốt hơn, đọc kỹ đề bài hơn và chủ động, tích cực hơn. Phân tích bài toán theo cách 2 đối với HS lúc đầu có vẻ khó, các em làm hơi chậm nhưng điều quan trọng là rèn luyện cho học sinh có thói quen đọc kỹ đề bài trước khi làm bài. Mỗi cách đều có những mặt tích cực và hạn chế, giáo viên cần linh hoạt vận dụng để hướng dẫn học sinh sao cho đạt hiệu quả cao nhất. 2. Tìm cách giải bài toán: * Tóm tắt bài toán: Dựa vào những điều đã biết, những điều cần tìm để viết tóm tắt bài toán bằng ngôn ngữ toán học (Tóm tắt bằng lời, tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng, sơ đồ ven). Ví dụ: * Tóm tắt bằng lời: Bài tập 4 (Trang 57 – SGK) Cửa hàng có 13 xe đạp, đã bán 6 xe đạp. Hỏi cửa hàng còn lại mấy xe đạp? Hướng dẫn HS đọc đề bài, nêu những điều đã biết (Có 13 xe đạp, đã bán 6 xe đạp ), những điều cần tìm (cửa hàng còn lại mấy xe đạp), chọn lọc những từ ngữ quan trọng (Có, đã bán, còn lại) để tóm tắt bài toán: Tóm tắt: Có : 13 xe đạp Bán : 6 xe đạp Còn lại :.. xe đạp? * Tóm tắt bằng hồ sơ đoạn thẳng Bài 2: (Trang 24 – SGK) Nam có 10 viên bi, Bảo có nhiều hơn Nam 5 viên bi. Hỏi Bảo có bao nhiêu viên bi? Hướng dẫn HS cách tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng như sau: Yêu cầu học sinh đọc thầm đề bài, dùng bút chì gạch một gạch dưới điều đã cho biết và 2 gạch dưới điều cần tìm. Sau đó tôi hỏi HS: Nam có bao nhiêu viên bi? (Nam có 10 viên bi), vậy ta biểu thị số bi của Nam bằng 1 đoạn thẳng. 10 viên bi Số bi của Bảo như thế nào so với số bi của Nam? (Bảo có nhiều hơn Nam 5 viên bi). Muốn biểu diễn số bi của Bảo ta phải vẽ đoạn thẳng như thế nào? (Đoạn thẳng dài hơn đoạn thẳng biểu diễn số bi của Nam). – Phần dài hơn đó tương ứng với bao nhiêu viên bi? (5 viên bi). – GV vẽ tiếp đoạn thẳng biểu diễn số bi của Bảo. – Vậy bài toán hỏi gì? (Hỏi Bảo có bao nhiêu viên bi?). 10 viên bi 5 viên bi Sau khi phân tích rõ ràng như trên tôi hướng dẫn học sinh vẽ tóm tắt: Nam Bảo ? viên bi * Cho học sinh diễn đạt bài toán thông qua tóm tắt: Cho HS dựa vào tóm tắt nêu lại vắn tắt nội dung của bài toán. * Lập kế hoạch giải bài toán: Xác định trình tự giải bài toán: thông thường xuất phát từ câu hỏi của bài toán đi đến các yếu tố đã cho với yêu cầu bài toán phải tìm và tìm được đúng phép tính số học thích hợp. 3. Tìm lời giải. Học sinh dựa vào câu hỏi của bài để tìm lời giải cho bài toán. (Giáo viên giải thích cho học sinh hiểu câu trả lời giải chính là câu trả lời cho câu hỏi trong bài – Vì lớp 2 giải toán đều là các bài toán đơn). Vậy để giúp học sinh tìm ra câu trả lời nhanh và đúng nhất, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh đặt câu lời giải như sau: Cách 1: Dựa vào câu hỏi của bài toán. Ví dụ: Hỏi Bảo có bao nhiêu viên bi? Bỏ bớt chữ “Hỏi”, cụm từ “bao nhiêu” thay bằng từ “số”, thêm từ “là” vào cuối câu được câu lời giải: “Bảo có số viên bi là”. Đây là cách đơn giản, học sinh dễ nắm bắt nhất. Cách 2: Cũng ví dụ trên, đưa từ “viên bi” ở cuối câu hỏi lên đầu câu hỏi thay cho chữ “Hỏi” và thêm chữ “số” ở đầu câu, cuối câu thêm chữ “là” để được câu trả lời: “Số viên bi Bảo có là:”. Cách 3: Giáo viên nêu miệng câu hỏi: “Bảo có bao nhiêu viên bi? để học sinh trả lời miệng: “ Bảo có 15 viên bi” rồi chèn phép tính vào để có các bước giải (gồm cả lời giải và cả phép tính). Bảo có số viên bi là: 10 + 5 = 15 (viên bi) Cách 4: Sau khi học sinh nêu phép tính: 10 + 5 = 15 (viên bi), giáo viên chỉ vào 15 và hỏi: “15 viên bi” ở đây là số bi của ai? (là số bi của Bảo). Từ câu trả lời của các em ta giúp học sinh chỉnh sửa thành câu lời giải: “Số bi của Bảo là”: 4. Xác định đơn vị bài giải: Cách xác định đơn vị của bài toán: Muốn xác định được đơn vị của bài toán phải giúp học sinh trả lời được câu hỏi xem bài toán yêu cầu tìm gì? Giáo viên gạch dưới đơn vị của bài. Giáo viên hướng dẫn tìm cụ thể một vài bài để học sinh định hướng và dần dần xác định được đơn vị của bài toán. Vì bài toán có lời văn của lớp 2 chỉ là những bài toán đơn nên tôi có một mẹo nhỏ giúp HS xác định đúng đơn vị bài toán đó là khi đọc câu hỏi sau từ: bao nhiêu hay từ mấy là từ gì thì đó chính là đơn vị của bài giải. 5. Thực hiện cách giải và trình bày bài giải. Đây là bước cụ thể, cụ thể hóa của quá trình tư duy trên, nó thể hiện rõ nét kỹ năng, kỹ xảo giải bài tập của học sinh, Học sinh dựa vào sơ đồ phân tích trên để viết bài giải, nó được chuyển dịch tư duy ngược lại khi phân tích. – Thực hiện các phép tính đã xác định (có thể viết phép tính sau khi viết câu lời giải và thực hiện phép tính). – Viết câu lời giải. – Viết phép tính tương ứng. – Viết đáp số. – Tôi hướng dẫn học sinh trình bày bài giải vào vở ô li như sau: + Lùi vào 5 ô so với lề để viết Bài giải. + Viết câu lời giải cân đối với từ Bài giải (thường là lùi vào 2 ô so với lề). + Viết phép tính lùi vào 2 ô so với lời giải. + Viết đáp số lùi vào thẳng với từ bài giải. Ví dụ: Bài giải Số học sinh trong lớp học đó là: 14 + 16 = 30 (học sinh) Đáp số: 30 học sinh Cách trình bày bài giải đối với học sinh lớp 2 cũng rất quan trọng. Giáo viên cần rèn cho học sinh có con mắt thẩm mĩ trong cách trình bày bài, rèn cho các em có thói quen trình bày bài khoa học và đẹp để sau này khi lên các lớp trên các em không còn lúng túng khi trình bày bài giải. 6. Kiểm tra bài giải: Kiểm tra số liệu, kiểm tra tóm tắt, kiểm tra phép tính, kiểm tra câu lời giải, kiểm tra kết quả cuối cùng có đúng với yêu cầu. Tóm lại: Trong quá trình dạy dạng toán có lời văn, giáo viên cần lưu ý: – Luôn luôn củng cố các bước giải toán. Vì nếu trong quá trình giải toán, học sinh không nắm được các bước giải một bài toán thì học sinh sẽ không có cách giải hay, nhanh nhất và đúng nhất. – Giúp học sinh nắm vững, ghi nhớ được các bảng cộng, trừ, nhân, chia. để áp dụng vào phép tính trong bài toán có lời văn. Vì nếu không thuộc bảng cộng, trừ, nhân, chia. không biết cách tính nhẩm thì không tránh khỏi sai sót kết quả của bài toán. B. Các ví dụ: Trong chương trình Toán 2 có các dạng toán giải sau: 1. Giải các bài toán đơn về phép cộng và phép trừ. 2. Bài toán về nhiều hơn, ít hơn một số đơn vị. 3. Giải các bài toán đơn về phép nhân và phép chia. Tôi có hướng dẫn học sinh ở mỗi dạng bài như sau: 1. Dạng bài toán có phép tính cộng Học sinh cần đọc kỹ đề bài, tìm hiểu các từ ngữ trong bài để xác định hướng giải của bài toán. Dạng này giáo viên hướng dẫn HS dựa vào một số từ ngữ để xác định dạng bài như: Ở phần “cho biết” thường có các từ “và”, “thêm”, phần cần tìm thường có các cụm từ “Hỏi có tất cả”, “hỏi cả hai 2 buổi”, “hỏi cả hai bạn”. Ví dụ 1: Bài tập 4 (Trang 14). Một lớp học có 14 học sinh nữ và 16 học sinh nam. Hỏi lớp học đó có tất cả bao nhiêu học sinh? – Giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện theo các bước: Giáo viên cho học sinh đọc thành tiếng, đọc thầm. Em hãy gạch 1 gạch dưới tất cả những điều

Rèn Luyện Kĩ Năng Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 1

Giáo viên sử dụng linh hoạt các phương pháp phù hợp với từng đối tượng học sinh, luôn nhiệt tình quan tâm giúp đỡ học sinh trong những tiết học toán buổi sáng và tiết buổi chiều, nhằm giúp học sinh có kỹ năng giải toán có lời văn: trình tự để giải một bài toán có lời văn như sau:

+ Bài toán đã cho biết những gì?

