Top 9 # Xem Nhiều Nhất Sự Thật Giải Phóng Miền Nam Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Asianhubjobs.com

Một Sự Thật Về Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam

Vì vậy mà mới khi mở miệng là chị thích dùng tiếng Pháp hơn tiếng Việt, hoặc có thói quen pha lẫn tiếng Pháp vào lời nói và mỗi khi đi giao dịch bên ngoài thì chị tự lái xe lấy chớ không phải nhờ tài xế đưa đi. Vậy chị Bảy Hồng là ai ? Không ai khác hơn là bà bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, Bộ Trưởng Y Tế của chính phủ lâm thời Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam, nhân vật đứng hàng thứ hai về phái nữ, sau bà Nguyễn Thị Bình trong Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.

Cái bí danh Bảy Hồng mà bà chọn cũng bao hàm nhiều ý nghĩa, Bà là con thứ bảy trong gia đình. Từ ngày bà tham gia MTGPMN do bọn quỷ đỏ miền Bắc nặn ra, để chứng tỏ cho Bác và Đảng thấy rằng bà đã thấm nhuần lời dạy của Bác là “cán bộ trí thức Xã Hội Chủ Nghĩa phải vừa Hồng vừa Chuyên”, mà Hồng là gốc, còn Chuyên chỉ là ngọn, cho nên bà không ngần ngại dán cái nhãn hiệu Bảy Hồng vào người bà. Đối với đồng bào Việt Nam thì bà Bình chỉ mới được nhiều người biết tới khi bà xuất hiện trong phái đoàn VC tại hội đàm Ba-Lê mà thôi. Riêng bà Dương Quỳnh Hoa thì hầu như đồng bào vùng Saigon-Chợ Lớn không ai là không biết hoặc nghe tiếng, vì bà là một bác sĩ y khoa khá nổi tiếng. Bà có phòng mạch tại tư thất, một ngôi biệt thự đẹp đẻ ở gốc đường Hồng Thập Tự và Huyện Thanh Quan.

Bà là con của ông Dương Văn Th., người Việt lai Tàu, giáo sư kỳ cựu của trường trung học lớn nhất của Sàigon thời xưa, trường Petrus Ký. Vì gia đình bà thuộc “trâm anh thế phiệt” của miền Nam nên anh em bà đều được gởi sang Pháp du học và tất cả đều thành tài. Ít nhất bà và một người anh đã làm việc cho CSVN như là những gián điệp.

Sau khi tốt nghiệp đại học Y khoa Pháp vào khoảng năm 1954 (24 tuổi), bà trở về Saigon để hành nghề, chuyên về sản và nhi khoa. Ngay từ khi tới Pháp, Hoa đã làm việc cho Đảng Cộng sản VN ngay từ năm 1948 (18 tuổi) và tham gia đảng CS Pháp năm 1954. Khi trở về Saigon, Hoa có nhiệm vụ tổ chức và móc nối với các bác sĩ cùng giới trí thức để dụ họ vào bưng hay tham gia hoạt động cho đảng CS. Hoa đã trở thành một tay nằm vùng đắc lực cho cộng sản. Ngoài thời gian làm việc tại bịnh viện Nhi Đồng, bà mở phòng mac.h tư vào sáng sớm và chiều tối mỗi ngày. Phòng mạch của bà hồi đó rất đông khách. Vốn xuất thân từ một gia đình giàu có lại thành công trong nghề nghiệp, nên chẳng bao lâu sau bà đã trở nên triệu phú. Thế nhưng trong xã hội Việt Nam đối với một phụ nữ có nhan sắc, có bằng cấp cao và giàu có như bà thì ít có đấng nam nhi nào dám ngấp nghé tới. Bạn bè của bà, ngay cả các đồng nghiệp cũng ngại tới lui, vì vậy mà bà chỉ thường giao thiệp với bạn bè ngoại quốc nhiều hơn là Việt Nam.

* Tình yêu, cạm bẫy và công tác “nằm vùng” :

Dưới thời Đệ Nhất Cộng Hoà, bác sĩ Trần Văn Th. là một nhân vật rất có uy thế. Ông tuy lớn tuổi nhưng vẫn còn độc thân, ăn nói lịch thiệp, lại hào hoa phong nhã mà cũng nhiều thủ đoạn. Ngoài chức vụ Tổng Giám Đốc Thông Tin được xếp ngang hàng một Bộ Trưởng và làm việc trực tiếp dưới quyền Tổng Thống Diệm, bác sĩ Th. còn được ông cố vấn Nhu ủy thác việc theo dõi các nhà trí thức có tư tưởng thân cộng hoặc trung lập. Vốn đã nghi ngờ bà Hoa từ lâu nhưng biết là khó chinh phục được bà vì hàng rào tuổi tác, nên ông Th. đã dựa vào công tác mật vụ của ông để lôi cuốn bà. Ông đã lập hồ sơ trình ông cố vấn về những hoạt động của bà Hoa có liên hệ với những tổ chức thân Cộng trong khi bà còn là sinh viên ở Pháp. Thế là bác sĩ Th. được giao nhiệm vụ theo dõi hành tung của bà Hoa. Việc hoạch mưu thiết kế như đã thành. Bác sĩ Th. bèn thả mồi để nhử cho bà sa vào bẩy để hốt VC mà bẩy “tình” là để ông ôm gọn con mồi vào lòng. Là một bác sĩ được tin dùng, lại có nhiều thủ đoạn thì tránh sao con nai tơ không bị lọt bẩy. Nào vuốt ve, nào dụ dỗ, nào đe doạ, nào cảnh cáo, có bao nhiêu ngón nghề ông bác sĩ già đều trổ ra hết. Cho nên chỉ vài tháng sau, đôi bạn đồng nghiệp đã trở thành đôi bạn tình, cũng thắm thiết, cũng say sưa, cũng thơ mộng như bất cứ mối tình đầu nào. Tuy không cưới hỏi chính thức nhưng cặp tình nhân nầy đã chung sống những năm thật đầm ấm và hạnh phúc bên nhau. Cho tới 11/63. Tổng Thống Diệm bị giết, bác sĩ Th. cũng bị rơi đài.

