Top 9 # Xem Nhiều Nhất Soạn Văn 8 Lời Giải Hay Cô Bé Bán Diêm Mới Nhất 5/2023 # Top Like | Asianhubjobs.com

Soạn Văn Lớp 8 Bài Cô Bé Bán Diêm Ngắn Gọn Hay Nhất

Soạn văn lớp 8 bài Cô bé bán diêm ngắn gọn hay nhất : Câu 2 (trang 68 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1): Trong phần đầu, nhà văn đã tạo dựng hoàn cảnh (gia đình, cuộc sống) và bối cảnh (thời gian, không gian) của em bé bán diêm như thê nào? Những hình ảnh tương phản (đối lập, đặt gần nhau, làm nổi bật lẫn nhau) ở đây được thế hiện ra sao và nhằm mục đích nghệ thuật cụ thể gì?

Soạn văn lớp 8 bài Từ ngữ địa phương và biệt ngữ xã hội Soạn văn lớp 8 bài Tóm tắt văn bản tự sự

Soạn văn lớp 8 trang 68 tập 1 bài Cô bé bán diêm ngắn gọn hay nhất

Câu hỏi bài Cô bé bán diêm tập 1 trang 68

Câu 1 (trang 68 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

Hãy xác định ba phần (chỗ bắt đầu, chỗ kết thúc từng phần) của bài này nếu lấy việc em bé quẹt từng que diêm làm phần trọng tâm. Căn cứ vào đâu đế có thể chia phần thứ hai (phần trọng tâm) thành những đoạn nhỏ hơn?

Câu 2 (trang 68 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

Trong phần đầu, nhà văn đã tạo dựng hoàn cảnh (gia đình, cuộc sống) và bối cảnh (thời gian, không gian) của em bé bán diêm như thê nào? Những hình ảnh tương phản (đối lập, đặt gần nhau, làm nổi bật lẫn nhau) ở đây được thế hiện ra sao và nhằm mục đích nghệ thuật cụ thể gì?

Câu 3 (trang 68 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

Các mộng tưởng của em bé qua các lần quẹt diêm (lò sưởi, bàn ăn, cây thông Nô-en, người bà, hai bà cháu bay đi) diễn ra lần lượt có hợp lí không? Vì sao? Trong các mộng tưởng ấy, diều nào gắn với thực tế, điều nào thuần túy chỉ là tưởng tượng?

Câu 4 (trang 68 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

Hãy phát biếu những cảm nghĩ của mình về truyện “Cô bé bán diêm” (trích), nói chung và về đoạn kết của truyện nói riêng.

Sách giải soạn văn lớp 8 bài Cô bé bán diêm

Trả lời câu 1 soạn văn bài Cô bé bán diêm trang 68

Văn bản chia làm 3 phần:

– Phần 1 (từ đầu … cứng đờ ra) Hoàn cảnh đáng thương của cô bé bán diêm

– Phần 2 ( tiếp … chầu Thượng đế) những lần quẹt diêm của em bé

– Phần 3 (còn lại): Cái chết của em bé và thái độ của mọi người.

Căn cứ vào những lần quẹt diêm của cô bé để xác định những đoạn nhỏ.

+ Ba lần quẹt đầu tiên ước mơ về lò sưởi, đồ chơi, thức ăn hiện ra.

+ Lần thứ 4, người bà hiện lên hiền hậu

+ lần thứ 5 cô bé quẹt hết số diêm trong hộp để níu giữ hình ảnh người bà.

Trả lời câu 2 soạn văn bài Cô bé bán diêm trang 68

– Gia cảnh của cô bé bán diêm:

+ Gia cảnh sa sút, mồ côi mẹ, bà ngoại mất

+ Sống với người bố hay mắng nhiếc, chửi rủa, đánh đập trên căn gác sát mái nhà

– Hình ảnh cô bé bán diêm:

+ Đầu trần, chân đất, bụng đói, dò dẫm đường

+ Cả ngày không bán được bao diêm nào

– Thời gian: đêm giao thừa

– Không gian: ngoài đường phố lạnh lẽo, mọi nhà đều sáng rực đèn

+ trong phố sực nức mùi ngỗng quay

– Những hình ảnh đối lập nhằm khắc họa nỗi khổ cực của cô bé:

Trả lời câu 3 soạn văn bài Cô bé bán diêm trang 68

– Mộng tưởng của cô bé bán diêm hiện ra hợp lý với thực tế:

+ Muốn được sưởi ấm và ăn no: lò sưởi, ngỗng quay

+ Khao khát được sum họp gia đình bên cây thông No-el

+ Muốn được vui vẻ bên người bà hiền hậu

+ Cảnh hai bà cháu bay lên trời: thoát khỏi những đau buồn

– Mộng tưởng gắn với thực tế: lò sưởi, ngỗng quay, cây thông

– Mộng tưởng thuần túy là mộng tưởng: gặp lại người bà

Trả lời câu 4 soạn văn bài Cô bé bán diêm trang 68

Cảm nghĩ về cô bé bán diêm:

– Cô bé có hoàn cảnh đáng thương, tội nghiệp:

+ Sống trong cảnh thiếu thốn về vật chất lẫn tinh thần

+ Phải bươn chải kiếm sống ngay từ khi còn rất nhỏ.