+ Bài toán hỏi gì ? (tức là bài toán đòi hỏi phải tìm gì?).

+ Thực hiện phép tính để tìm điều chưa biết nêu trong câu hỏi.

+ Trình bày bài giải (nêu câu lời giải, phép tính để giải bài toán, đáp số).

Muốn học sinh giải được bài toán theo mục tiêu đề ra gồm các bước sau:

Giáo viên nên ” Ta viết bài giải của bài toán như sau” giáo viên ghi bài giải lên bảng.

+ Viết câu lời giải : giáo viên hướng dẫn học sinh dựa vào câu hỏi để nêu câu lời giải.

Học sinh nêu câu lời giải theo nhiều cách. Học sinh chọn câu lời giải thích hợp nhất. Giáo viên ghi lên bảng.

+ Viết phép tính : Giáo viên hướng dẫn học sinh viết phép tính ( tên đơn vị đặt trong dấu ngoặc).

+ Viết đáp số.

+ Sau khi làm xong cho học sinh đọc lại bài giải vài lượt. Giáo viên chỉ vào từng phần của bài giải, nêu lại để nhẫn mạnh. Khi giải bài toán ta trình bày bài giải như sau:

Khi học sinh học toán đến tuần 22 tiết 84: LUYỆN TẬP.

Bài 1 (trang 121): Trong vườn có 12 cây chuối, bố trồng thêm ba cây chuối. Hỏi trong vườn có bao nhiêu cây chuối?

Giáo viên cho học sinh tự đọc bài toán, quan sát hình vẽ sách giáo khoa (trang 121). Giáo viên cho học sinh điền số thích hợp vào chỗ chấm rồi nêu lại tóm tắt.

Muốn cho học sinh cả lớp nêu được tóm tắt bài toán hoặc viết được số thích hợp vào chỗ chấm giáo viên gọi 1 đến 2 học sinh khá giỏi nêu trước (chú ý học sinh cả lớp nhẩm theo và giữ trật tự, khoanh tay lên bàn lắng nghe bạn, xong giáo viên gọi đến những học sinh trung bình, yếu, kém. Tất cả học sinh cả lớp đều hiểu và điền được số thích hợp vào chỗ chấm ở phần tóm tắt. Sau đó phần nêu câu lời giải. Muốn có kỹ năng nêu được câu lời giải học sinh phải hiểu bài toán (ở đây là câu trả lời của câu hỏi trong bài toán). Giáo viên khuyến khích học sinh tự nêu, nên cho học sinh trao đổi ý kiến, lựa chọn câu lời giải thích hợp nhất. Em khá giỏi nêu trước, sau đó em học sinh trung bình, yếu, kém, nêu sau. Mỗi em đứng dậy nêu theo ý mình. Em khác bổ sung, giáo viên kết luận.

Gọi học sinh lên ghi câu lời giải:

Trong vườn có tất cả số cây chuối là:

Học sinh viết phép tính: 12+3=15 (cây)

Học sinh viết: Đáp số : 15 cây chuối

Toàn bộ bài giải là:

Số cây chuối trong vườn có tất cả là:

Việc rèn kĩ năng giải toán có lời văn lớp 1 cho các em học sinh không phải ngày một ngày hai mà các em đã có kĩ năng giải ngay được mà phải một thời gian khá giài các em mới có kĩ năng. Phải liên tục lập đi lập lại nhiều lần. Kĩ năng không phải tự nhiên mà có nó được hình thành qua quá trình rèn luyện. Bộ óc các em mới chai sạn lưu lại những hình ảnh trong đầu các em. Chú ý khi giáo viên rèn kĩ năng giải toán có lời văn thì học sinh tự : thêm hay bớt, “thêm” làm phép tính “cộng”. Hay lưu ý học sinh phần hỏi bài toán.Ví dụ: Hỏi trong vườn có tất cả bao nhiêu cây chuối? Lưu ý từ “tất cả” là gộp lại nên ta làm phép tính cộng. Từ những cái lưu ý vậy học sinh nhớ lâu, nhớ sâu, nhớ kĩ, từ đó hình thành kĩ năng giải toán cho học sinh. Những bài toán khác tương tự, giáo viên hướng dẫn sau đó các em tự đọc lại đề toán rồi tự giải. Giáo viên kiểm tra, đánh giá kết quả đúng, sai.

Sang dạng bài toán khác ví dụ: Tuần 23 bài 2/123 (SGK). Giải bài toán theo tóm tắt sau:

Cả hai đoạn thẳng :…cm

Dạng bài này đại đa số các em làm được nhưng hoc sinh khi viết phép tính, kết quả các em hay ghi: 5+3=8 (đoạn thẳng) như vậy là sai. Nên khi hướng dẫn các em giải giáo viên lưu ý: Khuyến khích học sinh nêu bài toán dựa vào tóm tắt. Chẳng hạn: đoạn thẳng AB dài 5cm, đoạn thẳng BC dài 3cm. Hỏi cả hai đoạn thẳng dài bao nhiêu xăng ti mét?

Khi giải cho học sinh nêu yêu cầu: Giải bài toán theo tóm tắt sau.

Học sinh tóm tắt : Sau đó thực hiện giải theo các bước đã học.

Lưu ý học sinh không cần viết kèm cm vào số 5 và số 3 trong phép cộng 5+3 mà viết cm trong ngoặc đơn ở bên phải kết quả của phép cộng đó.

Cả hai đoạn thẳng có độ dài là:

Đến phần giải toán có lời văn (tiếp theo). Phần này cũng như phần trước nhưng giáo viên lưu ý học sinh là: Củng cố về kĩ năng giải và trình bày bài giải bài toán có lời văn ( bài toán về phép trừ).

+ Bài toán đã cho biết những gì?

+ Bài toán đòi hỏi phải tìm gì?

+ Thực hiện phép tính để tìm hiểu điều chưa biết nêu trong câu hỏi.

+Trình bày bài giải.

Cách hướng dẫn và phương pháp giải tương tự như giải toán có lời văn phần trước giáo viên lưu ý học sinh một từ đó là “bán đi, bay đi, bớt đi”, “còn lại” là làm phép tính trừ.

: Cửa hàng có 15 búp bê, đã bán đi 2 búp bê. Hỏi của hàng còn lại bao nhiêu búp bê?

Sau khi ghi bài toán lên bảng giáo viên hướng dẫn học sinh cách giải. Sau đó hình thành kĩ năng giải toán cho học sinh bằng các bước sau:

– Giáo viên nêu câu hỏi giúp học sinh phân tích đề toán.

+ Bài toán cho biết gì?

Cửa hàng có 15 búp bê, bán đi hai búp bê.

+ Bài toán hỏi gì ?

Cửa hàng còn lại bao nhiêu búp bê?

Cửa hàng còn lại số búp bê là:

Cứ như vậy giáo viên hình thành cho học sinh cách giải bài toán có lời văn theo chình tự các bước. Tất cả các bài sau tương tự lưu ý cho học sinh các từ “thêm”, “bớt”, “tất cả”, “còn lại” để làm các phép tính cộng trừ cho đúng. Lưu ý tiếp theo là câu lời giải chữ cái đầu câu phải viết hoa, cuối câu có hai dấu chấm trên và dưới “:”.

Ngoài ra giáo viên cho học sinh tập ra đề toán phù hợp với một phép tính đã cho, để các em tập tư duy ngược, tập phát triển ngôn ngữ, tập ứng dụng kiến thức vào các tình huống thực tiến.

Nhắc các em lưu ý câu lời giải không yêu cầu các em phải theo mẫu như nhau. Đặt câu lời giải theo ý hiểu của mình nhưng phải đúng với bài toán đề ra.

Tôi phân loại học sinh trong lớp thành những nhóm đối tượng sau:

Nhóm 1: Gồm những học sinh yếu, kém.

Nhóm 2: Gồm những học sinh trung bình.

Nhóm 3: Gồm những học sinh khá giỏi.

Như vậy trong lớp có ba nhóm đối tượng tôi có thể thay tên nhóm 1, 2, 3 thành tên khác như A, B, C. Trong quá trình dạy vẫn lấy chuẩn làm thước đo các tiết buổi sáng, buổi chiều tôi yêu cầu các em thực hiện thực hiện theo ba mức khác nhau.

Ví dụ 1: Nhóm 1 gồm những em học sinh yếu, kém thì nên luyện các em giải toán nhiều hơn đọc miệng. Sau khi giáo viên hướng dẫn xong gọi nhóm 3 đọc bài toán trước nhóm 2 đọc sau đến nhóm 1 đọc, cuối cùng khi nào cả lớp thuộc bài toán mới thôi. Phần tóm tắt bài toán cũng vậy học sinh khá giỏi làm trước, học sinh trung bình, yếu, kém làm sau chủ yếu luyện ở tiết buổi chiều khi nào các em thành thục mới thôi.

Ví dụ 2: Tiết buổi chiều sau khi các học sinh làm hết các bài tập trong sách giáo khoa, trong vở bài tập toán 1 tập II. Giáo viên cho bài toán khác ngoài sách giáo khoa và vở bài tập với dạng tương tự để học sinh giải vào vở 5 ô li ở tiết buổi chiều.

Ví dụ 3: Bài toán: Nhà Biển có 5 con bò, bố mua thêm 2 con nữa. Hỏi nhà Biển có bao nhiêu con bò?

Giáo viên ghi bài toán lên bảng. Học sinh đọc bài toán và trả lời.

– Hỏi đây là bài toán gì? Bài toán có lời văn.