Bác sĩ Vương Quang Trường lên làm Tổng Trưởng Y Tế, liền đẩy ông Th. làm Giám đốc bịnh viện Lâm Đồng. Vì không thể bỏ Saigon (!) nên Hoa đành ở lại Thế là 2 người phải tạm xa nhau. Ở Lâm Đồng được một thời gian thì bác sĩ Th. lại “cua” một cô nữ hộ sinh trưởng làm việc dưới quyền rồi lấy cô nầy làm vợ mà bỏ rơi người tình cũ vừa sang, vừa giàu, đang bị theo dõi ở Saigon. Bị phản bội trắng trợn và tàn nhẫn, Hoa đã sống trong những chuổi ngày vô cùng dau khổ và oán hờn. Trong cảnh tuyệt vọng đó, ngoài giờ bù đầu làm việc ở bịnh viện, bà cố đi tìm một lối thoát : chính trị. Bà tiếp xúc với nhóm trí thức. Vì nhóm Trịnh Đình Thảo lúc đó đã có liên hệ với CS nên một thời gian ngắn sau khi gia nhập vào nhóm nầy bà Hoa đã bị Tổng Nha Cảnh Sát bắt giam vài tuần rồi được thả. Tới khi VC mở cuộc tổng công kích vào dịp Tết Mậu Thân. Tướng Nguyễn Ngọc Loan lúc bấy giờ là Tổng Giám Đốc Cảnh sát Quốc gia bố ráp nhóm Trịnh Đình Thảo rất gắt gao và đã bắt giam một số người trong nhóm. Vì hoảng sợ, Hoa liền mang vàng bạc bỏ trốn vào bưng gia nhập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.

* Công tác sau khi gia nhập MTGPMN :

Sau khi hiến tất cả của cải mang theo cho Trung Ương Cục miền Nam bà Dương Quỳnh Hoa được bổ nhiệm vào chức vụ Bộ trưởng Y tế, Xã hội và Thương binh của chính phủ lâm thời nầy, chẳng qua là tổ chức bù nhìn và dàn cảnh của CSBV nhằm lừa bịp quốc tế mà thôi. Tất cả quyền hành đều nằm gọn trong “Cục R” đặt dưới quyền điều khiển của Hà Nội. Ở “Cục R” một thời gian ngắn thì bà Hoa ra Hà Nội. Bộ Chính Trị của đảng muốn lợi dụng khả năng và địa vị của Hoa để đẩy mạnh mặt trận ngoại giao trên chính trường quốc tế. Vốn biết bà là một nhà trí thức có tên tuổi ở miền Nam, đã từng du học Pháp và nói tiếng Pháp lưu loát, nên bọn lãnh đạo ở Hà Nội cử bà đi công tác lưu động tại Pháp và Âu châu để vận động hậu thuẩn ngoại giao và viện trợ cho MTGPMN, đồng thời xúc tiến công tác trí thức vận trong giới Việt kiều và sinh viên VN tại Âu châu. Suốt thời gian nầy, bà thường xuyên có mặt ở Pháp nhiều hơn là ở “Cục R”. Và cũng trong thời gian nầy bà đã chính thức kết hôn với một kỹ sư ngành điện toán, hoạt động trong Hội Việt Kiều Yêu Nước, một tổ chức tay sai của VC tại Pháp… Ngay những ngày đầu sau khi Saigon bị đổi chủ, bà trở lại ngôi biệt thự cũ khi xưa của bà…

* Hoạt động sau 1975 của Dương Quỳnh Hoa.

Trong những tháng đầu tiên sống dưới chế độ CS, người dân miền Nam rất hoang mang lo sợ. Ngay sau sau khi tiến chiếm miền Nam, vì Việt Cộng chưa thiết lập xong guồng máy cai trị và kiểm soát từ các thành thị tới khắp vùng nông thôn, bọn lãnh đạo Hà Nội đã áp dụng một chính sách mềm dẻo, cởi mở và nương tay để cho dân chúng khỏi hoang mang, dao động; mặt khác để trấn an công chức và quân nhân các cấp theo chế độ cũ còn kẹt lại, chúng đã dụ dỗ họ hợp tác với chúng bằng cách khai báo tất cả những tin tức cùng tài nguyên của các cơ quan dân và quân sự từ trung ương tới địa phương. Vì vậy chúng mới đưa ra chiêu bài hoang mang lo sợ. Ngay sau sau khi tiến chiếm miền Nam, vì Việt Cộng chưa thiết lập xong guồng máy cai trị và kiểm soát từ các thành thị tới khắp vùng nông thôn, bọn lãnh đạo Hà Nội đã áp dụng một chính sách mềm dẻo, cởi mở và nương tay để cho dân chúng khỏi hoang mang. Trong buổi lễ mừng chiến thắng được tổ chức vào ngày 15/5/1975, người ta thấy tất cả các nhân vật trong ban lãnh đạo MTGPMN ngồi cùng hàng với các Ủy Viên Bộ Chính Trị của Đảng và các Bộ trưởng trong chính phủ Hà Nội. Trong phần giới thiệu, bà Hoa được xưng tụng bằng những từ ngữ thật cao sang, bóng lộn :”Ủy viên đoàn Chủ tịch MTGPMN, kiêm Bộ trưởng Xã hội, Y tế và Thương binh, Chính phủ Lâm Thời Cộng Hoà miền Nam Việt Nam”. Trên thực tế, cái chính phủ Lâm thời đó chỉ là một tấm bình phong và các vai trò mà Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Thị Bình và Dương Quỳnh Hoa đang đóng lúc đó chỉ là vai trò bung xung., hữu danh vô thực.

