Top 8 # Xem Nhiều Nhất Giải Vở Bài Tập Ngữ Văn 9 Mới Nhất 1/2023 # Top Like | Asianhubjobs.com

Vở Bài Tập Ngữ Văn Lớp 9 (Tập 1)

Vở Bài Tập Ngữ Văn Lớp 9 (Tập 1)

Để phát huy tính chủ động trong việc học, bên cạnh sự có mặt của giáo viên, các loại tài liệu tham khảo cũng đóng vai trò hết sức quan trọng và cần thiết, đặc biệt là với môn học đòi hỏi sự nhạy bén, tinh tế như môn Văn.

Cuốn Vở Bài Tập Ngữ Văn Lớp 9 (Tập 1) được biên soạn bám sát nội dung sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 9. Sách gồm các bài tập Ngữ Văn đa dạng có gợi ý làm bài cụ thể nhằm giúp các em có thể tự học tốt môn Ngữ văn một cách chủ động, sáng tạo.

Sách bao gồm 17 bài học với các nội dung:

– Thực hành phần Đọc – hiểu văn bản các văn bản văn học.

– Thực hành Tiếng Việt thông qua các bài tập dưới hình thức bảng biểu và điền vào chỗ trống.

– Thực hành các thao tác kĩ năng lập luận , diễn đạt và tạo lập thành văn bản ở phần Tập làm văn.

Giải Vở Bài Tập Ngữ Văn 9 Bài 14: Lặng Lẽ Sa Pa

Giải VBT Ngữ văn 9 Lặng lẽ Sa Pa

Giải vở bài tập Ngữ văn 9 bài 14: Lặng lẽ Sa Pa

1. Nhận xét về cốt truyện và tình huống cơ bản của truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa Trả lời:

– Cốt truyện đơn giản xoay quanh tình huống gặp gỡ của các nhân vật tại trạm khí tượng trên đỉnh Yên Sơn

– Tình huống truyện là cơ hội để tác giả khắc họa bức chân dung nhân vật chính qua cái nhìn và nhận xét của các nhân vật khác đồng thời để nhân vật chính có dịp bộc lộ suy nghĩ và cảm xúc của mình về công việc, về cuộc sống

2. Nhà văn Nguyễn Thành Long có viết: Nghĩ cho cùng Lặng lẽ Sa Pa là một bức chân dung như tôi có nói trong đó. Đó là bức chân dung của ai? Vì sao tác giả lại gọi truyện của mình là một bức chân dung? Trả lời:

– Đó là bức chân dung người thanh niên làm công tác khí tượng, ở một mình tại trạm khí tượng trên núi cao, giữa cái lặng lẽ của Sa Pa

– Tác giả gọi truyện của mình la một bức chân dung bởi vì:

+ Thứ nhất, vì tác giả chỉ để cho nhân vật xuất hiện trong cuộc gặp gỡ ngắn ngủi với ba nhân vật khác (ông họa sĩ, cô kĩ sư và bác lái xe). Cuộc sống, tình cảm và suy nghĩ của anh chỉ được hiện ra qua lời kể của bác lái xe, qua sự quan sát của ông họa sĩ, cô kĩ sư và qua một đôi lời bộc bạch tâm sự của chính anh. Vì thế, nhân vật chính chỉ hiện ra ở một số nét đẹp trong cách sống và suy nghĩ, chưa thể được khắc họa rõ nét về tính cách hay số phận.

+ Thứ hai, truyện ngắn này có cốt truyện hết sức đơn giản, không có xung đột, cũng không có nút thắc hay cao trào như phần lớn các truyện ngắn khác.

+ Thứ ba, nhân vật anh thanh niên được người họa sĩ già quan sát và muốn thể hiện bằng một bức chân dung.

3. Câu 2, tr. 189, SGK Trả lời:

– Sự xuất hiện và vị trí của nhân vật trong truyện: anh thanh niên là nhân vật chính của truyện. Nhân vật này không xuất hiện ở đầu truyện mà chỉ hiện ra trong cuộc gặp gỡ với ông họa sĩ, cô gái trẻ, bác lái xe khi xe của họ dừng lại nghỉ

– Hoàn cảnh sống và làm việc: anh sống một mình trên núi cao hai nghìn sáu trăm mét, quanh năm suốt tháng với cỏ cây muông thú. Công viêc của anh là: “Đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động của mặt đất, tham gia vào việc dự báo thời tiết hằng ngày phục vụ sản xuất, phục vụ chiến đấu”

– Những nét đẹp ở nhân vật:

+ Anh là một người có suy nghĩ đẹp: anh có quan niệm đúng đắn về hạnh phúc, về lẽ sống

+ Anh có hành động đẹp: anh vượt qua khó khăn gian khổ, sống một mình trên đỉnh núi cao trong sự cô đơn tuyệt đối để làm nhiệm vụ một cách tự giác, có kết quả cao

+ Anh có lối sống đẹp: tổ chức sắp xếp cuộc sống ngăn nắp chủ động, chân thành cởi mở, quan tâm đến mọi người,…..