– Hỏi thông tin cho biết gì? Có 5 con bò mua thêm 2 con bò.

– Hỏi câu hỏi là gì? Hỏi nhà biển có tất cả mấy con bò.

Gọi một học sinh lên bảng tóm tắt bài toán, học sinh khác tóm tắt vào vở 5 ô li. Giáo viên gọi học sinh khác nhận xét bạn tóm tắt trên bảng đúng hay sai. Giáo viên kết luận đúng sai, hỏi xem các em ở dưới lớp tóm tắt bài toán có giống bạn tóm tắt trên bảng không? Nếu bạn nào sai thì sửa.

Sau đó đến phần bài giải. Gọi học sinh xung phong giải (tương tự): một em lên giải bài trên bảng lớp. Học sinh cả lớp giải vào vở 5 ô li. Học sinh dưới lớp nhận xét bài giải đúng hay sai giáo viên nhận xét rồi hỏi học sinh cả lớp giải có giống bạn giải trên bảng không, nếu em nào sai thì sửa.

Giáo viên ghi điểm tuyên dương khen ngợi em giải trên bảng, nếu em đó giải đúng. Sau đó gọi một số en học yếu, kém đọc lại tóm tắt và giải bài giải:

Nhà biển có tất cả là:

Sau khi học sinh giải xong giáo viên chấm bài. Nhận xét bài chấm.

Phương pháp sử dụng đồ dùng tranh ảnh, vật thật khi “Rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1”.

Ví dụ: Bài 2/149( tiết 105):

Nam có 8 quả bóng, Nam thả 3 quả bay đi. hỏi Nam còn lại mấy quả bóng?

Ở bài này giáo viên có thể sử dụng quả bóng bay để minh họa cho học sinh thấy trực tiếp. Sau khi cho học sinh đọc đề toán.

Giáo viên hướng dẫn bằng quả bóng thật rồi đặt câu hỏi:

+ Bài toán đã cho biết những gì?

Học sinh trả lời: Bài toán cho biết Nam có 8 quả bóng, Nam thả 3 quả bay đi.

+ Bài toán đòi hỏi phải tìm gì?

Học sinh trả lời: Bài toán đòi hỏi phải tìm số bóng còn lại của Nam.

Khi học sinh trả lời giáo viên ghi tóm tắt lên bảng, đến bài giải.

Người giáo viên cần có lòng nhiệt tình, luôn quan tâm giúp đỡ học sinh.

Tất cả các giáo vên dạy khối lớp 1 đều hiểu rằng, các em học sinh lớp 1 mới từ mẫu giáo chuyển lên việc tiếp thu kiến thức thông qua hình thức: học mà chơi, chơi mà học. Nên khi dạy lớp 1 trong lớp giáo viên phải nhẹ nhàng, ân cần dạy bảo luôn tạo không khí thoải mái, vui vẻ trong giờ học, một lời nhận xét động viên các em giúp các em thấy tự tin phấn khởi, “đừng tiếc lời khen”.

Sự chỉ bảo ân cần là rất cần thiết, tránh quát mắng các em khi các em làm toán sai hay không làm được.

Ví dụ 1: Nếu học sinh nên câu lời giải sai hay viết phép tính sai thì không được quát mắng mà phải hướng dẫn lại cho học sinh. Đặc biệt không được ngồi một chỗ mà bảo các em là làm toán đi. Mà phải đi xuống bàn các em uốn nắn từng câu chữ, dấu hai chấm đặt ở đâu. Khi các em quên ghi dấu ngoặc đơn (…) phải viết mẫu cho các em bằng bút đỏ để các em nhớ. Nhất là những em học yếu, kém. Làm sao để các em đến trường là một ngày vui, ngày các em được điểm 9, điểm 10. Giáo viên gần gũi học sinh mới hiểu được học sinh mình, để hình ảnh ần cần của cô giáo luôn là hình ảnh đẹp trong ánh mắt của các em, bản thân các em thấy cô giáo như mẹ mình, sẵn sàng kể cho cô nghe những niềm vui nỗi buồn hoặc khó khăn của mình mà cô cần chia sẻ giúp đỡ.

Ví dụ 2: Em Nông Văn Nhất lúc đầu em chỉ biết làm toán dạng cộng, trừ bằng các phép tính đã cho. Còn giải toán có lời văn em rất bỡ ngỡ, lúng túng thậm chí không biết tóm tắt bài toán. Sau vài tiết học nhờ cô giáo có biện pháp rèn kĩ năng giải toán có lời văn mà bây giờ em Nhất đã giải nhanh và rất đúng tất cả các bài toán có lời văn.

Làm thế nào để học sinh yếu kém có kĩ năng giải được các bài toán có lời văn hoặc học sinh có hoàn cảnh khó khăn theo kịp các bạn học sinh khá giỏi.

Học sinh không có kĩ năng giải toán nghĩa là khi kiểm tra vào giữa kì II và kiểm tra cuối năm sẽ không đạt điểm tối đa. Ảnh hưởng đến chất lượng cuối năm thi lên lớp 2 của các em.

Để rèn luyện kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh, tôi có giải pháp, biện pháp sau:

Là một giáo viên chủ nhiệm khi đứng lớp ai cũng biết phân loại học sinh. Tôi phân loại học sinh ra làm ba loại: học sinh khá, giỏi; học sinh trung bình; học sinh yếu, kém. Sau đó sử dụng phương pháp dạy cho từng đối tượng học sinh. Tuy nhiên đối với học sinh cả lớp, tôi vẫn lấy chuẩn để phấn đấu. Còn những em học sinh yếu kém nếu lấy chuẩn để ra thì các em không thể theo kịp, như thế tôi sắp xếp chỗ ngồi cho các em phù hợp với năng lực của các em.

Ví dụ: Cho các em học sinh yếu ngồi gần các bạn học tốt để các em được sự giúp đỡ từ bạn, được học tập từ bạn như quan sát bạn tóm tắt, đặt câu lời giải đúng, ghi phép tính đúng, đặt dấu ngoặc đơn có đơn vị bên trong đúng…ghi đáp số đúng. Như người ta nói “học thầy không tày học bạn”. Học sinh học yếu được các bạn học giỏi giúp đỡ. Tránh các em học yếu ngồi gần các bạn học yếu các em sẽ không biết gì. Não bộ các em sẽ không hoạt động. Từ đó không kích thích tư duy, óc tò mò của các em. Nhờ đó mà các em học được ưu điểm của nhau.

Ngoài ra giáo viên cần có kế hoạch, thời gian để kèm cặp, phụ đạo cho những em học yếu, kém. Giáo viên sắp xếp thời gian cho phù hợp phụ đạo cho học sinh yếu kém ở tiết buổi chiều, các em khá giỏi, trung bình tự làm. Các em học yếu được các bạn giỏi theo dõi giúp đỡ bạn “đôi bạn cùng tiến”. Đặc biệt giáo viên theo dõi em yếu nhiều hơn.

Nguyên nhân này cũng làm giảm chất lượng dẫn đến các em học yếu kém. Trong quá trình tìm hiểu tôi thấy có nhiều em đến lớp học ngồi không nói câu nào, có em còn ngồi ngủ gật trong lớp, không chú ý cô giảng bài. Đối tượng học sinh này cần quan tâm nhiều đến cả vật chất lẫn tinh thần. Vì vậy muốn các em học tốt giáo viên phải nắm được hoàn cảnh thực tế của các em từ đó mới có biện pháp rèn các em.

Để có biện pháp rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho các em để các em học tốt thì giáo viên chủ nhiệm bàn với ban giám hiệu nhà trường chủ động tham mưu với hội phụ huynh học sinh, cơ quan đóng trên địa bàn giúp đỡ về vật chất như: quần áo, sách vở, đồ dùng học tập.Thực hiện bằng hành động như: tặng vở, bút, quần áo, đồ dùng học tập. Cần động viên các em trong mọi hoạt động nhất là các em mồ côi, gần gũi quan tâm khi các em bị ốm đau, không có tiền chữa bệnh. Cho thuốc khi các em ốm để các em nhanh khỏi bệnh, tạo không khí thoáng mát trong giờ học để các em thấy cô giáo là người mẹ thứ hai của mình và không cảm thấy cô đơn khi tới trường.

Ví dụ: Lớp tôi có em Hải mẹ bị bệnh qua đời, thời gian sau bố bị ung thư cũng qua đời. Cha mẹ ra đi bỏ lại em cô đơn giữa dòng đời, em sống với ông bà. Ông và bà thì đã già yếu. Em hay nghỉ học, hay quên sách vở, có hôm đi học không có bút, không có bảng con. Tôi luôn gần gũi động viên, thấy em nghỉ học không có lí do thì đến nhà động viên ông bà bảo cháu đi học chuyên cần. Khi em đến lớp tôi giúp em hòa nhập với các bạn. Đồng thời tặng em sách vở, cho em bút để viết bài. Qua một thời gian thấy em tiến bộ đi học chuyên cần, học toán ngày càng tiến bộ.

Tóm lại, đối với học sinh có hoàn cảnh đặc biệt giáo viên cần quan tâm, giúp đỡ, động viên giúp các em tự tin trong học tập và sống hòa nhập với cộng đồng cần giúp đỡ các em cả vật chất lẫn tinh thần.

4. Giải pháp thứ tư: Làm thế nào để phụ huynh quan tâm tới con mình, không tạo khoảng trắng giữa phụ huynh với giáo chủ nhiệm và nhà trường.