Tuy giữ chức Bộ trưởng Y Tế nhưng mọi chủ trương, đường lối của Bộ đều phát xuất từ Hà Nội và mọi quyết định đều nằm gọn trong tay của Nguyễn Văn Thủ, bí danh Bảy Chi, nguyên trưởng ban Dân Y “Cục R” và là tay chân của Phạm Hùng. Tên Nguyễn Văn Thủ vốn là nha sĩ tốt nghiệp tại Pháp, theo Việt Cộng từ năm 1965 và là Trưởng ban Y Tế của Quốc hội kiêm Chủ tịch hội Hồng Thập Tự Việt Cộng. Vì vậy mà bà Bộ Trưởng Hoa lâm vào tình cảnh “ngồi chơi xơi nước”. Không có việc gì làm nên ngày ngày bà chỉ lái xe đi hết bịnh viện nầy đến bịnh viện nọ để đóng vai con két mòng, chuyên giải thích, tuyên truyền chủ trương và đường lối của CS cho các nhân viên y tế thuộc chế độ cũ nghe để họ yên tâm phục vụ “Cách Miệng”.

Đến đầu năm 1977, sau khi đã nắm được trọn quyền kiểm soát miền Nam rồi thì Hà Nội chính thức khai tử Mặt Trận Giải phóng Miền Nam và chính phủ Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam, hai công cụ mà chúng đã nặn ra từ năm 1960, và bà Hoa cũng mất luôn chức Bộ Trưởng Y Tế. Các nhân vật lãnh đạo trong MTGPMN sau đó đều được nâng lên hàng Phó hết, nào là Phó Chủ Tịch, Phó Thủ Tướng, Phó Chủ Nhiệm, v.v…trong cơ cấu chính quyền trung ương Hà Nội. Những ai đã từng sống trong chế độ Việt Nam Cộng Hoà đều biết là người ở ngôi vị Phó trong bất cứ một tổ chức, một cơ quan nào ắt hẳn thấm thía về vai trò “yes man” nầy.

Đã bị ngồi chơi xơi nước ngót hai năm trời, nay lại bị cho về vườn nữa, bà Hoa nay mới thấm thía cái trò vắt chanh bỏ vỏ cố hữu của CS. Nhưng dù uất hận tới đâu, cay cú đến mấy thì một khi đã bước vào cái thòng lọng khắc nghiệt của CS rồi có mấy ai còn hy vọng để thoát ra ? Cho nên bà đành xếp cái bằng Y Khoa Bác Sĩ do trường Đại Học Y Khoa Ba Lê cấp phát cho bà cách đây hơn 20 năm vào tủ cho cho mối và dán gậm tỉa dần, và ngày ngày cùng với người nhà lái xe vào nông trại của bà ở Cầu Sơn (Thị Nghè) để vui với đàn heo và đám rẫy.

Khốn thay, họa vô đơn chí. Một hôm trên đường lái xe đi sang Cầu Sơn, có lẽ lòng bà ngỗn ngang trăm mối tơ vò, hận người tình xưa bội bạc, cay lũ đồng chí mặt người dạ thú, chỉ biết lợi dụng bà khi còn thế cô, sức yếu ở trong bưng biền, tới ngày chiến thắng thì loại bà ra khỏi chính trường để chúng độc quyền thao túng, cho nên bà đã lỡ tay tông vào chiếc xe Honda và cán chết tên Thiếu tá CS đang lái chiếc xe gắn máy đi ngược chiều. Với tâm thần từ lâu bất định, hoang mang, nay lại cán chết người, bà vô cùng bối rối và đã hành động một cách dại dột : bà cùng người nhà khiêng xác tên Thiếu tá VC bỏ lên xe, chở thẳng vào nhà xác của Bảo sanh viện Từ Dũ để dấu và mướn nhân viên nhà xác ở đây chôn cất để phi tang. Nhưng sau đó, thân nhân của tên Thiếu tá tử nạn phát giác được, tố cáo bà. CS đã cho bà ngồi chầu rìa từ khuya rồi nhưng việc bắt giam một nhân vật chính trị của MTGPMN, mà nhân vật nầy lại là đàn bà, xét ra sẽ gây ảnh hưởng bất lợi về chính trị cho chúng, nên bọn lãnh đạo ở Hà Nội đã ra lịnh cho Sở Công An Saigon tạm tha bà, và ban cho bà cái ân huệ cuối cùng là làm Trưởng Phòng Dinh Dưỡng của Bệnh viện Nhi Đồng II (tức Bệnh viện Đồn Đất được biến cải) để nghiên cứu về vấn đề dinh dưỡng cho trẻ con Việt Nam.

Điều trớ trêu và khá nực cười là, ở một nước nhược tiểu như VN, bị chiến tranh tàn phá hơn 30 năm qua, lại bị bọn CS làm cho phá sản, bao nhiêu tài nguyên trong nước chúng đều vơ vét hết, một phần đem đi trả nợ cho các nước đàn anh, một phần để đổi lấy súng đạn đem đi thực hiện mộng bành trướng của CS quốc tế ở Kampuchia và Lào, khiến cho miền Nam vốn là một vựa lúa của vùng Đông Nam Á cũng phải xơ xác, điêu tàn, gạo không đủ để ăn, áo quần không đủ để mặc, thì việc nghiên cứu để cải tiến dinh dưỡng chỉ là một trò hề, không hơn, không kém. Cơm không đủ ngày chiến tranh tàn phá hơn 30 năm qua, lại bị CS làm cho phá sản. CS cũng biết như thế, nhưng có lẽ chúng muốn mượn dịp nầy để chôn vùi luôn sự nghiệp của bà đi, cả sự nghiệp chuyên môn lẫn sự nghiệp chính trị. Nỗi uất hận đã chồng chất và bị đè nén từ lâu cho nên chỉ chờ có dịp là bùng nổ.

Nhân dịp phái viên của đài truyền hình CBS thăm Saigon vào giữa thập niên 1980 có tới phỏng vấn bà tại văn phòng, bà đã đứng giữa đám đông trẻ em VN èo uột ốm yếu chỉ có da bọc xương trong bịnh viện mà trả lời bằng tiếng Pháp rằng :”Nền y tế của Việt Nam (CS) đã bị lùi lại sau cả hàng chục năm so với nền y tế của chế độ cũ (Việt Nam Cộng Hoà) chỉ vì họ (cấp lãnh đạo CS ở Hà Nội) quá thiển cận và hẹp hòi. Và nguyên nhân duy nhất gây nên tình trạng thiếu dinh dưỡng cho các trẻ em này chỉ là do sự THIẾU ĂN mà thôi”.