– Ước mơ của em thực tế, giản dị và hồn nhiên:

+ Mơ no ấm, sum vầy bên gia đình

+ Muốn được vui chơi đúng với lứa tuổi của em

– Em bé tội nghiệp chết đói và chết rét ngoài đường

Đoạn kết truyện:

– Cảnh tượng cô bé bán diêm chết vì giá rét nhưng miệng vẫn mỉm cười- đây là sự tưởng tượng của tác giả, giảm bớt sự đau thương.

– Cái chết lúc này là sự cứu rỗi- hai bà cháu bay về chầu Thượng đế.

– Cái kết vừa có sự bi thương, vừa mang màu sắc cổ tích (phản ánh ước mơ, khát vọng được hạnh phúc, ấm no của con người)

Tags: soạn văn lớp 8, soạn văn lớp 8 tập 1, giải ngữ văn lớp 8 tập 1, soạn văn lớp 8 bài Cô bé bán diêm ngắn gọn , soạn văn lớp 8 bài Cô bé bán diêm siêu ngắn

Soạn Văn 8 Vnen Bài 6: Cô Bé Bán Diêm

Soạn văn 8 VNEN Bài 6: Cô bé bán diêm

A. Hoạt động khởi động

1. Đọc thông tin sau về An-Đéc-xen. giới thiệu một tác phẩm của An-đéc-xen mà em đã hiểu học đã xem qua phim ảnh.

2. Nêu cảm xúc, suy nghĩa của em khi đọc lời dẫn cho đoạn trích Cô bé bán diêm: Đêm giao thừa, trời rét mướt. Một cô bé nhà nghèo, mồ côi mẹ, đầu trần, chân đất , bụng đói đang dò dẫm trong bóng tối. Suốt cả ngày em không bán được một que diêm nào…

2. Lời dẫn khiến em có thể tượng tượng ra hình ảnh một cô bé đáng thương đang phải một mình chịu đói, chịu rét giữa đêm giao thừa buốt giá. Mọi người đều được ở trong căn nhà ấm áp của mình, có người qua đường thì cũng vội vã đến nơi hẹn, không một ai quan tâm đến cô bé tội nghiệp. Hình ảnh cô bé khiến người đọc xót thương. Thế nhưng, những con người xung quanh em lại không hề vậy. Em tự hỏi, người thân của cô bé đâu? Những người xung quang của cô bé, không có lấy một ai thương cho hoàn cảnh của cô hay sao?

B. Hoạt động hình thành kiến thức

1. (trang 44, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Đọc văn bản sau: Cô bé bán diêm

2. (trang 47, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Tìm hiểu văn bản

a. Trình bày bố cục của văn bản

b. Trao đổi để trả lời câu hỏi sau:

(1) Thời gian, không gian xảy ra câu chuyện gây ấn tượng gì cho người đọc?

(2) Tìm những hình ảnh tương phản( đối lập, đặt gần nhau, làm nổi bật lẫn nhau có trong ăn bản vào cho biết nhà văn đã sử dụng nhiều hình ảnh tương phản như vậy nhằm mục đích gì.

(3) Vì sao nói những mộng tưởng của cô bé qua các lần quẹt diêm( lò sưởi, bàn ăn, cây thông nô-en, người bà, bà cháu bay lên trời) diễn ra theo trình tự hợp lí

(4) Trong những mộng tưởng của cô bé bán diêm điều nào diễn ra đúng với thực tế, điều nào chỉ là mộng tưởng?

c. Nhận xét về giá trị nội dung và nghệ thuật của truyện Cô bé bán diêm

a. Bố cục của văn bản sẽ phân chia theo 3 phần:

– Phần 1 (từ đầu … cứng đờ ra): Hoàn cảnh đáng thương của cô bé bán diêm

– Phần 2 ( tiếp … chầu Thượng đế): những lần quẹt diêm của em bé

– Phần 3 (còn lại): Cái chết của em bé và thái độ của mọi người.

Căn cứ vào những lần quẹt diêm của cô bé để xác định những đoạn nhỏ.