Thực tế hiện nay đại đa số phụ huynh khi đưa con đến trường là xong không cần biết con mình có học được hay không, có biết làm toán hay không. Họ nghĩ giáo dục con em mình là trách nhiệm của thầy cô giáo. Có những em bị ốm mà cha mẹ cũng không biết, cho con đi học có em đi học cả buổi vẫn chưa ăn gì. Với trường hợp này giáo viên phải thường xuyên liên lạc, trao đổi với phụ huynh để họ hiểu rằng kết quả học tập của các em có tốt hay không là phải có sự phối hợp nhịp nhàng giữa gia đình và nhà trường. Yêu cầu quan tâm tối thiểu như cha mẹ cần kiểm tra bài vở của các em sau khi các em đi học về. Xem con mình học tốt được môn nào, môn nào chưa học tốt, các em đến lớp có ghi bài đầy đủ hay không. Đối với các em học sinh lớp 1 ý thức tự giác học tập chưa cao các em đa số không có ý thức, tất cả nhờ sự hỗ trợ của cha mẹ, cha mẹ giục các em soạn sách vở, xem lại bài cũ, chuẩn bị bài mới theo thời khóa biểu, bút, tẩy, bảng con, que tính…Phía giáo viên ngoài họp phụ huynh định kì một năm 3 lần phải thường xuyên liên lạc với phụ huynh bằng phiếu liên lạc hay gặp trực tiếp trao đổi khi cần thiết.

Ví dụ: Ở lớp tôi có một số em hay quên sách vở, bút, phấn, bảng, những thứ cần thiết trong một tiết học thì em đó lại để ở nhà, lần họp phụ huynh đầu tiên cha mẹ em đó không đi. Qua tìm hiểu thông tin, tôi tìm số nhà và tôi đến tận nhà thông báo tình hình học tập của em đó là hay quên sách, vở…không soạn sách vở theo thời khóa biểu. Và yêu cầu phụ huynh soạn giúp, mua sắm thêm đồ dùng cần thiết cho đủ. Có gia đình phải đến 2 đến 3 lần thì phụ huynh đó mới quan tâm tới con. Cứ như vậy “nước cháy đá mòn” một thời gian sau không có em nào quên sách vở nữa.

Tóm lại, giáo viên cần giữ mối liên hệ thường xuyên với phụ huynh học sinh; Cần nhiệt tình, mềm dẻo với phụ huynh, nhất là phụ huynh khó tính cá biệt; Phải thường xuyên trao đổi tư vấn cho phụ huynh để họ hiểu được quá trình học tập của các em. Các em muốn học tốt để trở thành con ngoan trò giỏi cần phải có sự hỗ trợ của gia đình.