Không thấy sau buổi phỏng vấn nầy CSVN đã dành cho bà Dương Quỳnh Hoa hình phạt nào, nhưng hình phạt nào thì đối với bà cũng trở thành vô nghĩa. Từ một vị bác sĩ y khoa đã thành công trong nghề nghiệp, đã từng giữ chức Bộ trưởng trong chính phủ CS miền Nam, mà ngày nay bà phải trở về nuôi heo và trồng rẫy ở Cầu Sơn thì thử hỏi bà còn có gì nữa để mà phải sợ, phải lo, phải e dè, kiêng nể ? Nếu có chăng, đó là sự trừng phạt của lương tâm mà chắc chắn là nó đã dày vò, hành hạ từ cơ thể đến tinh thần của bà từ mấy năm qua rồi : bà đã một lầm hai lỡ, trót dại, tự biến thành công cụ cho CSVN để cho chúng gieo tang thương, điêu đứng cho ngót mấy chục triệu dân miền Nam và khiến cho bà ngày nay phải thân bại danh liệt.

Niềm khao khát của bà hiện nay phải chăng là chờ một dịp nào đó để thoát ra cái thiên đường CS mà bà đã từng ước mơ hơn 20 năm về trước ? Điều nầy chắc cũng còn xa vời lắm, vì hiện nay còn có một số người có “máu nóng” và mau chóng quên đi bài học cũ, đã và đang tiếp tục đi vào vết xe cũ mà bà đã trải qua. Họ hà hơi tiếp sức cho CS để CS còn tiếp tục đè lên đầu lên cổ dân Việt. Những người nầy không bao giờ biết một mảy may gì về cuộc đời bi đát của bà; chuyện kết cuộc của họ rồi một ngày nào đó cũng sẽ có người hay biết và kể lại cho chúng ta nghe. Rồi cứ thế mà lịch sử sẽ tái diễn cho tới khi không còn người Việt nào tin vào người CS nữa : mất lòng tin của mọi người, CS phải chịu cáo chung m! à thôị Ngay bây giờ, sở dĩ CS vẫn còn đó vì còn có người còn tin CS, kể cả những người đã chạy trốn CS trước kia, đã trở lại bắt tay với CS. Ai cũng biết, CS nhờ có tài tuyên truyền láo khoét, vừa dụ dỗ vừa bóp chẹt, nhờ vậy dân ta không thể chống lại họ thẳng tay. Lề lối cai trị như vậy không bao giờ tồn tại mãi mãi vì vừa “sợ dân”, vừa tàn bạo với họ. Đó là thế đối đầu chớ không phải thương mến dân.

Biết rồi thì đã muộn. Dương Quỳnh Hoa quả là một giai nhân đặc biệt, có lý tưởng và tài ba của miền Nam nước Việt, nhưng lỡ sinh trong một thời thế đầy lừa đảo của Cộng sản; nói một đàng làm một nẽo. Không chỉ có một mình bà mà thôi, biết bao người đã vì nó mà tan tác cả tuổi xanh.

Tài liệu tham khảo :

1. “How’s Vietnam Doing ? Doctor Expresses Disgust”. (“Mike T. Do”).

2. F.E.E.R.(Dec-02) Ex-Communist Official Turns Into Vocal Critic.

Bài viết khác

Sự Thật Về Cuộc Di Tản Trước Giải Phóng Miền Nam Năm 1975

Trước thời điểm giải phóng một vài tháng, người Mỹ đã phao tin về một “cuộc thảm sát đẫm máu” khủng khiếp có thể sẽ xảy ra ở Sài Gòn nếu Việt Cộng chiếm được thành phố. Mỹ khẳng định sẽ có khoảng từ 150.000 – 200.000 người sẽ trở thành nạn nhân của những cuộc trả thù. Những tưởng tượng về một cuộc thảm sát đẫm máu đó đã lan truyền rộng, không chỉ trong giới sĩ quan của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, nhân viên làm việc cho Mỹ, mà còn lan tới những người phục vụ cấp thấp sống dựa vào đồng đô-la Mỹ. Từ gái bar phục vụ lính Mỹ tới đầu bếp, lái xe làm việc cho các gia đình người Mỹ, các bác sĩ, kỹ sư và những thanh niên chỉ đơn thuần là học tại Mỹ cũng đều sợ mình sẽ là mục tiêu tấn công.

Cụ thể, chính quyền Thiệu phối hợp với Washington gieo rắc những thông tin như: 12 cảnh sát Việt Nam Cộng hòa bị diễu trần truồng qua các đường phố khi quân giải phóng chiếm Đà Nẵng, rồi sau đó bị chém đầu từng người một; Giám mục nhà thờ Buôn Ma Thuột bị Việt Cộng bắt và bị chặt thành 3 mảnh; 300 người bị đánh bằng gậy cho tới chết ở chợ Buôn Ma Thuột. Trước giải phóng, tất cả người dân Sài Gòn đều bị tuyên truyền và truyền miệng những câu chuyện kiểu như vậy do Mỹ Thiệu dựng lên.

Nhân viên và binh lính Mỹ vội vã lên một chiếc trực thăng của Hải quân Mỹ trong cuộc di tản Đại sứ quán Mỹ tại Sài Gòn, ngày 29/4/1975 (Ảnh: Neal Ulevich – AP)

Tất cả chỉ là dựng chuyện. 300 người chết ở Buôn Ma Thuột thật nhưng họ là nạn nhân của một trận ném bom do chính Thiệu ra lệnh sau khi thành phố này được giải phóng.