+ Ba lần quẹt đầu tiên ước mơ về lò sưởi, đồ chơi, thức ăn hiện ra.

+ Lần thứ 4, người bà hiện lên hiền hậu

+ lần thứ 5 cô bé quẹt hết số diêm trong hộp để níu giữ hình ảnh người bà.

b. Trả lời các câu hỏi:

(1)

– Thời gian: đêm giao thừa

– Không gian:

+ ngoài đường phố lạnh lẽo, mọi nhà đều sáng rực đèn

+ trong phố sực nức mùi ngỗng quay

(2) – Những hình ảnh tương phản:

– Mục đích:

Những hình ảnh tương phản này làm nổi bật lên tình cảnh thảm thương, tội nghiệp của cô bé, tội nghiệp hơn nữa là bà và mẹ cô bé mất, em phải sống với người bố bạo lực. Đồng thời, các hình ảnh cũng thể hiện rõ những mơ ước nhỏ nhoi của em.

(3) Mộng tưởng của cô bé bán diêm hiện ra hợp lý với thực tế vì:

+ Cô bé muốn được sưởi ấm và ăn no: ước lò sưởi, ngỗng quay

+ Cô bé khao khát được sum họp gia đình bên cây thông No-el

+ Cô bé muốn được vui vẻ bên người bà hiền hậu

+ Cô bé mong muốn thoát khỏi những đau buồn: Cảnh hai bà cháu bay lên trời

(4)

– Mộng tưởng gắn với thực tế: lò sưởi, ngỗng quay, cây thông

– Mộng tưởng chỉ là mộng tưởng: gặp lại người bà

c. Nhận xét:

* Nội dung: Truyện kể về cuộc đời của cô bé bán diêm đầy bất hạnh. Qua đó, tác giả muốn tố cáo sự thờ ơ, ghẻ lạnh của xã hội lúc bấy giờ đã vô tình đẩy những người nghèo khổ “cô bé” vào cái chết đầy thương tâm.

* Nghệ thuật: Nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn; đan xen giữa hiện thực và mộng tưởng; tình tiết truyện diễn biến hợp lí; …

3. (trang 47, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Tìm hiểu về trợ từ

a. Thực hiện yêu cầu trong phiếu học tập

(1) Đọc các câu dưới đay và trả lời câu hỏi:

* Nó ăn hai bát cơm * Nó ăn những hai bát cơm * Nó ăn có hai bát cơm

Nghĩa của các câu trên có ý nghĩa khác nhau như thế nào?

Vì sao có sự khác nhau đó

* Từ những câu Nó ăn những hai bát cơm và từ có trong câu Nó ăn có hai bát cơm đi kèm từ nào và biểu thị thái độ gì của người nói?

(2) Tìm ví dụ tương tự như các câu trên

b. Đọc thông tin sau và bổ sung ví dụ về trợ từ:

Trợ từ là những từ chuyên đi kèm một từ ngữ trong câu để nhấn mạnh hoặc biếu thị thái độ đánh giá sự vật, sự việc được nói đến ở từ ngữ đó Ví dụ: những, có, chính,………

a. Thực hiện yêu cầu trong phiếu học tập

(1) – Đọc các câu:

– Giải thích sự khác nhau:

Các câu trên có sự khác nhau là bởi vì có thêm các trợ từ những và có.

– Các từ “những” và “có” đều đi kèm cụm từ “hai bát cơm” nhằm biểu thị mức độ đánh giá, nhấn mạnh biểu thị sự vật, sự việc được nói đến trong câu.

(2) Tìm VD tương tự :

* Lan được tận 8 điểm môn Toán.

* Lan được có 8 điểm môn Toán.

b. Đọc thông tin và thêm ví dụ:

Trợ từ là những từ chuyên đi kèm một từ ngữ trong câu để nhấn mạnh hoặc biếu thị thái độ đánh giá sự vật, sự việc được nói đến ở từ ngữ đó Ví dụ: những, có, chính, đích, ngay, chỉ, thị, cái,…..

4. (trang 48, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Tìm hiểu về thán từ

a. Các từ in đậm trong những đoạn trích sau đây biểu thị điều gì ?

(1) Này ! Ông giáo ạ ! Cái giống nó cũng khôn ! Nó cứ làm in như nó trách tôi; nó kêu ư ừ, nhìn tôi, như muốn hảo tôi rằng: ” A ! Lão già tệ lắm ! Tôi ăn ở với lão như thế mà lão xử với tôi như thế này à ?”.