Đề Tài Rèn Kĩ Năng Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 2

A. PHẦN MỞ ĐẦU I. Lý do chọn đề tài: Xuất phát từ yêu cầu đổi mới của đất nước, trong những năm qua, Đảng và nhà nước ta đã đặc biệt quan tâm đến phát triển giáo dục. Một trong những nhiệm vụ cơ bản của giáo dục đào tạo hiện nay là hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh một cách toàn diện theo mục tiêu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Để chuẩn bị nguồn nhân lực đáp ứng sự phát triển kinh tế công nghiệp và kinh tế tri thức theo xu thế toàn cầu hoá trong những năm của thế kỷ XXI, chương trình giáo dục nói chung, chương trình toán tiểu học nói riêng, góp một phần không nhỏ vào sự phát triển đó. Trong các môn học ở Tiểu học, môn Toán là công cụ để học tốt các môn học khác. Các kiến thức, kỹ năng của môn toán ở tiểu học có nhiều ứng dụng trong đời sống. Nó góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, suy luận, giải quyết vấn đề, phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt, sáng tạo; nó đóng góp vào việc hình thành các phẩm chất cần thiết và quan trọng cho con người như cần cù, cẩn thận, có ý chí vượt khó khăn, làm việc có kế hoạch, có nền nếp và tác phong khoa học. Vì vậy môn toán là một môn học không thể thiếu trong tất cả các cấp học. Môn Toán ở Tiểu học có nhiệm vụ giúp học sinh hình thành hệ thống các kiến thức cơ bản, có nhiều ứng dụng trong đời sống về các số tự nhiên, các số thập phân, phân số, các đại lượng cơ bản, và một số yếu tố hình học. Học sinh biết cách đọc, viết, so sánh các số tự nhiên, phân số, số thập phân. Biết thực hành tính nhẩm, tính viết về bốn phép tính với các số tự nhiên,số thập phân, số đo các đại lượng , các yếu tố hình học. Biết cách giải và trình bày bài giải với những bài toán có lời văn. Trong đó giải toán có lời văn giữ một vai trò quan trọng. Thông qua việc giải toán các em thấy được nhiều khái niệm toán học như: các số, các phép tính, các đại lượng, các yếu tố hình học...đều có nguồn gốc trong cuộc sống hiện thực, trong thực tiễn hoạt động của con người, thấy được mối quan hệ biện chứng giữa các sự kiện, giữa cái đã cho và cái phải tìm. Qua việc giải toán đã rèn luyện cho học sinh năng lực tư duy và những đức tính của con người mới. Có ý thức vượt khó khăn, đức tính cẩn thận, làm việc có kế hoạch, thói quen xét đoán có căn cứ, thói quen tự kiểm tra kết quả công việc mình làm, óc độc lập suy nghĩ, óc sáng tạo, giúp học sinh vận dụng các kiến thức, rèn luyện kỹ năng tính toán, kĩ năng ngôn ngữ. Đồng thời qua việc giải toán của học sinh mà giáo viên có thể dễ dàng phát hiện những ưa điểm, thiếu sót của các em về kiến thức, kĩ năng, tư duy để giúp học sinh phát huy những mặt đạt được và khắc phục những mặt thiếu sót. Giải toán có lời văn là hoạt động bao gồm những thao tác: xác lập được mối quan hệ giữa các dữ liệu, giữa cái đã cho và cái phải tìm, chọn được phép tính thích hợp, trả lời đúng câu hỏi của bài toán. Vì vậy đây là một hoạt động tương đối phức tạp và khó đối với học sinh Tiểu học. Đặc biệt là đối với học sinh lớp 2, tư duy của các em cũn nặng về tư duy cụ thể, tư duy ngôn ngữ trừu tượng còn nghèo nàn và non nớt mà các em đã phải tiếp xúc với nhiều loại toán khác nhau. Vì vậy, nếu các em được rèn luyện kĩ năng giải toán có lời văn một cách tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo ngay từ lớp 2 sẽ là bước tạo đà vững chắc để các em giải toán có lời văn ở các lớp tiếp theo được tốt hơn. Có nhiều biện pháp giúp học sinh giải đúng các bài toán có lời văn phù hợp với đặc điểm tư duy của học sinh bậc Tiểu học, đem lại niềm vui và hứng thú trong học tập cho học sinh. Đó chính là lý do tôi chọn đề tài: "Rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 2" làm đề tài nghiên cứu của mình Đây là một đề tài thiết thực mà người giáo viên nào cũng cần lưu tâm tới. Vì khi tư duy các em sẽ tìm tòi, nghiên cứu, phát hiện ra những cái mới giúp các em say mê và hứng thú với môn học được coi là khô khan này. Đây cũng là điều kiện thúc đẩy giúp các em học tốt môn Toỏn. Đó là lý do khiến tôi lựa chọn và nghiên cứu đề tài này. II. Mục đích của đề tài: - Rèn kĩ năng giải toán thành thạo. - Nắm chắc các dạng toán điển hình và phương pháp giải toán của từng dạng bài. Biết trình bày bài giải đẩy đủ gồm các câu lời giải (mỗi phép tính đều có lời văn) và đáp số theo đúng yêu cầu của bài toán. - Mở rộng vốn kiến thức về giải toán: biết lập đề toán khác, tìm nhiều cách giải một bài toán (nếu có)... - Góp phần đổi mới phương pháp dạy học môn Toán ở Tiểu học theo phương pháp phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh, tăng cường hoạt động cá thể phối hợp với học tập giao lưu. Hình thành và vận dụng kiến thức vào thực tiễn. - Góp phần gây hứng thú học tập môn Toán cho học sinh, không những chỉ giúp các em lĩnh hội được tri thức mà còn giúp các em củng cố và khắc sâu các tri thức đó. III. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu: - Đối tượng: Học sinh lớp 2B - Tài liệu: Sách giáo khoa Toán, Sách giáo viên, sách Toán nâng cao, Toán tuổi thơ, 400 bài toán dành cho học sinh khá giỏi,... - Thời gian nghiên cứu: Tháng 9 năm 2014 đến tháng 3 năm 2015. IV. Phương pháp nghiên cứu: 1. Nghiên cứu tài liệu: - Đọc sách giáo khoa, sách giáo viên, các loại sách tham khảo như: Toán nâng cao lớp 2, Toán tuổi thơ, Toán bồi dưỡng học sinh lớp 2, Giúp em vui học toán, Phát triển trí thông minh, 400 bài toán dành cho học sinh khá giỏi lớp 2, ... 2. Nghiên cứu thực tế: - Dự giờ, trao đổi ý kiến với đồng nghiệp. - Mạnh dạn dạy chuyên đề của tổ để đồng nghiệp góp ý. - Tổng kết, rút kinh nghiệm trong quá trình dạy học. - Tổ chức và tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính khả thi của đề tài. B. QUÁ TRÌNH TRIỂN KHAI THỰC HIỆN I. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ 1. Cơ sở khoa học: Toán học có vị trí rất quan trọng phù hợp với cuộc sống thực tiễn đó cũng là công cụ cần thiết cho các môn học khác và để giúp học sinh nhận thức thế giới xung quanh, để hoạt động có hiệu quả trong thực tiễn. Khả năng giáo dục nhiều mặt của môn toán rất to lớn, nó có khả năng phát triển tư duy lôgic, phát triển trí tuệ. Nó có vai trò to lớn trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề có suy luận, có khoa học toàn diện, chính xác, có nhiều tác dụng phát triển trí thông minh, tư duy độc lập sáng tạo, linh hoạt...góp phần giáo dục ý trí nhẫn nại, ý trí vượt khó khăn. Từ đặc điểm tâm sinh lý học sinh tiểu học là dễ nhớ nhưng mau quên, sự tập trung chú ý trong giờ học toán chưa cao, trí nhớ chưa bền vững thích học nhưng chóng chán. Vì vậy giáo viên phải làm thế nào để khắc sâu kiến thức cho học sinh và tạo ra không khí sẵn sàng học tập, chủ động tích cực trong việc tiếp thu kiến thức. Xuất phát từ cuộc sống hiện tại. Đổi mới của nền kinh tế, xã hội, văn hoá, thông tin...đòi hỏi con người phải có bản lĩnh dám nghĩ, dám làm năng động chủ động sáng tạo có khả năng để giải quyết vấn đề. Để đáp ứng các yêu cầu trên trong giảng dạy nói chung, trong dạy học Toán nói riêng cần phải vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học để nâng cao hiệu quả dạy - học. Chính vì vậy việc đổi mới phương pháp dạy toán có lời văn ở cấp tiểu học nói chung và lớp 2 nói riêng là một việc rất cần thiết mà mỗi giáo viên tiểu học cần phải nâng cao chất lượng học toán cho học sinh. 2. Cơ sở thực tiễn: a. Thuận lợi: - Được sự quan tâm của nhà trường các đồ dùng cho dạy học toán tương đối đầy đủ. - Cơ sở vật chất đảm bảo. - Học sinh có đầy đủ sách giáo khoa, đồ dùng học toán. - Phần lớn học sinh thích học môn Toán. 2. Khó khăn: - Môn toán là môn học khô khan, học sinh dễ chán. - Trình độ nhận thức học sinh không đồng đều. - Một số học sinh còn chậm, nhút nhát, kĩ năng tóm tắt bài toán còn hạn chế, chưa có thói quen đọc và tìm hiểu kĩ bài toán dẫn tới thường nhầm lẫn giữa các dạng toán, lựa chọn phép tính còn sai, chưa bám sát vào yêu cầu bài toán để tìm lời giải thích hợp với các phép tính. - Một số em tiếp thu bài một cách thụ động, ghi nhớ bài còn máy móc nên còn chóng quên các dạng bài toán. - Giải toán là một hoạt động trí tuệ khó khăn, phức tạp, hình thành kĩ năng giải toán khó hơn nhiều so với kĩ xảo tính, vì các bài toán là sự kết hợp đa dạng nhiều khái niệm, nhiều quan hệ toán học. Giải toán không chỉ là nhớ mẫu rồi áp dụng, mà đòi hỏi nắm chắc khái niệm, quan hệ toán học, nắm chắc ý nghĩa các phép tính, đòi hỏi khả năng độc lập suy luận của học sinh, đòi hỏi biết làm tính thông thạo. - Từ lớp 1 các em đã được làm quen với việc giải toán có lời văn nhưng chỉ là những bài toán hết sức đơn giản chỉ có 1 bước tính. Lên lớp 2, các em bắt đầu gặp thêm nhiều dạng toán phức tạp hơn, quá trình giải phải thực hiện nhiều bước tính. Do đó các em gặp phải không ít những khó khăn trong việc giải những bài toán này. II. KHẢO SÁT THỰC TẾ: 1. Tình trạng thực tế khi chưa thực hiện đề tài: Học sinh Tiểu học có trí thông minh, khá nhạy bén sắc sảo, có óc tưởng tượng phong phú. Đó là tiền đề tốt cho việc phát triển tư duy Toán học nhưng rất dễ bị phân tán, rối trí nếu bị áp đặt, căng thẳng, quá tải. Chính vì thế, nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy, hình thức truyền tải, truyền đạt làm thế nào cho phù hợp với tâm lí lứa tuổi là điều kiện không thể xem nhẹ. Đặc biệt với học sinh lớp 2, lớp mà các em vừa mới vượt qua những mới mẻ ban đầu chuyển từ hoạt động chủ đạo là vui