– Nghệ thuật xây dựng nhân vật: chân dung một nhân vật được khắc họa với những nét đẹp trong suy nghĩ, hành động, tình cảm, cách sống

→ Anh là người rất tiêu biểu cho tầng lớp thanh niên trong cuộc xây dựng đất nước ở nơi khó khăn gian khổ.

4. Câu 3, tr. 189, SGK Trả lời:

– Nhân vật ông họa sĩ:

+ Là người khát khao cống hiến, khát khao sáng tác, luôn tìm kiếm vẻ đẹp trong cuộc sống để đưa vào nghệ thuật khi gặp anh thanh niên “Họa sĩ đã bắt gặp một điều mà thật ra ông vẫn ao ước được biết. Ôi, một nét thôi cũng đủ khẳng định một tâm hồn, khơi gợi một ý sáng tác, một nét mới đã là giá trị một chuyến đi dài”

+ Ông xúc động, trân trọng vẻ đẹp tâm hồn con người đặc biệt là vẻ đẹp của anh thanh niên “Chao ôi! Bắt gặp một con người như anh ta là cơ hội hân hữu cho sáng tác”. Ông thấy anh thật đáng yêu nhưng anh làm cho “ông nhọc lòng quá với những điều ta suy nghĩ về anh và những điều anh suy nghĩ”

– Các nhân vật phụ khác (cô kĩ sư, bác lái xe)

+ Cô gái khi từ biệt, “Cô chìa tay ra cho anh nắm, cẩn trọng, rõ ràng, như người ta trao cho nhau cái gì chứ không phải là cái bắt tay”. Anh thanh niên đã giúp cô hiểu ý nghĩa đích thực của lao động, là cả sự thầm lặng cống hiến cho đời,… Những điều đó sẽ giúp cô vững vàng hơn trong những bước đầu tiên vào đời.

→ Như vậy các nhân vật khác trong truyện đều góp phần khắc họa đậm nét thêm cho nhân vật chính và nội dung của truyện

5. Câu 4, tr. 189, SGK Trả lời:

– Các chi tiết tạo nên chất trữ tình trong truyện:

+ Chất trữ tình của tác phẩm toát lên từ vẻ đẹp của thiên nhiên Sa Pa thơ mộng được miêu tả qua cái nhìn của người họa sĩ già thấm đượm những suy nghĩ về cuộc đời về con người, về nghệ thuật

+ Chất trữ tình toát lên từ nội dung câu chuyện: từ cuộc gặp gỡ tình cờ mà để lại nhiều dư vị, từ những nét đẹp giản dị trìu mến của người thanh niên, từ những câu chuyện về cuộc sống một mình của anh thanh niên giữa lặng lẽ Sa Pa, từ những tình cảm cảm xúc mới nảy nở của ông họa sĩ, cô kĩ sư với anh thanh niên

– Tác dụng của yếu tố trữ tình:

+ Chất trữ tình tạo nên sự hấp dẫn đặc biệt của tác phẩm làm cho truyện như một bài thơ.

6. “Những điều suy nghĩ đúng đắn bao giờ cũng có những vang âm, khơi gợi bao điều suy nghĩ khác trong óc người khác, có sẵn mà chưa rõ hay chưa được đúng” (Nguyễn Thành Long, Lặng lẽ Sa Pa). Điều suy nghĩ nào của một nhân vật trong truyện mà em thấy tâm đắc nhất. Hãy phát biểu cảm nghĩ của em về điều đó. Trả lời:

– Trong văn bản “Lặng Lẽ Sa Pa” những suy nghĩ của ông họa sĩ về con người lao động miệt mài cống hiến trong cái lặng lẽ của Sa Pa đã để lại cho em nhiều tâm đắc nhất

– Ngay từ những phút ban đầu gặp gỡ anh thanh niên, bằng sự từng trải nghề nghiệp và niềm khao khát của người nghệ sĩ đi tìm đối tượng của nghệ thuật, ông đã xúc động và bối rối.

– Ông muốn ghi lại hình ảnh anh thanh niên bằng nét bút kí họa và “người con trai ấy đáng yêu thật nhưng làm cho ông nhọc quá”.