(2) – Này, bảo bác ấy có trốn đi đâu thì trốn. Chứ cứ nằm đấy, chốc nữa họ vào thúc sưu, không có, họ lại đánh trói thì khổ. Người ốm rề rề như thế, nếu lại phải một trận đòn, nuôi mấy tháng cho hoàn hồn.

– Vâng , cháu cũng đã nghĩ như cụ. Nhưng để cháo nguội, cháu cho nhà cháu ăn lấy vài húp cái đã.

* Các từ ấy có thể làm thành một câu độc lập.

* Các từ ấy không thể làm thành một câu độc lập.

* Các từ ấy không thể làm một bộ phận của câu.

* Các từ ấy có thể cùng những từ khác làm thành một câu và thường đứng đầu câu.

c. Đọc thông tin sau và bổ sung ví dụ về thán từ:

Thán từ là những từ dùng để bộc lộ tình cảm, cảm xúc của người nói hoặc dùng để gọi đáp. Thán từ thường đứng đầu câu, có khi được tách ra thành một câu đặc biệt Thán từ có hai loại chính: * Thán từ bộc lội tình cảm, cảm xúc, ví dụ: a,ái,…………. * Thán từ gọi đáp, ví dụ: này, ơi,……………

a. Các từ in đậm trong những đoạn trích biểu thị các nội dung:

+ Từ “này” để gọi, thu hút sự chú ý của người đối diện.

+ Từ “a” bộc lộ cảm xúc tức giận khi nhận ra điều xấu đang ập đến

+ Từ “vâng” thể hiện sự lễ phép của người bề dưới với người bề trên.

b. Lựa chọn 2 đáp án:

* Các từ ấy có thể thành một câu độc lập

* Các từ ấy có thể cùng những từ khác làm thành một câu và thường đứng đầu câu.

c. Hoàn thiện nội dung:

Thán từ là những từ dùng để bộc lộ tình cảm, cảm xúc của người nói hoặc dùng để gọi đáp. Thán từ thường đứng đầu câu, có khi được tách ra thành một câu đặc biệt Thán từ có hai loại chính: * Thán từ bộc lội tình cảm, cảm xúc, ví dụ: a,ái, ôi, ối, chà, eo ơi, hỡi, hỡi ai, trời ơi, khổ quá, chao ôi, … * Thán từ gọi đáp, ví dụ: này, ơi, ê, vâng,….

C. Hoạt động luyện tập

1. (trang 49, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Viết đoạn văn phát biểu cảm nghĩ của em về nhân vật truyện Cô bé bán diêm hoặc về đoạn kết của truyện.

Học sinh chọn nội dung mình muốn viết rồi xây dựng thành đoạn văn. Có thể tham khảo một số nội dung cơ bản cho mỗi đoạn như sau:

(1) Cảm nghĩ về cô bé bán diêm:

– Cô bé có hoàn cảnh đáng thương, tội nghiệp:

+ Sống trong cảnh thiếu thốn về vật chất lẫn tinh thần

+ Phải bươn chải kiếm sống ngay từ khi còn rất nhỏ.

– Ước mơ của em thực tế, giản dị và hồn nhiên:

+ Mơ no ấm, sum vầy bên gia đình

+ Muốn được vui chơi đúng với lứa tuổi của em

– Em bé tội nghiệp chết đói và chết rét ngoài đường

(2) Cảm nghĩ về đoạn kết truyện:

– Cảnh tượng cô bé bán diêm chết vì giá rét nhưng miệng vẫn mỉm cười- đây là sự tưởng tượng của tác giả, giảm bớt sự đau thương.

– Cái chết lúc này là sự cứu rỗi cô bé khỏi cuộc sống khổ cực – hai bà cháu bay về với Thượng đế.

– Cái kết vừa có sự bi thương, vừa mang màu sắc cổ tích (phản ánh ước mơ, khát vọng được hạnh phúc, ấm no của con người).

2. (trang 49, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Luyện tập sử dụng trợ từ, thán từ

a. Tìm câu có từ in đậm là trợ từ

(1) Chính thầy hiệu trưởng đã tặng tôi quyển sách này

(2) Chị Dậu là nhân vật chính của tác phẩm Tắt đèn

(3) Ngay tôi cũng không biết đến việc này

(4) Bạn phải nói ngay điều này cho cô giáo biết

(5) Cha tôi là công nhân

(6)Cô ấy đẹp ơi là đẹp.

(7)Tôi nhớ mãi những kỉ niệm thời niên thiếu.

(8)Tôi nhắc anh những ba bốn lần mà anh vẫn quên.

(1) Nhưng đời nào tình thương yêu và lòng kính mến mẹ tôi lại bị những rắp tâm tanh bẩn xâm phạm đến…. Mặc dầu non một năm ròng mẹ tôi không gửi cho tôi lấy một lá thư, nhắn người thăm tôi lấy một lời và gửi cho tôi lấy một đống quà.