Càng gần tới ngày giải phóng, Mỹ càng phóng đại nguy cơ thảm sát đối với người dân miền Nam. Ngày 16/4, James Schlesinger, Bộ trưởng Quốc phòng, đã báo cáo Quốc hội Mỹ rằng, ít nhất 200.000 người dân của Việt Nam Cộng hòa có thể sẽ bị giết trong sự kiện Cộng sản chiến thắng. Ngoại trưởng Mỹ Kissinger phát biểu trước Ủy ban Cứu trợ khẩn cấp của Hạ viện rằng: “Chúng tôi cho rằng, Cộng sản đang cố thanh toán tất cả các thành phần có thể. Sẽ có nhiều hơn các án tử hình nữa”. Tờ Stars and Stripes, tờ báo của quân đội Mỹ ở Thái Bình Dương, đã đưa một dòng tít gây sự chú ý trong một trong những số báo: “Sẽ có ít nhất một triệu người Việt Nam Cộng hòa bị tàn sát”.

Theo cuốn sách “Giải phóng” của nhà báo Ý Tizano Terzani, Mỹ cố tình tạo nỗi kinh hoàng trong lòng dân miền Nam tới mức độ các cô gái thậm chí tin rằng quân giải phóng “sẽ rút móng tay của từng cô gái một chỉ đơn giản bởi vì họ sơn móng tay” hoặc những người phụ nữ có con với người Mỹ tin rằng, Cộng sản sẽ bắt và giết những đứa con của họ.

Ngày 17/4, Khmer Đỏ chiếm Phnom Penh. Chính quyền Sài Gòn tận dụng việc này và cho đăng tải trên trang nhất các tờ báo ở Sài Gòn về những câu chuyện không rõ ràng về các cuộc thảm sát và bạo lực ở Campuchia. Việc này một lần nữa làm người dân căng thẳng, lo sợ điều tương tự sẽ diễn ra ở Việt Nam với quy mô lớn hơn. Nhiều người Sài Gòn thân Mỹ tự tưởng tượng ra rằng, sẽ có các nhóm ám sát đi từ nhà này tới nhà khác với những danh sách sẵn có từ lâu (như họ vẫn nghe thấy) để tìm người để bắn.

Chính nhà báo phương Tây Tizano Terzani đã khẳng định: “Những câu chuyện và những đồn đại về các cuộc tàn sát, “thảm sát đẫm máu” là do cơ quan tuyên truyền của Mỹ và Thiệu nghĩ ra và tuyên truyền để làm mất uy tín của đối phương, để củng cố tinh thần kháng cự trong người dân và trong Quân đội Việt Nam Cộng hòa, cũng là để thuyết phục Quốc hội Mỹ dành thêm hàng tỉ đôla để cứu Việt Nam, hoặc ít nhất là cứu một số lượng lớn những người miền Nam Việt Nam”. Nhưng sự tuyên truyền này lại gây tác dụng ngược, trở thành một trong những yếu tố khiến miền Nam trở lên hỗn độn, bạo lực và dễ dàng sụp đổ hơn.

Mỹ lên kế hoạch tổ chức di tản

Mỹ không chỉ tuyên truyền mà còn trực tiếp lên kế hoạch thực hiện việc di tản. Người Mỹ đã lên các kế hoạch sẽ di tản không chỉ toàn bộ kiều bào Mỹ và người thân của họ, mà còn tất cả những người Việt Nam đã hợp tác với Mỹ.

Bộ phận CIA của Đại sứ quán đã chuẩn bị một danh sách dài những người cần di tản, có phân chia thứ tự ưu tiên di tản khác nhau phụ thuộc vào mức độ bị đe dọa của mỗi người. Đầu tiên là các quan chức cấp cao, các bộ trưởng đương chức hoặc đã nghỉ hưu; các đặc vụ, những cảnh sát mật. Sau đó là di tản các lãnh đạo tỉnh, huyện, các nghị sĩ, các quan chức cao cấp của một số bộ nhất định, các tướng và nhân viên ngoại giao đã nghỉ hưu. Tiếp đến là những người có mối liên hệ với chính sách của Mỹ ở Việt Nam.

Bộ Ngoại giao Mỹ đã tính toán, tối thiểu là khoảng 130.000 người cần được di tản. Danh sách di tản đã sẵn sàng. Một phi đội máy bay đã được Lầu Năm Góc chỉ định cho việc di tản. Các tàu Mỹ cũng sẵn sàng ngoài phao số 0 để vận chuyển người di tản. Việc di tản diễn ra chậm hơn dự kiến chỉ vì Đại sứ Martin ở Sài Gòn và Ngoại trưởng Mỹ Kissinger ở Washington lo sợ di tản quá sớm sẽ đẩy nhanh hơn nữa sự sụp đổ của một chế độ vốn đã lung lay tận gốc.

Ngoại ô Sài Gòn ngày 30/4/1975; Lính Việt Nam Cộng hòa vứt bỏ quân phục để che giấu thân thế của mình. (Ảnh: Dương Thanh Phong)

Khi nhận thấy thế bại chắc chắn, Đại sứ quán Mỹ vẫn chưa tuyên bố di tản chính thức nhưng đã bí mật di tản những gia đình Mỹ đi trước để không gây sự chú ý quá mức. Mãi tới khi Tổng thống Thiệu từ chức, cuộc di tản mới được tuyên bố chính thức với con số mà Mỹ dự định mang đi lên tới 35 ngàn người. Các thẻ lên máy bay bắt đầu được phát để mọi người lên những chiếc “Freedom Birds – Những chú chim tự do”, những chiếc máy bay rời đến Guam hoặc Phillippines, trước khi sang Mỹ tỵ nạn.

Kích động di tản để kiếm tiền

Di tản người Việt Nam biến thành cơ hội để kiếm tiền cho quan chức và binh lính Mỹ. Họ bảo lãnh và hứa cho nhiều người Việt di tản, khiến những người này đã bán tất cả mọi thứ tài sản, đổi những đồng tiền cuối cùng của mình sang đồng đôla với giá chợ đen chỉ để được đi.