– Những xúc cảm và suy tư của nhân vật ông họa sĩ về người thanh niên và về những điều khác nữa được gợi lên từ câu chuyện của anh làm cho chân dung nhân vật chính thêm sáng đẹp và tạo nên chiều sâu tư tưởng

Giải Vở Bài Tập Ngữ Văn 9 Bài 8: Lục Vân Tiên Cứu Kiều Nguyệt Nga

Giải VBT Ngữ văn 9 Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga

Giải vở bài tập Ngữ văn 9 bài 8: Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga

1. Câu 2, tr. 115, SGK Trả lời:

– Hình ảnh Lục Vân Tiên trong đoạn trích là một chàng trai nghĩa hiệp, tài giỏi, không chịu nổi cảnh “bất bình”:

Vân Tiên ghé lại bên đàng,

Bẻ cây làm gậy nhằm làng xông vô…

– Vân Tiên tả đột hữu xông/ Khác nào Triệu Tử phá vòng Đương Dang

Hành động đó thể hiện tính cách anh hùng, tài năng và tấm lòng cao thượng của Vân Tiên. Hình ảnh Vân Tiên trong trận đánh được miêu tả theo phong cách văn chương cổ, đó là theo cách so sánh với mẫu hình lí tưởng Triệu Tử Long (Triệu Vân) một mình phá vòng vây của Tào Tháo trong trận Đương Dang (Đương Dương) nổi tiếng.

– Thái độ cư xử của Vân Tiên với Kiều Nguyệt Nga sau khi đánh cướp cũng thể hiện rõ bản chất của con người hào hiệp, trọng nghĩa khinh tài, từ tâm, nhân hậu. Tuy có màu sắc của lễ giáo phong kiến (Khoan khoan ngồi đó chớ ra/ Nàng là phận gái, ta là phận trai) nhưng đoạn thơ vẫn thể hiện đức tính khiêm nhường đáng quý của chàng.

2. Qua những lời nói và cử chỉ của Kiều Nguyệt Nga, em thấy được những vẻ đẹp gì ở nhân vật này? Trả lời:

– Con gái khuê các, thùy mị, nết na, có học thức: xưng hô “tiện thiếp – quân tử”, lời nói khiêm nhường, mực thước; thái độ kính trọng, hàm ơn.

– Trọng tình nghĩa: nhận sự cứu giúp của Vân Tiên, mong được trả ơn chàng, nàng còn tỏ ra rất áy náy, tìm mọi cách để trả ơn chàng, và ý thức sâu sắc rằng: Lấy chi cho phỉ tấm lòng cũng ngươi

– Người con hiếu thảo: vâng lời cha mẹ làm lễ nghi gia dù lòng không muốn.

3. Ở đạo trích các nhân vật được khắc họa chủ yếu băng phương thức nào trong những cách sau?

A, Miêu tả chân dung ngoại hình nhân vật

B, Diễn tả nội tâm nhân vật qua ý nghĩ và cảm xúc

C, Miêu tả nhân vật qua hành động lời nói

Các miêu tả nhân vật như thế gần với loại truyện nào?

Trả lời:

– Các nhân vật chủ yếu được khắc họa bằng phương thức: Miêu tả qua hành động lời nói

– Cách miêu tả nhân vật như thế gần với loại truyện: cổ tích, truyện kể thời trung đại

4. Câu 5, tr. 115, SGK Trả lời:

– Ngôn ngữ mộc mạc bình dị gần với lời nói thông thường và mang sắc màu Nam bộ. Nó có phần thiếu trau chuốt uyển chuyển nhưng lại phù hợp với người kể truyện, dễ đi vào quần chúng

– Ngôn ngữ đa dạng phù hợp với diễn biến tình tiết

Giải Vở Bài Tập Ngữ Văn 9 Bài 9: Lục Vân Tiên Gặp Nạn (Trích Truyện Lục Vân Tiên)

Giải VBT Ngữ văn 9 Lục Vân Tiên gặp nạn

Giải vở bài tập Ngữ văn 9 bài 9: Lục Vân Tiên gặp nạn

1. Qua sự việc Lục Vân Tiên gặp nạn, đoạn thơ đã làm nổi bật sự đối lập của những lực lượng nào và đại diện cho mỗi phía là những nhân vật nào? Thái độ của tác giả ra sao khi thể hiện sự đối lập ấy? Trả lời:

– Trong đoạn trích có sự đối lập rõ rệt giữa hai phía:

+ Cái thiện: Vân Tiên, ông Ngư, giao long dưới sông

+ Cái ác: Trịnh Hâm

– Qua đó tác giả thể hiện thái độ lên án phe phái cái ác đồng thời thể hiện niềm tin vào những điều tốt đẹp ở đời.

2. Việc hãm hại Vân Tiên đã được Trịnh Hâm sắp đặt và hành động như thế nào? Vì sao Trịnh Hâm quyết định hại Vân Tiên? Hành động ấy đã thể hiện bản chất gì ở nhân vật Trịnh Hâm? Trả lời:

– Việc hãm hại Vân Tiên được Trịnh Hâm sắp đặt và hành động khá kĩ lưỡng, chặt chẽ.