(2) Hai đứa mê nhau lắm. Bố mẹ đứa con gái biết, nên cũng bằng lòng gả. Nhưng họ thách nặng quá: nguyên tiền mặt phải một trăm đồng bạc, lại còn cau, còn rượu… cả cưới nữa thì mất đến cứng hai trăm bạc.

(1) Đột nhiên lão bảo tôi:

Này! Thằng cháu nhà tôi, đến một năm nay, chẳng có giấy má gì đấy, ông giáo ạ!

À! Thì ra lão đang nghĩ đến thằng con lão

(2) Con chó là của cháu nó mua đấy chứ!… Nó mua về nuôi, định để đến lúcc cưới vợ thì giết thịt… Ấy ! Sự đời lại cứ thường như vậy đấy. Người ta định rồi chẳng bao giờ người ta làm được.

(3) Chao ôi! Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố tìm mà hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, hần tiện, xấu xa, hỉ ổi… toàn những cớ dể cho ta tàn nhẫn […]

d. Các thán từ in đậm trong những câu dưới dây biểu lộ cảm xúc gì?

(1) Lũ chuột bò lên chạn, leo lên bác Đồng Nồi. ũ chuột hò lên chạn, leo lên bác Nồi Đồng. Năm sáu thằng xúm lại húc mồm vào, cố mãi mới lật được cái vung nồi ra. Ha ha! Cơm nguội ! Lại có một bát cá kho! Cá rô kho khế: vừa dừ vừa thơm. Chít chít, anh em ơi, lại đánh chén đi thôi!”

Bác Nồi Đồng run như cầy sấy : “Bùng boong. Ái ái ! Lạy các cậu, các ông, ăn thì ăn, nhưng đừng đánh đổ tôi xuống đất. Cái chạn cao thế này, tôi ngã xuống không vỡ cũng bẹp, chết mất !”.

(Nguyễn Đình Thi, Cái tết của Mèo Con)

(2) Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu ?

(Thế Lữ, Nhớ rừng)

a. Những câu có trợ từ là:

(1) Chính thầy hiệu trưởng đã tặng tôi quyển sách này.

(3) Ngay tôi cũng không biết đến việc này.

(6) Cô ấy đẹp ơi là đẹp.

(8)Tôi nhắc anh những ba bốn lần mà anh vẫn quên.

b. Giải thích:

* Trợ từ “lấy” có tác dụng nhấn mạnh mức tối thiểu, tới việc đã rất lâu không nhận được bất cứ một lá thư, lời hỏi thăm, sự quan tâm của mẹ.

* Trợ từ “nguyên” nhấn mạnh duy chỉ một thứ. Trợ từ “đến” nhấn mạnh mức độ cao, làm ít nhiều ngạc nhiên.

* Trợ từ “cả” biểu thị nhấn mạnh về mức độ cao, ý bao hàm.

* Trợ từ “cứ” biểu thị nhấn mạnh thêm về sắc thái khẳng định, không kể khách quan như thế nào.

c. Tìm thán từ:

(1) này, à

(2) ấy

(3) chao ôi

d. Các thán từ bộc lộ cảm xúc:

+ Ha ha: bộc lộ sự sảng khoái, sung sướng trước những phát hiện thú vị

+ Ái ái: tiếng thốt lên khi bị đau đột ngột ( sự sợ hãi)

+ Than ôi: biểu thị sự đau buồn, tiếc nuối

3. (trang 50, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Kết hợp các yếu tố kể, tả và biểu lộ tình cảm trong văn bản tự sự.

a. Đọc đoạn văn sau và thực hiện các yêu cầu:

Xe chạy chầm chậm…………….trả lời mẹ tôi những câu gì.

* Tìm và chỉ ra các yếu tố miêu tả và các yếu tố biểu cảm trong đoạn văn trên. Các yếu tố này đứng riêng hay đan xen với yếu tố tự sự ?

* Nếu lược bỏ đi các yếu tố miêu tả và biểu cảm thì việc kể chuyện trong đoạn văn trên sẽ bị ảnh hưởng như thế nào?

* Nếu lược bỏ đi các yếu tố kế chuyện, chỉ để lại các câu văn miêu tả và biểu cảm thì đoạn văn sẽ bị ảnh hưởng ra sao ?