Ngày bại trận tới gần, những thẻ lên máy bay được Đại sứ quán Mỹ cấp cho người Việt càng trở nên quý giá. Ở chợ Sài Gòn, những tấm thẻ đó tăng từ 1 nghìn đến 2 nghìn, rồi 3 nghìn đôla một tấm. Nhân viên làm ở Cục thông tin Mỹ thay vì cấp những tấm thẻ đó cho mọi người ở cơ quan, đã bán chúng với giá 1.500 đôla mỗi tấm.

Ở Sài Gòn, người ta đồn đại rằng, mỗi người Mỹ có thể đưa theo sang Mỹ tới 10 người Việt bằng cách như trên và một thị trường mới bắt đầu phát triển trong cơn tuyệt vọng và sợ hãi của nhiều người. Các gia đình giàu có cố gắng mua “những người Mỹ”, những người có thể đưa họ đi với giá từ 5 đến 10 nghìn đôla mỗi suất. Nhiều người đã đưa tiền và sau đó không nhận được bất kỳ sự trợ giúp nào.

Những người Mỹ khởi hành rời Việt Nam, thậm chí còn quên cả những người đồng hương và đồng minh của họ. Mỹ để lại Việt Nam 250 người Phillippines đã từng làm việc cho họ. Họ cũng bỏ rơi 12 nhà ngoại giao Hàn Quốc, một nhóm người Hoa đến từ Đại sứ quán Đài Loan và đã để lại toàn bộ cán bộ, nhân viên Đại sứ quán Campuchia thời Lon Nol. Cuối cùng, chính quân giải phóng là những người đã bí mật đưa nhiều người trong số này lên những chiếc máy bay đầu tiên rời Việt Nam sang Lào để tránh sự lựa chọn khó xử.

Kết luận về cuộc di tản lịch sử

Như vậy, có thể kết luận cuộc di tản khổng lồ diễn ra trước khi Sài Gòn giải phóng là do chính Mỹ và chính quyền Thiệu tạo ra, đánh vào tâm lý sợ hãi của người dân, đẩy họ rời khỏi Việt Nam để gây mất ổn định cho chính quyền mới, khoét sâu hận thù dân tộc, đổ lỗi cho quân giải phóng. Cuộc di tản còn nhằm phá hoại nền kinh tế miền Nam bởi tầng lớp di tản cũng là những người nắm giữ huyết mạch kinh tế, đặc biệt là cộng đồng doanh nhân và cộng đồng người Hoa. Dư âm của cuộc di tản tới giờ vẫn chưa kết thúc, sự thù hận và tố cáo tới giờ vẫn tiếp diễn với luận điệu chủ yếu là lên án bạo lực của chính quyền Cách mạng đã đẩy người dân tới chỗ phải rời bỏ đất nước.

Sự thật sau gần nửa thế kỷ đã được làm rõ trong hầu hết các tài liệu từ phía bên kia. Tất cả đều khẳng định: sau ngày giải phóng và những năm sau đó, ở Sài Gòn không có sự thanh toán, trả thù lẫn nhau, không có việc sát hại những người theo Mỹ. Nhà báo người Ý viết trong cuốn “Giải phóng”: “Ngày 30 tháng 4 và những ngày sau đó, ở Sài Gòn không có chuyện bắn những kẻ cộng tác với địch, những cảnh sát hay những kẻ tra tấn người yêu nước trước đó. Thật kỳ lạ, đối với một thành phố luôn âm ỉ những lời đồn đại, những câu chuyện không có thật và khó tin nhất như Sài Gòn thì lại không có đến một lời đồn đại về một án tử hình ở đâu đó”.

Người dân Sài Gòn tưng bừng chào đón quân Giải phóng, ngày 30/4/1975. Sự giết chóc đã không hề xảy ra như những gì Mỹ-ngụy phao tin để gieo rắc nỗi sợ hãi trong nhân dân. (Ảnh: Đinh Quang Thành)

Thực tế, đã có một số án tử hình trong 3 tháng ở Sài Gòn sau giải phóng nhưng đó hoàn toàn là việc xử lý những kẻ phạm tội giết người, cướp bóc, không có tội phạm chính trị. Thực tế, nhiều tàn binh của Thiệu đã thâm nhập và giả vờ làm bộ đội để khủng bố người dân ở các khu dân cư, vào các biệt thự bỏ hoang để ăn trộm của cải, ô-tô xe máy. Nhiều bộ đội giải phóng đã bị những kẻ tội phạm giết hại trên phố vào ban đêm chỉ để chúng lấy những bộ quân phục của họ để thực hiện những việc phạm tội. Chính nhờ sự cứng rắn của chính quyền Cách mạng mà tội phạm trên đường phố Sài Gòn giảm hẳn so với trước giải phóng. Bộ đội và quân giải phóng không hề “cướp bóc” như những kẻ chống đối dựng chuyện, mà ngược lại đã dẹp yên được nạn hôi của cướp phá trong nội đô Sài Gòn.

Trước và sau giải phóng, chính quyền Cách mạng đều có chủ trương hết sức rõ ràng rằng, phải để Mỹ rút lui trong danh dự để sớm ổn định đất nước. Đã không có cuộc tấn công nào vào lính Mỹ và các nhân viên của chính quyền Hoa Kỳ khi họ di tản. Đối với người Việt đã theo Mỹ, Đảng và Nhà nước Việt Nam cũng xác định họ đã bị lợi dụng chứ không phải là đối tượng cần mạnh tay xử lý. Chính quyền luôn coi trọng việc bảo vệ khối đại đoàn kết dân tộc và giữ gìn sự ổn định của miền Nam. Chính vì thế, đúng như các nhà báo nước ngoài đã tường thuật, các nhà chức trách quân sự thường xuyên phát đi những lời kêu gọi qua radio, hối thúc mọi người bảo vệ cả tài sản cá nhân và “tài sản của nhân dân”, các thông báo được gửi đi đều nhấn mạnh sẽ có “những hình phạt rất nặng” đối với những kẻ trộm, cướp. Tất cả người dân đều được giải thích rõ rằng chính sách của cách mạng là khoan hồng, rằng không ai bị phạt vì phạm tội trong quá khứ, không ai phải sợ sẽ bị trả thù.