chơi sang hoạt động học tập. Muốn giờ học đạt hiệu quả thì đòi hỏi người giáo viên phải đổi mới phương pháp dạy học "Phát huy tính tích cực của học sinh" hướng tập trung vào học sinh trên cơ sở hoạt động của các em. Ngay từ khi được bồi dưỡng để phục vụ yêu cầu giảng dạy theo chương trình mới, tôi đá quan tâm đến khả năng giải toán có lời văn của học sinh. Qua các giờ lên lớp, khi hướng dẫn các em giải toán có lời văn, tôi thấy các em còn lúng túng, nhiều em chưa biết cách giải một bài toán có lời văn hoàn chỉnh. Có em làm sai lời giải mặc dù phân tích đúng hoặc có em lời giải đúng nhưng phân tích lại làm sai... Qua bài kiểm tra khảo sát đầu năm, kiểm tra vở toán và vở Cùng em học toán của học sinh cũng như gọi học sinh làm bài tập thì tôi thấy đa số học sinh chưa có kĩ năng giải toán có lời văn hoặc có thì bài giải chưa hoàn chỉnh, chưa chặt chẽ, chưa biết cách tự kiểm tra kết quả bài làm của mình xem minh giải đúng hay sai. Nhiều học sinh chưa hiểu được bản chất của bài toán nên chưa sáng tạo trong việc tìm cách giải. Đa số học sinh chưa biết cách tóm tắt bài toán hoặc khi giải các em ghi lời giải chưa chính xác, nhiều khi còn xác định sai đơn vị của đại lượng... Thống kê kết quả khảo sát chất lượng môn Toán đầu năm của 40 học sinh lớp 2B về giải toán có lời văn tôi đó tổng hợp và đánh giá xếp loại như sau: Sĩ số Bài đúng, đầy đủ Bài đúng, chưa đầy đủ Bài giải sai SL % SL % SL % 40 10 25 20 50 10 25 Kết quả như trên cho thấy việc giải toán có lời văn của học sinh lớp 2B chưa cao. Số học sinh giải đúng còn chiếm tỉ lệ thấp. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó là: - Việc tiếp thu bài trên lớp và tự học ở nhà còn yếu. - Giáo viên chưa có những biện pháp hướng dẫn cụ thể phù hợp để các em phát triển năng lực tư duy của mình - Phụ huynh và giáo viên còn chưa động viên, khuyến khích kịp thời khi các em học tốt. Trước những thực trạng đó, tôi nhận thấy mình cần phải có những giải pháp giúp các em rèn kỹ năng giải toán có lời văn đạt hiệu quả cao nhất. III. CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN Xuất phát từ mục đích nghiên cứu, qua điều tra thực trạng ban đầu, tôi đã nghiên cứu và tìm ra các giải pháp giúp học sinh thực hiện đúng các bài toán có lời văn. - Khi giải một bài toán phải tuân thủ theo các bước: Bước 1: Đọc kĩ đề, phân tích các yếu tố của bài toán. Bước 2: Tóm tắt bài toán bằng cách dễ hiểu nhất. Bước 3: Phân tích bài toán để nhận dạng toán và tìm cách giải Bước 4: Giải bài toán và thử lại các kết quả. Bước 5: Khai thác - mở rộng bài toán. - Nắm chắc phương pháp giải của từng dạng toán điển hình. - Ngoài ra tôi còn thực hiện một số giải pháp khác: + Phân công học sinh khá giỏi kèm cặp , giúp đỡ những học sinh học yếu kém với hình thức "Đôi bạn cùng tiến" + Thường xuyên trao đổi với phụ huynh học sinh + Phối hợp với nhà trường và Đoàn, Đội Sau đây là một số biện pháp tôi thực hiện rèn kĩ năng giải toán cho học sinh lớp 2: IV. CÁC GIẢI PHÁP KHOA HỌC TIẾN HÀNH: Xuất phát từ mục đích nghiên cứu, qua điều tra thực trạng ban đầu, tôi đã nghiên cứu và tìm ra các giải pháp rèn kỹ năng giải toán có lời văn cho học sinh. Trước hết muốn giải được bài toán có lời văn, giáo viên cần cho học sinh nắm được đường lối chung để giải bài toán có lời văn được thực hiện 5 bước sau: Bước 1: Tìm hiểu đề: Học sinh phải đọc kỹ đề toán để phân biệt dữ kiện của bài - xác định được cái đã cho và cái phải tìm. Bước 2: Phân tich bài toán Sau khi học sinh đọc bài toán, giáo viên cần đặt câu hỏi gợi mở để học sinh hiểu được đề bài. + Bài toán cho ta biết gì ? + Bài toán hỏi điều gì ? + Muốn giải được bài toán ta phải sử dụng phép tính nào ? Để tránh nhàm chán các câu hỏi lặp lại nhiều lần, giáo viên cần thay đổi câu hỏi để phát huy tư duy của học sinh. Ta có thể hỏi ngược lại: + Bài toán hỏi điều gì ? + Ta biết điều gì ở bài toán ? + Muốn giải được bài toán trước hết ta phải tìm gì ? Khi học sinh đó hiểu được bài toán, giáo viên hướng dẫn học sinh tóm tắt bài toán. Bước 3: Tóm tắt bài toán Việc này giúp các em bỏ bớt được những câu, những chữ không thật quan trọng trong đề toán, biểu thị được bằng lời hoặc hình vẽ các mối quan hệ trong bài toán, làm cho bài toán được rút gọn lại, mối quan hệ giữa các số đã cho và số phải tìm hiện ra rõ hơn. Các em nhìn tóm tắt có thể đọc lại bài toán một cách chính xác (học sinh sẽ giải bài toán dễ dàng hơn). Ở phần này, giáo viên cần cho học sinh biết nhiều cách tóm tắt khác nhau. Ví dụ: Bài 4 (SGK - trang 14) - Một lớp học có 14 học sinh nữ và 16 học sinh nam. Hỏi lớp đó có tất cả bao nhiêu học sinh ? Cách 1: Nữ: 14 học sinh Nam: 16 học sinh Tất cả: .... học sinh ? ? học sinh Cách 2: 14 nữ 16 nam 16 14 Nam Nữ Cách 3: ? HS Bước 4: Giải bài toán Các em dựa vào tóm tắt để viết bài giải Lớp học đó có số học sinh là: 14 + 16 = 30 (HS) Đáp số: 30 học sinh Bước 5: Thử lại kết quả Tức là học sinh kiểm tra xem kết quả tính đó đúng chưa ? Lời giải đó chuẩn chưa ? và đáp số đầy đủ chưa ? Ở ví dụ trên ta lấy tổng số học sinh cả lớp trừ đi số học sinh nữ mà ra số học sinh nam là đúng hoặc ngược lại. Trong 5 bước trên thì các em làm vào vở bước 3 và bước 4.Còn các bước khác các em chỉ suy nghĩ làm miệng hoặc làm nháp. Khi học sinh đã nắm vững 5 bước của một bài toán có lời văn với từng loại bài khác nhau. Khi giải xong giáo viên cần chốt cho học sinh những điều cơ bản cần ghi nhớ. 1- Loại "Bài toán về nhiều hơn" Khi dạy "Bài toán về nhiều hơn", giáo viên giúp học sinh biết cách xác định: số lớn, số bé, phần "nhiều hơn". Vậy khi dạy dạng toán này học sinh chỉ cần vận dụng công thức Số lớn = số bé + phần "nhiều hơn" Bài toán 1: Hòa có 4 bông hoa, Bình nhiều hơn Hòa 2 bông hoa. Hỏi Bình có bao nhiêu bông hoa ? 4 bông hoa Tóm tắt: Hòa: 2 bông hoa Bình ? bông hoa Ở đây số lớn là số hoa của ai ? Số bé là số hoa của bạn nào ? Vậy tìm số hoa của Bình bằng cách nào ? Học sinh giải: Bình có số bông hoa là: 4 + 2 = 6 (bông hoa) Đáp số: 6 bông hoa Để tránh cho học sinh dập khuôn máy móc cứ thấy bài toán có "nhiều hơn" là sử dụng phép cộng. Buổi chiều có tiết hướng dẫn học tôi luyện thêm cho các em bài toán khác. Bài toán 2: Tùng có 15 viên bi, Tùng nhiều hơn Toàn 3 viên bi. Hỏi Toàn có bao nhiêu viên bi ? Với bài toán này, sau khi đọc kĩ đề, phân tích thì học sinh sẽ tóm tắt như sau: 15viên bi 3 viên ? viên bi Tóm tắt: Tùng Toàn Khi đã tóm tắt được bài toán, nhìn sơ đồ, học sinh sẽ dễ dàng giải hơn. Bài giải Toàn có số viên bi là : 15 - 3 = 12 (viên bi) ĐS : 12 viên bi Mặt khác rèn thêm kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh dạng này, tôi đưa thêm bài toán trắc nghiệm sau : Bài toán 3 : Khoanh vào chữ đặt trước kết quả đúng. Lan có 19 bông hoa, Huệ nhiều hơn Lan 3 bông hoa. Hỏi Huệ có bao nhiêu bông hoa ? A. 2 bông hoa B. 16 bông hoa C. 22 bông hoa Học sinh phải khoanh vào đáp án C vì số hoa của Huệ bằng 19 + 3 = 22 2. Loại "Bài toán về ít hơn" Dạng này, học sinh cũng xác định số lơn, số bé, phần ít hơn" và ghi nhớ : Số bé = Số lớn - phần "ít hơn". Trong công thức toán này, để vận dụng tốt vào những bài học sau, mỗi học sinh cần có tư duy chặt chẽ để xác định được đâu thực sự là "Bài toán về nhiều hơn" và đâu là "Bài toàn về ít hơn" để có cách giải đúng, tránh nhầm lẫn. Vậy người giáo viên cần hướng dẫn để các em phân tích được bài toán, tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng, nhìn vào tóm tắt để xác định yêu cầu của bài toán cho đúng. Bài toán 1: Vườn nhà Nga có 17 cây cam, vườn nhà Mai ít hơn vườn nhà Nga 6 cây cam. Hỏi vườn nhà Mai có bao nhiêu cây cam ? 17 cây 6 cây ? cây Tóm tắt: Vườn nhà Nga: Vườn nhà Mai Nhìn vào sơ đồ đoạn thẳng học sinh xác định được số lớn là số cây vườn nhà Nga, số bé là số cây vườn nhà Mai, số phần ít hơn là 6 cây. Từ đó học sinh giải bài rất dễ dàng. Bài giải: Vườn nhà Mai có số cây là : 17 - 6 = 11 (cây) ĐS : 11 cây Cũng giống như dạng "Bài toán về nhiều hơn" sau khi làm xong tôi yêu cầu học sinh thử lại bằng cách lấy số cây vườn nhà Mai vừa tìm được cộng với 6 cây mà ra số cây vườn nhà Nga thì bài toán giải đúng. Ngoài dạng cơ bản này, để rèn thêm kĩ năng giải bài toán, chiều đến tôi cho học sinh làm thêm dạng khác như sau: Bài toán 2: Tấm vải xanh dài 34 dm, như vậy dài hơn tấm vải đỏ 13dm. Hỏi tấm vải đỏ dài bao nhêu đề xi mét ? - Yêu cầu: Học sinh đọc kĩ bài toán, phân tích tìm số lớn, số bé và hỏi thêm: "Em hiểu tấm vải xanh dài 34dm như vậy dài hơn tấm vải đỏ 13dm nghĩa là thế nào ?". Học sinh hiểu được là vải đỏ ngắn hơn vải xanh 13 dm. Từ đó các em sẽ tóm tắt được. 34 dm 13dm ? dm Vải xanh: Vải đỏ: Bài giải: Tấm vải đỏ dài số đề xi mét là: 34 - 13 = 21 (dm) ĐS: 21 dm 3. Loại "Tìm số hạng chưa biết" Với dạng này học sinh đọc bài toán xong phải xác định được tổng và một số hạng đã biết để tìm số hạng kia. Công thức: Số hạng = Tổng - Số hạng đã biết Bài toán 1: Một đàn gà có tất cả 45 con, trong đó 25 gà mái. Hỏi có bao nhiêu con gà trống ? Tóm tắt: 45 con gà 25 gà mái .... gà trống ? Bài giải: Gà trống có số con là 45 - 25 = 20 (con) ĐS : 20 con gà trống Ở đây ta thấy 25 con gà mái + số con gà trống = tất cả đàn Do đó : 45 con gà là tổng 25 con gà mái là số hạng đã biết. Số con gà trống là số hạng chưa biết. Khi hiểu được như vậy, học sinh dễ dàng tìm ra cách giải bài toán này dựa vào cách tìm số hạng chưa biết trong một tổng và tương tư như vậy đối với những bài toán khác, học sinh cũng phân tích và đưa về dạng bài đã học để giải toán đúng. Khi cả