– Tìm yếu tố miêu tả và biểu cảm:

* Các yếu tố miêu tả:

+ Xe chạy chầm chậm. Tôi thở hồng hộc, trán đẫm mồ hôi, và khi trèo lên xe tôi ríu cả chân lại

+ Mẹ tôi không còm cõi xơ xác như cô tôi nói

+ Gương mặt mẹ tôi vẫn tươi sáng với đôi mắt trong và nước da mịn, làm nổi bật màu hồng của hai gò má

+ Hơi quần áo của mẹ tôi và những hơi thở ở khuôn miệng xinh xắn… thơm tho lạ thường.

* Yếu tố biểu cảm:

+ Tôi òa lên khóc rồi cứ thế nức nở.

+ Hay tại sự sung sướng bỗng chốc được trông thấy cái hình hài… sung túc?

+ Tôi thấy những cảm giác ấm áp… khắp da thịt

+ Phải bé lại và lăn vào lòng… êm dịu vô cùng

* Các yếu tố miêu tả và biểu cảm này đan xen cùng với yếu tố tự sự

– Nếu không có các yếu tố miêu tả và biểu cảm, đoạn văn toàn yếu tố kể chuyện thì sẽ rất khô khan, chỉ toàn chuỗi sự việc; Người đọc không cảm nhận được tình cảm, không thấy được biểu hiện cảm xúc của nhân vật.

– Nếu bỏ hết các yếu tố tự sự, trong đoạn văn chỉ để lại yếu tố miêu tả và biểu cảm thì đoạn văn sẽ lộn xộn. Phải có yếu tố là cốt, những yếu tố miêu tả, biểu cảm thêm vào tạo cảm xúc và lớp lang.

b.Vai trò: Các yếu tố miêu tả và biểu cảm làm cho việc kể chuyện sinh động và sâu sắc hơn.

c. Yếu tố kể người, kể việc: Giúp cho người đọc biết và liên kết các nhân vật/sự việc lại với nhau theo một trình tự nhất định, từ đó hiểu được nội dung/ý nghĩa của văn bản tự sự đó.

D. Hoạt động vận dụng

1. (trang 50, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Đặt 3 câu với 3 thán từ khác nhau.

+ Ôi! Chú chuồn chuồn ớt mới đẹp làm sao.

+ Trời ơi! Con làm gì mà bày đồ bừa ra nhà thế?

+ Chao ôi, món ăn này ngon tuyệt!

2. (trang 50, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Hãy viết đoạn văn kể lại một hoặc một vài sự việc của truyện Cô bé bán diêm, trong đó có sử dụng yếu tố miêu tả và biểu cảm.

Em hơ đôi tay trên que diêm sáng rực như than hồng. Chà ! Ánh sáng kỳ diệu làm sao ! Em tưởng chừng như đang ngồi trước một lò sưởi bằng sắt có những hình nổi bằng đồng bóng nhoáng. Trong lò, lửa cháy nom đến vui mắt và tỏa ra hơi nóng dịu dàng. Thật là dễ chịu ! Đôi bàn tay em hơ trên ngọn lửa; bên tay cầm diêm, cái ngón cái nóng bỏng lên. Chà ! Khi tuyết phủ kín mặt đất, gió bấc thổi vun vút mà được ngồi hàng giờ như thế, trong đêm đông rét buốt, trước một lò sưởi, thì thích biết bao!

(Chú thích:

Phần in đậm: yếu tố miêu tả

Phần gạch chân: yếu tố biểu cảm)

E. Hoạt động tìm tòi mở rộng

Tìm yếu tố miêu tả và biểu cảm trong một số văn bản tự sự đã học như: Tôi đi học(Thanh Tinh), Tức nước vỡ bờ (Ngô Tất Tố), Lão Hạc(Nam Cao),…. Từ đó, phân tích tác dụng của các yếu tố này trong văn bản.

Soạn Bài Cô Bé Bán Diêm (Chi Tiết)

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Câu 1 Trả lời câu 1 (trang 68 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1): Hãy xác định ba phần (chỗ bắt đầu, chỗ kết thúc từng phần) của bài này nếu lấy việc em bé quẹt từng que diêm làm phần trọng tâm. Căn cứ vào đâu đế có thể chia phần thứ hai (phần trọng tâm) thành những đoạn nhỏ hơn? Lời giải chi tiết:

– Bố cục:

– Phần 1 (từ đầu… “cứng đờ ra”): Hoàn cảnh đáng thương của cô bé bán diêm.

– Phần 2 (tiếp… “chầu Thượng đế”): Những lần quẹt diêm những mơ ước giản dị hiện ra.

– Phần 3 (còn lại): Cái chết của cô bé bán diêm và thái độ của mọi người.

– Căn cứ vào những lần quẹt diêm của cô bé để xác định những đoạn nhỏ.

+ Ba lần quẹt đầu tiên ước mơ về lò sưởi, đồ chơi, thức ăn hiện ra.