+ Thời gian gây tội ác: giữa đêm khuya, khi mọi người đã yên ngủ trên thuyền.

+ Không gian: giữa khoảng trời nước mênh mông (giữa vời “mịt mờ sương bay”).

+ Người bị xô ngã xuống “vời” thì bất ngờ không kêu lên một tiếng. Đến lúc biết không ai còn có thể cứu được Vân hắn mới “giả tiếng kêu trời”, la lối um sùm lên, rồi “lấy lời phôi pha” kể bịa đặt để che lấp tội ác của mình. Kẻ tội phạm, nhờ gian ngoa xảo quyệt đã phủi sạch tay, không mảy may cắn rứt lương tâm.

– Trịnh Hâm quyết hãm hại Vân Tiên vì ganh ghét đố kị tài năng của Vân Tiên

– Hành động ấy đã thể hiện bản chất độc ác, bất nhân, bất nghĩa của Trịnh Hâm

3. Phân tích ý nghĩa của chi tiết giao long cứu Vân Tiên đưa vào bãi sông: Trả lời:

– Chi tiết ấy được tác giả thêm vào tạo nên màu sắc huyền hoại cho truyện thơ: trời đất cũng không thể phụ một con người tốt đẹp như Vân Tiên nên đã để giao long – một loài thủy quái đến cứu Vân Tiên, cái thiện mà Vân Tiên đại diện đã cảm hóa được loài thủy quái vốn đại diện cho cái ác

– Chi tiết ấy cũng làm nổi bật một sự thật cay đắng ở đời: đôi khi con người ta còn ác hơn cả loài lang sói

4. Phân tích hai câu thơ: Hối con vầy lửa…. mụ hơ mặt mày để làm rõ tấm lòng nhân từ của ông Ngư và gia đình. Trả lời:

– Mặc dù không quen biết nhưng khi Vân Tiên gặp nạn thì cả một gia đình ông Ngư xúm vào cứu chữa, sẵn sóc:

+ Con thì “vầy lửa”, đốt lửa lên, sưởi ấm người chết đuối

+ Hai vợ chồng, người thì “hơ bụng dạ” người thì “hơ mặt mày” cho Vân Tiên:

– “Hối” nghĩa là hối hả, giục giã, cách nói biểu cảm dân dã của người nông dân Nam Bộ. Trong văn cảnh, nó thể hiện sự lo lắng cho tính mệnh người bị nạn, biểu lộ tình thương người bao la của ông Ngư.

→Việc cứu người của gia đình Ngư ông như một lẽ tự nhiên, không chút đắn đo tính toán, điều đó cho thấy lòng nhân từ thương người như thể thương thân đã là bản chất tự nhiên trong những con người ấy

5. Qua những lời của ông Ngư em cảm nhận như thế nào về vẻ đẹp trong quan niệm và cách sống của nhân vật này? Nguyễn Đình Chiểu đã gửi gắm điều gì ở nhân vật ông Ngư? Trả lời:

– Vẻ đẹp trong quan niệm và cách sống của nhân vật ông Ngư:

+ Ông Ngư mang trong mình tình nhân ái mênh mông, coi trọng tình người, cả đời phấn đấu cho lí tưởng nhân nghĩa cao cả:

Ngư rằng: “Lòng lão chẳng mơ, Dốc lòng nhơn nghĩa há chờ trả ơn. Nước trong rửa ruột sạch trơn, Một câu danh lợi chi sờn lòng đây”.

+ Ở ông Ngư còn chứa đựng một tâm hồn thanh cao. Ông đã chan hòa, gắn bó với thiên nhiên. Sông dài biển rộng, trời cao là môi trường thảnh thơi, vui thú của ông. Suốt đêm ngày, năm tháng, ông đã lấy doi, vịnh, chích, đầm, lấy bầu trời, lấy Hàn Giang làm nơi vẫy vùng, tìm nguồn vui sống. Ông đã lấy gió và trăng, con thuyền và dòng sông làm bầu bạn. Ông đã lấy công việc chài lưới để sống cuộc đời thanh bạch. Ông Ngư là một con người tự do, thoát vòng danh lợi, thích nhàn. Câu thơ vang lên như một tuyên ngôn đẹp về lẽ sống của một nhà nho, một kẻ sĩ chân chính đang sống giữa thời loạn lạc:

Rày doi, mai vịnh vui vầy, Ngày kia hứng gió đêm nầy chơi trăng. (…) Thuyền nan một chiếc ở đời, Tắm mưa chải gió trong vời Hàn Giang.

– Những điều tác giả đã gửi gắm vào nhân vật ông Ngư: quan niệm và khát vọng về một cuộc sống đẹp, về niềm tin ở cái thiện vẫn tồn tại bền vững nơi những con người lao động bình dị trong dân gian