Một thực tế khác không thể không nhắc tới là vào ngày giải phóng và sau đó, có hiện tượng như việc gia đình một số người yêu nước đã bắt hai sĩ quan cảnh sát chế độ cũ có tội ác và định hành hình họ. Bộ đội đã can thiệp và hai người này đã được cứu sống. Tài liệu nước ngoài ghi nhận: “Những sự vụ tương tự đã xảy ra ở nhiều nơi khác, đặc biệt là ở các làng, nơi mối quan hệ giữa người dân và những kẻ đàn áp dân mang tính cá nhân hơn và mọi người biết nhau. Bộ đội thường phải nhốt cảnh sát Ngụy trong các nhà tù trước đây của chính họ và canh phòng cẩn mật để bảo vệ họ khỏi các nhóm người dân muốn xét xử họ”.

Thực tế này khiến chính quyền Cách mạng phải tiến hành việc đăng ký nhân thân, khai báo trình diện và cấp giấy cư trú. Tiếp nữa, chính quyền tổ chức các khóa học tập cải tạo tại chỗ hoặc tập trung. Đối với một số người, việc cải tạo có thể kéo dài vài ngày, với một số người khác có thể kéo dài vài tháng hoặc có lẽ vài năm. Chính sách này về sau bị không ít đối tượng ở phía bên kia phê phán là đàn áp nhưng không nhìn nhận thấy một thực tế rằng việc tạm cô lập một số nhóm người đặc biệt là quan quân chế độ cũ để tránh việc họ bị xử trái pháp luật, bị trả thù bởi chính người dân. Nếu không tách những người đã từng gây tội ác và có nợ máu với cộng đồng ra bằng cách tập trung cải tạo, có thể vô số những cuộc trả thù trên diện rộng đã diễn ra.

Sau này, Nhà nước Việt Nam đã chủ động để nhiều người thực sự muốn ra đi được ra đi một cách tự do và trật tự. Chính phủ đã đàm phán với Hoa Kỳ cho phép người dân đi theo diện HO, theo diện đoàn tụ và có quan điểm cởi mở đối với những người muốn tìm cơ hội ở quốc gia khác. Đối với những người trốn đi và bị kẹt ở các trại tỵ nạn không nước nào chấp nhận cho định cư, đời sống vô cùng khó khăn, Nhà nước Việt Nam đã chủ động đàm phán với Cao ủy Liên Hợp Quốc về Người tỵ nạn (UNHCR) và các quốc gia có người tỵ nạn để đưa họ trở lại Việt Nam, bố trí công ăn việc làm và nơi ăn chốn ở. Những người thù địch nhất kể cả những lãnh đạo cao nhất của chính quyền Sài Gòn cũ về sau cũng đều được tự do trở về nước sinh sống và làm việc dài hạn. Chính họ đều đã nhìn thấy và chứng kiến sự thay đổi không thể tưởng tượng được của đất nước cũng như thái độ rộng mở của chính quyền Việt Nam.

Có thể nói, quá trình di tản đã để lại không ít những mất mát cho người Việt, đặc biệt là những mất mát về sinh mạng con người. Nhà nước Việt Nam và mỗi người Việt Nam có lương tri đều thấy đau xót trước những mất mát này. Đó là những hệ quả đáng tiếc và dường như khó tránh khỏi trong bối cảnh chiến tranh và ly loạn.

Cho dù vậy, thời gian đã đi qua đủ dài để giờ đây chúng ta nhận rõ đâu là sự thật và đâu là những lời nói dối. Từ nhận thức này, những người chưa nhận thức đúng cần nhận thức lại. Mỗi người đều có thể mắc sai lầm nhưng nhận thức lại mới giúp chúng ta có cái nhìn đúng đắn. Những ai còn suy nghĩ lệch lạc về cuộc di tản của người Việt trước và sau giải phóng cần xem xét lại, bởi không có cuộc trả thù nào giữa người Việt với nhau mà chỉ có chính sách đại đoàn kết dân tộc, như chính một Chính ủy Trung tâm Biên Hòa đã nói với nhà báo Ý vào những ngày ngay sau giải phóng: “Chúng tôi đã tha thứ cho các phi công Mỹ đã ném bom xuống nhà cửa của chúng tôi, đốt cháy con chúng tôi. Tại sao chúng tôi không thể tha thứ cho những người Việt, những người đã làm theo lệnh của người Mỹ?”. Đó chính là tinh thần hòa giải của người Việt trong ngày vui lịch sử của dân tộc, ngày thống nhất 30 tháng 4 năm 1975./.

Ảnh độc: 48 giờ trước thời khắc giải phóng miền Nam 30.4.1975

Những hình ảnh do phóng viên quốc tế chụp đã ghi lại khoảnh khắc thành phố Sài Gòn 2 ngày cuối cùng trước khi được …

Ký ức ngày Giải phóng Miền Nam của người lính xe tăng anh hùng

Với ông Nguyễn Trần Đoàn, niềm vinh dự nhất được đóng góp một phần công sức bé nhỏ của mình vào chiến thắng của dân …

Xúc động những hình ảnh không thể nào quên về ngày 30.4 thống nhất đất nước

Ngày 30.4.1975 là một mốc son chói lọi của lịch sử dân tộc – tổng tiến công chiến lược mùa Xuân 1975, đỉnh cao là …

Sự Ra Đời Của Bài Hát “Giải Phóng Miền Nam”

Nhóm Hoàng Mai Lưu (tức Huỳnh Minh Siêng). Từ trái sang: Huỳnh Văn Tiểng, Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ.

Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam nêu lên mục đích là động viên nhân dân miền Nam đấu tranh chống đế quốc Mỹ và ngụy quyền tay sai ở miền Nam tiến tới xây dựng miền Nam một chế độ hòa bình trung lập và dân chủ, từng bước sau này thực hiện thống nhất đất nước.