+ Lần thứ 4, người bà hiện lên hiền hậu

+ Lần thứ 5 cô bé quẹt hết số diêm trong hộp để níu giữ hình ảnh người bà.

Nhìn chung, truyện diễn biến theo trình tự ba phần mạch lạc, hợp lí.

Câu 2 Trả lời câu 2 (trang 68 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1): Trong phần đầu, nhà văn đã tạo dựng hoàn cảnh (gia đình, cuộc sống) và bối cảnh (thời gian, không gian) của em bé bán diêm như thê nào? Những hình ảnh tương phản (đối lập, đặt gần nhau, làm nổi bật lẫn nhau) ở đây được thế hiện ra sao và nhằm mục đích nghệ thuật cụ thể gì? Lời giải chi tiết:

– Gia cảnh của cô bé bán diêm:

+ Gia cảnh sa sút, mồ côi mẹ, bà ngoại mất

+ Sống với người bố hay mắng nhiếc, chửi rủa, đánh đập trên căn gác sát mái nhà

– Hình ảnh cô bé bán diêm:

+ Đầu trần, chân đất, bụng đói, dò dẫm đường

+ Cả ngày không bán được bao diêm nào

– Thời gian: đêm giao thừa

– Không gian: ngoài đường phố lạnh lẽo, mọi nhà đều sáng rực đèn

+ trong phố sực nức mùi ngỗng quay

– Những hình ảnh tương phản: An-đéc-xen trong tác phẩm này đã sứ dụng nhiều hình ảnh tương phản:

+ “Trời đông giá rét tuyết rơi” khác cô bé “đầu trần, chân đi đất”.

+ Ngoài đường phố lạnh buốt và tối đen khác cửa sổ mọi nhà đều sáng rực ánh đèn. Cô bé bụng đói vì cả ngày chưa ăn uống gì khác “trong phố sực nức mùi ngỗng quay”.

⟹ Những hình ảnh tương phản này được chọn lọc, nhằm nêu bật tình cảnh tội nghiệp, đáng thương của cô bé vừa rét vừa đói vừa khổ.

Câu 3 Trả lời câu 3 (trang 68 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1): Các mộng tưởng của em bé qua các lần quẹt diêm (lò sưởi, bàn ăn, cây thông Nô-en, người bà, hai bà cháu bay đi) diễn ra lần lượt có hợp lí không? Vì sao? Trong các mộng tưởng ấy, diều nào gắn với thực tế, điều nào thuần túy chỉ là tưởng tượng? Lời giải chi tiết:

– Mộng tưởng của cô bé bán diêm hiện ra hợp lý với thực tế:

+ Muốn được sưởi ấm và ăn no: lò sưởi, ngỗng quay

+ Khao khát được sum họp gia đình bên cây thông No-el

+ Muốn được vui vẻ bên người bà hiền hậu

+ Cảnh hai bà cháu bay lên trời: thoát khỏi những đau buồn

– Mộng tưởng gắn với thực tế: lò sưởi, ngỗng quay, cây thông

– Mộng tưởng thuần túy là mộng tưởng: gặp lại người bà

⟹ Những mộng tưởng của cô bé bán diêm cũng là mộng tưởng chung của bất kì đứa trẻ nào cùng cảnh ngộ: muốn ấm no, hạnh phúc bên gia đình.

Câu 4 Trả lời câu 4 (trang 68 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1): Hãy phát biếu những cảm nghĩ của mình về truyện “Cô bé bán diêm” (trích), nói chung và về đoạn kết của truyện nói riêng. Lời giải chi tiết:

– Cảm nghĩ về truyện:

Cô bé bán diêm là một truyện ngắn đặc sắc. Câu chuyện thật thương tâm. Hạnh phúc đến với cô bé đáng thương ở đây không thể nào có được trên trần thế mà chỉ có trong ước mơ, trong mộng tưởng. Khi sắp sửa lìa đời, người đời đều ghẻ lạnh, chi có mẹ cô và bà nội của cô là thương yêu cô hết lòng nhưng cả hai đều không còn trên đời này nữa. Bố cô vì nghèo khó nên lúc nào cũng cau có, cũng luôn luôn mắng nhiếc, chứa rủa cô. Trong cái xã hội thiếu hẳn tình thương ấy, nhà văn An-đéc-xen đã nhỏ những giọt nước mắt của lòng nhân đạo xuống số phận cô bé đáng thương. Hình ảnh thi thế cô với đôi má hồng và đôi môi đang mỉm cười và cảnh huy hoàng hai bà cháu bay lên trời để đón lấy những niềm vui đầu năm chính là niềm ưu ái mà nhà văn dành cho những số phận đau khổ.