lớp đã thành thạo giải bài toán có lời văn dạng đơn giản, tôi đưa những bài nâng cao giúp học sinh tư duy tốt, rèn kỹ năng giải toán tốt hơn. Bài toán 2 : Hồng và Lan có tổng cộng 18 quyển vở. Hồng sử dụng hết 6 quyển, Hồng còn lại 4 quyển. Hỏi Lan có bao nhiêu quyển vở ? Với bài toán khó, giáo viên đặt câu hỏi gợi mở để học sinh phân tích rồi mới tóm tắt. + Muốn tìm số vở của Lan, trước hết phải tìm số vở của ai ? + Tìm số vở của Hồng bằng cách nào ? + Vậy bài toán phải giải bằng mấy phép tính ? Tóm tắt : Hồng + Lan : 18 quyển Hồng dùng : 6 quyển Hồng còn : 4 quyển Lan : .... quyển ? Bài giải : Số quyển vở của Hồng là : 6 + 4 = 10 (quyển) Lan có số quyển vở là : 18 - 10 = 8 (quyển) ĐS : 8 quyển Điều cần ghi nhớ : Lấy tổng trừ đi số hạng đã biết. 5. Loại "Tìm số bị trừ chưa biết" Bài toán 1: Hùng có 25 viên bi, Hùng cho Dũng một số viên bi, Hùng còn lại 18 viên bi. Hỏi Hùng cho Dũng bao nhiêu viên bi ? Tóm tắt: Có : 25 viên bi Cho : .... viên bi ? Còn : 18 viên bi. Bài giải: Hùng cho Dũng số viên bi là 25 - 18 = 7 (viên bi) ĐS: 7 viên bi Với bài này ta thấy: 25 viên bi - số bi đã cho = 18 viên bi Do đó: 25 viên bi là số bị trừ Số viên bi Hùng đã cho là số trừ chưa biết. 18 viên bi còn lại là hiệu. Điều cần ghi nhớ: Lấy số bị trừ trừ đi hiệu. Sau khi các em đã thành thạo quy trình giải một bài toán có lời văn, tôi tiếp tục củng cố, mở rộng cho học sinh giải bài toán bằng nhiều cách khác nhau. Bài toán 2: Một xe ô tô chở khách, trên xe có 38 người (kể cả tài xế). Đến một bến có 4 người xuống và 7 người lên. Hỏi lúc này trên xe có bao nhiêu người ? Bài giải: Cách 1: Có 4 người xuống thì trên xe còn số người là 38 - 4 = 34 (người) 7 người lên xe thì trên xe có số người là 34 + 7 = 41 (người) Đáp số: 41 người Cách 2: Có 4 người xuống và 7 người lên thì số người tăng lên là: 7 - 4 = 3 (người) Lúc này trên xe có số người là: 38 + 3 = 41 (người) Đáp số: 41 người 6. Loại "Tìm thừa số chưa biết" Bài toán 1: Có 12 kg gạo chia đều vào 3 túi. Hỏi mỗi túi có mấy ki lô gam gạo? Tóm tắt: 12 kg : 3 túi .... kg ? : 1 túi Bài giải: Mỗi túi có số ki lô gam gạo là 12 : 3 = 4 (kg) ĐS: 4 kg Bài này ta thấy: 12 kg là tích 3 túi là thừa số đã biết Số kg gạo trong 1 túi là thừa số chưa biết. Điều cần ghi nhớ: Lấy tích chia cho thừa số đã biết. Bài toán 2: Tìm đáp số bài toán Có một sợi dây dài 18 dm được cắt thành các đoạn bằng nhau, mỗi đoạn dài 3 dm. Hỏi sợi dây đó cắt được mấy đoạn ? A. 5 đoạn B. 6 đoạn C. 7 đoạn - Học sinh giải ra nháp và khoanh vào đáp án B. 7. Loại "Tìm số bị chia" Bài toán 1: Có một số ki lô gam đường đựng đều trong 4 bao mỗi bao 5 kg đường. Hỏi tất cả bao nhiêu ki lô gam đường ? Tóm tắt: 1 bao : 5 kg 4 bao : .... kg ? Bài giải: Tất cả có số ki lô gam đường là 5 x 4 = 20 (kg) ĐS: 20 kg Điều cần ghi nhớ: Lấy thương nhân với số chia. Bài toán 2: Mẹ có một chùm nho, mẹ chia đều cho 3 con, mỗi con được 5 quả, còn thừa 2 quả. Hỏi chùm nho có bao nhiêu quả ? Với bài toán này học sinh phải đọc thật kĩ, phát hiện khác dạng thông thường ở điểm nào để phân tích rồi giải. Bài giải: 3 người con được số quả là 5 x 3 = 15 (quả) Chùm nho có số quả là 15 + 2 = 17 (quả) ĐS: 17 quả Khi các em đã thành thạo quy trình và kỹ năng giải toán có lời văn, tôi cho học sinh lập và biến đổi bài toán bằng những hình thức khác nhau như: + Đặt điều kiện cho bài toán. + Đặt câu hỏi cho bài toán mới chỉ biết số liệu hoặc điều kiện. + Chọn số hoặc số đo đại lượng cho bài toán còn thiếu số liệu. + Lập bài toán tương tự với bài toán đã giải. + Lập bài toán bằng tóm tắt hoặc sơ đồ minh họa. + Lập bài toán theo cách giải cho sẵn. Tất cả những giải pháp trên tôi tiến hành ở các giờ học Toán trên lớp, tiết hướng dẫn học Toán, ra bài về nhà cho học sinh. Ngoài các biện pháp trên, tôi còn đưa ra: 8. Phân công học sinh khá giỏi kèm cặp , giúp đỡ những học sinh học yếu kém với hình thức "Đôi bạn cùng tiến" 9. Thường xuyên trao đổi với phụ huynh học sinh: Đối với học sinh tiểu học các em mau nhớ, song cũng chóng quên. Có thể ở trên lớp các em đã hiểu bài nhưng sau đó lại có thể quên ngay. Nên giáo viên phải phối hợp với phụ huynh để có biện pháp giúp con em mình học bài tốt hơn. Bởi có rất nhiều em, tuy ngồi vào bàn học nhưng không biết phải làm gì hoặc nghịch ngợm không tập trung vào bài, nên phụ huynh phải trực tiếp kiểm tra và hướng dẫn các em cách học. Ví dụ cho các em bài toán có dạng tương tự như bài các em đã học để kiểm tra xem em đó có nắm được bài hay không,... Và đề nghị phụ huynh trao đổi với giáo viên về việc học tập của con em mình ở nhà để đưa ra những biện pháp tốt nhất cho việc học tập của các em. 10. Phối hợp với nhà trường và Đoàn, Đội tổ chức những cuộc thi như: "Thi giải toán nhanh" hoặc tổ chức các "Câu lạc bộ toán học" để tạo điều kiện mở rộng, nâng cao hơn kiến thức về môn Toán cho học sinh lớp 2 nói riêng và cho học sinh cả trường nói chung. Có những hình thức khen thưởng hợp lý nhằm động viên khuyến khích để các em say mê hơn với môn học vẫn cho là khô khan này. V. KẾT QUẢ THỰC HIỆN Qua quá trình vừa nghiên cứu, vừa áp dụng một số biện pháp vào thực tế giảng dạy Toán 2, tôi đã thu được kết quả khả quan. Hầu như học sinh trong lớp đã nắm chắc quy trình giải một bài toán có lời văn, đã biết đọc kĩ đề toán, tóm tắt bài toán bằng nhiều cách, biết nhận dạng bài toán thuộc loại toán nào trước khi giải, lời giải đúng và đầy đủ, kết quả chính xác. Nhiều em khá, giỏi đã giải bài toán khó bằng nhiều cách, phát hiện cách giải nhanh và hay. Chính vì vậy đã tạo được niềm vui, niềm tin và say mê trong học toán nói chung và giải toán có lời văn nói riêng. Qua các bài kiểm tra trên lớp, qua việc chấm vở của học sinhcũng như gọi học sinh lên bảng làm bài... tôi thấy đa số các em làm đúng và đầy đủ, chỉ còn rất ít em giải chưa đầy đủ hoặc giải sai. Bằng phương pháp thống kê toán học trên 40 bài kiểm tra cuối học kì 1 và những bài kiểm tra thường xuyên, tôi thu được kết quả ở bảng sau: Sĩ số Bài đúng, đầy đủ Bài đúng, chưa đầy đủ Bài giải sai SL % SL % SL % 40 30 75 8 20 2 5 Dựa vào kết quả trên và dựa vào tình hình học trên lớp của học sinh tôi nhận thấy kĩ năng giải toán có lời văn của các em tăng lên rõ rệt. Cụ thể + Số học sinh giải đúng, đầy đủ tăng 50% + Số học sinh giải bài sai giảm: 20 % Như vậy việc áp dụng giải pháp giúp học sinh lớp 2 rèn kỹ năng giải toán có lời văn đã mang lại hiệu quả tốt. C. KẾT LUẬN Giải toán có lời văn là một hoạt động năng động, sáng tạo nhất trong hoạt động trí tuệ của học sinh Tiểu học nói chung và của học sinh lớp 2 nói riêng. Nó có một vị trí rất quan trọng trong việc hình thành và phát triển năng lực tư duy, rèn luyện phương pháp và kĩ năng suy luận lô gíc, tập dượt các khả năng quan sát, phỏng đoán và tìm tòi... Thông qua quá trình giải toán giúp giáo viên phát hiện được vùng kiến thức nào học sinh nắm vững, vùng nào kiến thức học sinh chưa nắm vững. Từ đó giáo viên có kế hoạch bồi dưỡng, phát huy hoặc khắc phục những mặt còn yếu kém. Trong giảng dạy giáo viên cần sự sáng tạo, tránh rập khuôn, máy móc, giúp các em đi tới đích bằng con đường ngắn nhất, nhanh nhất. Muốn làm điều như trên, trước hết giáo viên phải cho học sinh hiểu và nắm chắc qui trình giải một bài toán có lời văn gồm 5 bước như đã trình bày trên. Đồng thời giáo viên phải đặc biệt coi trọng phương pháp luyện tập, thực hành. Có như vậy học sinh mới được hoạt động nhiều và hoạt động thường xuyên, nhằm phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo trong hoạt động học tập của học sinh. Đối với học sinh khá giỏi, các em đều có ý thức học tập, có trí nhớ tốt, ham hiểu biết, vì thế việc mở rộng, bồi dưỡng kiến thức cho các em là rất cần thiết. Có như vậy mới đáp ứng được sự tiến triển của xã hội, các em mới tham gia vào các kì thi giao lưu, giải toán trên mạng các cấp. - Trong quá trình áp dụng giải pháp giúp học sinh thực hiện tốt các bài toán có lời văn cho học sinh lớp 2B tôi đã rút ra được một số kinh nghiệm sau: + Mỗi người giáo viên chúng ta cần phải kiểm tra, phân loại khả năng học của học sinh thành từng nhóm; sau đó tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó để tìm ra các biện pháp tác động hợp lí, có khả năng mang lại hiệu quả cao trong học tập cho các em. + Trong giờ học, giáo viên phải gây được hứng thú học tập cho học sinh, tạo không khí nhẹ nhàng, thoải mái trong giờ học; kích thích sự hoạt động của học sinh. + Có chế độ khen chê hợp lý nhằm kích thích sự phấn đấu rèn luyện của học sinh. + Gia đình cần tạo điều kiện học tập cho các em, nhắc nhở, động viên các em trong việc học ở nhà. + Thường xuyên liên lạc với phụ huynh để giúp phụ huynh nắm vững tình hình học tập của con em mình và thống nhất với giáo viên về phương pháp giáo dục để tạo điều kiện tốt nhất cho việc học tập của các em. Giáo dục ngày nay nhằm phát triển toàn diện nhân cách của học sinh. Học sinh biết áp dụng những kiến thức đó vào trong cuộc sống hàng ngày. Chính vì vậy mà mỗi học sinh phải nhận thức tự giác việc học tập của mình, ý thức được việc học tập là cần thiết đối với bản thân. Phải kiên trì và quyết tâm trong học tập để đạt được kết quả cao nhất. Vì khả năng có hạn nên bài viết không sao tránh khỏi thiếu sót. Tôi rất mong có sự đóng góp ý kiến của các cấp lãnh đạo, giúp cho bài giảng của tôi ngày càng hoàn thiện hơn, kiến thức dày hơn, trình độ chuyên môn vững vàng hơn để đào tạo thế hệ mới trở thành những con người hữu ích cho đất nước. Tôi xin chân thành cảm ơn !