– Cảm nghĩ về đoạn kết truyện:

Cảnh tượng cô bé bán diêm chết vì giá rét nhưng miệng vẫn mỉm cười – đây là sự tưởng tượng của tác giả, giảm bớt sự đau thương. Cái chết lúc này là sự cứu rỗi – hai bà cháu bay về chầu Thượng đế. Cái kết ấy vừa có sự bi thương lại vừa mang màu sắc cổ tích đó là sự phản ánh ước mơ, khát vọng được hạnh phúc, ấm no của con người.

Tóm tắt

Đêm giao thừa, trời rét mướt. Một cô bé bán diêm nghèo, mồ côi mẹ, đầu trần, chân đất, bụng đói dò dẫm đi trong bóng tối. Em không dám về nhà vì sợ bố đánh, vì em không bán được que diêm nào. Ngồi nép một góc tường, em quẹt một que diêm sưởi ấm. Quẹt que diêm đầu tiên, em tưởng như ngồi trước lò sưởi, vừa duỗi chân ra sưởi thì diêm vụt tắt. Que diêm thứ hai, em thấy bàn ăn thịnh soạn…rồi diêm vụt tắt. Que diêm thứ ba thấy cây thông Nô-en, em với tay về phía cây… diêm tắt. Que diêm thứ tư, thật kì diệu, em nhìn thấy người bà hiền hậu độc nhất với em, nhưng bà đã chết từ lâu. Rồi diêm vụt tắt, em quẹt hết cả bao diêm để níu bà. Rồi em cùng bà bay lên cao. Sáng hôm sau, người ta đã thấy một cô bé bán diêm chết vì giá rét, má hồng và đôi môi mỉm cười.

ND chính

Qua câu chuyện về cô bé đáng thương, nhà văn đã đưa đến chúng ta một thông điệp ý nghĩa: Lòng thương cảm trước số phận của trẻ thơ bất hạnh, hãy phấn đấu vì một tương lai cho tuổi thơ tốt đẹp tràn đầy hạnh phúc.

chúng tôi

Soạn Bài Cô Bé Bán Diêm (Ngắn Gọn)

– Truyện này có thể chia làm ba phần:

+ Từ đầu đến… đôi bàn tay đã cứng đờ ra: em bé bán diêm ngồi trong bóng tối và giá rét của đêm giao thừa.

+ Từ “Chà! Giá rét quẹt một que diêm… “đến” về chầu Thượng đế”: em bé quẹt một số que diêm và tưởng như trông thấy nhiều cảnh đáng thèm muốn.

+ Từ ” Sáng hôm sau… ” đến ” em đã chết trong những ảo ảnh kì diệu “. cái chết thương tâm của cô bé bán diêm.

Chia phần 2 của văn bản thành những đoạn nhỏ căn cứ vào từng lần quẹt diêm:

– Lần 1: hiện lên chiếc lò sưởi.

– Lần 2: hiện lên bàn ăn thịnh soạn.

– Lần 3: hiện lên cây thông Nô-en.

– Lần 4: em được gặp bà.

Câu 2:

– Gia cảnh: cô bé bán diêm nghèo, mồ côi mẹ, bà nội đã qua đời, em sống với người bố khó tính luôn mắng nhiếc, đánh đập.

– Thời gian: đêm giao thừa. Không gian: mọi nhà sáng đèn, ngỗng quay, ngoài đường tối tăm, lạnh lẽo.

* Những hình ảnh tương phản được sử dụng khắc hạ nỗi khổ cực của cô bé:

Câu 3.

Những mộng tưởng của cô bé qua các lần quẹt diêm diễn ra theo thứ tự hợp lí, phù hợp với hoàn cảnh thực tế và tâm lí em bé: Lạnh (lò sưởi) → đói (bàn ăn) → ao ước đêm giao thừa (cây thông Nô-en) → cô đơn, khổ cực (nhớ đến người bà hiền hậu). Trong đó, có điều thứ 4 (em gặp bà) thuần túy là mộng tưởng.

Câu 4.

– Truyện Cô bé bán diêm mang tính nhân đạo sâu sắc về những mảnh đời bất hạnh.

– Đoạn kết của truyện:

+ Là một bi kịch đau thương, cái chết một cô bé trong cô đơn giá lạnh, trong đói khát, trong đêm giao thừa, một cái chết đầy xót xa.

+ Nhìn một mặt khác, ” đôi má hồng và đôi môi đang mỉm cười” , cái chết của sự giải thoát, em cùng bà về chầu Thượng đế, em đi vào cõi bất tử cùng người bà hiền hậu độc nhất với em.

chúng tôi