Một Số Biện Pháp Rèn Kĩ Năng Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 4

Ngày viết : 5 – 12 – 2012

Ngày trình bày : 7 – 12 – 2012

Người viết : Dương Quang Bình

Trong chương trình môn toán ở lớp 4, giải toán có lời văn giữ một vai trò quan trọng. Thông qua việc giải toán các em thấy được nhiều khái niệm toán học như : các số tự nhiên, các phép tính, các đại lượng, các yếu tố hình học… đều có nguồn gốc trong cuộc sống hiện thực, trong thực tiễn hoạt động của con người, thấy được mối quan hệ biện chứng giữa các sự kiện, giữa cái đã cho và cái phải tìm. Qua việc giải toán, rèn luyện cho học sinh năng lực tư duy và những đức tính của con người mới. Có ý thức vượt khó khăn, đức tính cẩn thận, làm việc có kế hoạch, thói quen xét đoán có căn cứ, thói quen tự kiểm tra kết quả công việc của mình, có óc độc lập suy nghĩ, óc sáng tạo, giúp học sinh vận dụng các kiến thức, rèn luyện kỹ năng tính toán, kĩ năng ngôn ngữ. Đồng thời qua việc giải toán của học sinh mà giáo viên có thể dễ dàng phát hiện những ưu điểm hoặc thiếu sót của các em về kiến thức, kĩ năng, tư duy để giúp học sinh phát huy những mặt đạt được và khắc phục những mặt còn thiếu sót.

Chính vì vậy việc đổi mới phương pháp dạy toán có lời văn ở cấp tiểu học chung và lớp 4 nói riêng là một việc rất cần thiết mà mỗi giáo viên tiểu học cần phải nâng cao chất lượng học toán cho học sinh.

Qua thực tế dạy học, tôi xin trình bày một số biện pháp giải toán có lời văn mà tôi đã từng sử dụng :

1. Khảo sát phân loại chất lượng học sinh đầu năm:

Qua khảo sát chất lượng đầu năm, phân loại được các đối tượng học sinh trong lớp : Giỏi- Khá- TB- Yếu để từ đó lựa chọn biện pháp phụ đạo thích hợp.

2. Nắm chắc nội dung chương trình môn toán lớp 4:

Môn Toán lớp 4 được Bộ GD & ĐT ban hành và quy định để thực hiện trong cả nước, mỗi tuần 5 tiết x 35 tuần = 175 tiết . Chương trình giải toán có lời văn ở lớp 4 được chú trọng vào các dạng sau:

+ Tìm 2 số khi biết tổng và hiệu của 2 số

+ Tìm số trung bình cộng.

+ Tìm 2 số khi biết tổng (hiệu) và tỉ số của 2 số đó.

+ Giải bài toán về đại lương tỉ lệ.

Các dạng toán được bố trí đan xen với các bài toán về số học, GV phải nắm chắc chương trình để nghiên cứu SGK, SGV, tài liệu tham khảo nhằm xây dựng kế hoạch bài dạy phù hợp với đối tượng HS để lên lớp đạt được kết quả cao.

3. Nâng cao chất lượng giờ dạy trên lớp:

Đây là biện pháp trọng tâm, để HS nắm chắc cách giải toán có lời văn, người GV cần hướng dẫn HS nắm được các bước chung trước khi làm bài.

+ Đọc kĩ đề toán để xác định yêu cầu của đề (những điều đã cho và những cái phải tìm)

+ Tóm tắt đề toán bằng sơ đồ, hình vẽ, ngôn ngữ, kí hiệu ngắn gọn.

+ Phân tích đề toán để tìm cách giải.

+ Giải bài toán và thử lại.

Ví dụ 1 : (Bài toán về Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó.)

Tổng của hai số là 70. Hiệu của hai số là 10. Tìm hai số đó.

Với bài toán trên tôi hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề bài và giải bài toán như sau :

+ Bước 1 : Yêu cầu HS đọc kĩ đề bài, xác định được tổng và hiệu của 2 số sau đó tìm số bé, số lớn.

+ Bước 2: HS trao đổi theo nhóm đôi để tự tóm tắt bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng như sau:

Tóm tắt : Số lớn :

10 70

Số bé :

Bước 3 : Trình bày bài giải :

Tìm số bé :

(70 – 10) : 2 = 30

Tìm số lớn :

70 – 30 = 40 (hoặc 30 + 10 = 40)

Đáp số : Số bé : 30

Số lớn : 40

(Tìm tổng của hai số : 30 + 40 = 70 ; Hiệu của hai số : 40 – 30 = 10)

Ví dụ 2 : ( Bài toán về Tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đó.)

Hiệu của 2 số là 85. Tỉ số của 2 số đó là 3/8. Tìm 2 số đó?

Với bài toán trên tôi hướng dẫn HS giải theo các bước sau:

+ Bước 1: Yêu cầu HS đọc kĩ đề bài, xác định được tổng và tỉ số của 2 số. Tự dự kiến cách tóm tắt bài toán theo dữ liệu của đề bài.

+ Bước 2: HS trao đổi theo nhóm đôi để tự tóm tắt bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng như sau :

Số bé :

85

Số lớn :

+ Bước 3 : Dựa vào sơ đồ để phân tích bài toán, tìm phương án giải.

GV hướng dẫn HS phân tích bài toán theo các câu hỏi sau:

– Nhìn vào sơ đồ em thấy : Giá trị của số bé gồm mấy phần ? Giá trị của số lớn gồm mấy phần như thế ?

– Hiệu của 2 số là bao nhiêu ?

– Muốn tìm giá trị một phần em làm thế nào ?

– Khi tìm được giá trị 1 phần, ta cần tìm những gì tiếp theo?

+ Bước 4 : Giải bài toán và thử lại kết quả.

Hiệu số phần bằng nhau là : 8 – 3 = 5 ( Phần )

Giá trị một phần là : 85 : 5 = 17

Số bé là : 17 x 3 = 51

Số lớn là : 51 + 85 = 136

Đáp số : Số bé: 51

Số lớn: 136

Thử lại : Tính hiệu của 2 số : 136 – 51 = 85 (Đúng theo dữ liệu đầu bài )

4. Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS:

GV làm tốt công tác kiểm tra đánh giá thường xuyên và định kỳ về kết quả học tập của HS để nắm bắt kịp thời việc vận dụng, rèn kỹ năng giải toán có lời văn của HS cả lớp, từ đó phân loại HS theo các trình độ để tự điều chỉnh về mục tiêu đối với từng bài dạy cụ thể cho phù hợp với các nhóm đối tượng HS của lớp. Bên cạnh công tác kiểm tra, đánh giá HS, còn giúp cho GV tự điều chỉnh về hình thức tổ chức dạy học, điều chỉnh về phương pháp dạy học sao cho kết quả các tiết dạy đạt được mục tiêu đã đề ra. GV luôn quan tâm, giúp đỡ những em HS có kết quả học tập môn toán nói chung và giải toán có lời văn đạt kết quả chưa cao để các em có hướng vươn lên.

5. Tự tin và quyết tâm thực hiện việc đổi mới phương pháp dạy học:

Để phát huy tính tích cực, chủ động, say mê học tập môn Toán nói chung và giải bài toán có lời văn nói riêng cho các em học sinh, giáo viên phải tự tin và quyết tâm trong việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học. Phải kết hợp nhuần nhuyễn và linh hoạt các phương pháp dạy học truyền thống và hiện đại như : Phương pháp thuyết trình, giảng giải và minh họa, gợi mở vấn đáp, trực quan, thực hành luyện tập. Tăng cường tổ chức các hoạt động học tập cá thể phối hợp với học tập hợp tác.

6. Tổ chức các trò chơi toán học :

Tổ chức cho HS tham gia các trò chơi học tập kết hợp trong các tiết dạy. GV phải xác định rõ kiến thức và kĩ năng của trò chơi. Chuẩn bị chu đáo, hướng dẫn rõ ràng cách chơi, luật chơi, thực hiện đúng lúc với các trò chơi hợp lý, cân đối với các hoạt động của tiết dạy. Tổ chức các trò chơi trong toán học như : Tiếp sức, ai đúng ai nhanh,…

Thông qua việc tổ chức thành công các trò chơi, GV đã tạo không khí thoải mái, nhẹ nhàng, kích thích các hoạt động học tập của HS. Củng cố chắc chắn các kiến thức, kĩ năng cần đạt trong tiết dạy cho HS.

Nam Phước, ngày 5 tháng 12 năm 2012

Người viết

Dương Quang Bình

Dương Quang Bình @ 14:58 06/12/2012 Số lượt xem: 622

Bạn đang đọc nội dung bài viết Skkn Rèn Luyện Kĩ Năng Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 2 trên website Asianhubjobs.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!