Nhằm hoàn chỉnh sự ra đời của mặt trận, ba chúng tôi gồm Huỳnh Văn Tiểng, Mai Văn Bộ và Lưu Hữu Phước là 3 thành viên chủ chốt của nhóm Hoàng Mai Lưu được giao nhiệm vụ khẩn cấp sáng tác một bài hát chính thức cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam VN.

Được biết chủ trương đường lối của Đảng với cách mạng miền Nam đã đổi mới và quan trọng.

Trước đây ngụy quyền Sài Gòn thường lợi dụng mọi sơ hở của dân ta để lấy cớ tàn sát đồng bào nên Đảng chủ trương các cơ sở phải giấu kín vũ khí để bảo toàn lực lượng, để địch không mượn cớ khủng bố. Nay tình hình trong nước và thế giới đã thay đổi, Đảng chủ trương phải đấu tranh vũ trang, phản công lại, bảo vệ cơ sở của ta và trừng trị tiêu diệt địch.

Tôi có gần gũi đồng chí Phạm Hùng, Bí thư Trung ương Cục miền Nam, và biết được ý kiến là phải tuyệt đối giữ bí mật việc sáng tác này; về nội dung cần thể hiện những điểm sau:

– Bài hát có tính chất Quốc ca (sách lược) này cần nhắm vào đối tượng không chỉ nhân dân miền Nam mà cho cả nhân dân Nam Trung bộ và Nam bộ.

– Kêu gọi nhân dân Nam Trung bộ và Nam bộ trực tiếp đứng lên đấu tranh vũ trang lật đổ chế độ tay sai của đế quốc Mỹ.

– Nêu rõ triển vọng thống nhất đất nước Việt Nam.

– Tên tác giả phải thay đổi để bảo đảm tính độc lập của chế độ Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

Do các yêu cầu chặt chẽ trên về mặt chính trị nên 3 chúng tôi đã cùng nhau bàn bạc cân nhắc rất kỹ từng lời, từng ý, để sáng tác bài hát này. Cụ thể, để thể hiện chủ trương mới quan trọng của Đảng và cách mạng lúc này là phải đấu tranh vũ trang, chúng tôi đã đưa câu kêu gọi nhân dân trực tiếp chiến đấu: “Cầm gươm, ôm súng ta xông tới”.

Muốn thực hiện được chiến lược này phải đoàn kết nhân dân Trung Nam Bắc lại để diệt đế quốc Mỹ, nhưng điểm mới trong chiến lược là tha cho ngụy quyền chứ không tiêu diệt, nên chúng tôi đã đưa vào bài hát câu:“Giải phóng miền Nam, chúng ta cùng quyết tiến bướcDiệt đế quốc Mỹ phá tan bè lũ bán nước”Để minh họa cho đường lối đoàn kết dân tộc Nam Trung Bắc, chúng tôi đã nêu lên 2 địa danh tiêu biểu của hai miền là Cửu Long và Trường Sơn, vì thế trong bài có câu: “Đây Cửu Long hùng trángĐây Trường Sơn vinh quang”

Để thể hiện ý chí thống nhất đất nước của toàn dân dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng Sản Việt Nam, trong bài hát có câu: Điệp khúc của bài hát là kết luận toàn bộ sách lược mới của Đảng và phản ánh sự tin tưởng vào chiến thắng cuối cùng bằng câu:

“Vận nước đã đến rồi bình minh chiếu khắp nơiNguyện xây non nước sáng tươi muôn đời”.Cuối cùng, tên tác giả phải thay đổi để bảo đảm tính độc lập của Chính phủ Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Ba chúng tôi nhất trí không để Hoàng Mai Lưu mà lấy tránh ra là Huỳnh Minh Liêng, tức là 3 chữ đầu của họ 3 người: Huỳnh Văn Tiểng, Mai Văn Bộ, Lưu Hữu Phước.

Nhưng vì chữ anh Phước viết chữ L hơi tháu nên khi người công nhân xếp chữ nhìn chữ L thành ra chữ S, do vậy tên tác giả từ Huỳnh Minh Liêng ra Huỳnh Minh Siêng. Sau khi phát hiện ra, có ý kiến nên sửa lại, nhưng anh Phước lại giải thích cứ để chữ Siêng cũng có ý nghĩa là siêng năng.

Sau khi sửa chữa 3 lần, bài hát đã được lãnh đạo thông qua và được phổ biến rộng rãi trong nước và thế giới, được dư luận nhiệt tình ca ngợi.

Tháng 12-2008

Giải Phóng Miền Nam (Bài Hát)

Giải phóng miền Nam được sáng tác vào năm 1961 bởi nhạc sĩ Lưu Hữu Phước (có bút hiệu khác là Huỳnh Minh Siêng), là bài hát chính thức của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (1961 – 1976), và đồng thời là quốc ca của nước Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (1969 – 1976).

Ngày 20 tháng 12 năm 1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời và theo trên thực tế – tổ chức cần phải có một bài ca chính thức. Đến ngày 20 tháng 7 năm 1961, Hội Văn nghệ Giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập do Trần Hữu Trang làm chủ tịch. Hội đã giao cho ba nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng sáng tác tập thể một bài hát làm bài ca chính thức của Mặt trận. Mai Văn Bộ và Huỳnh Văn Tiểng đã phác thảo xong ca từ của bài hát trong vòng một tuần, còn Lưu Hữu Phước được phân công viết phần nhạc. Thế là giữa miền Nam bão lửa, được sự phân công của cách mạng, bộ ba Lưu Hữu Phước, Huỳnh Văn Tiểng và Mai Văn Bộ đã bắt tay xúm lại và chỉ một tuần sau, ca khúc Giải phóng miền Nam ra đời.

Khi nghe cả ba nhạc sĩ hát bài Giải phóng miền Nam lần đầu để duyệt, ông Phạm Hùng, khi đó là cán bộ cấp cao của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã đứng lên nói to: “Được rồi, hay lắm! Vùng lên nhân dân miền Nam anh hùng! Vùng lên! Xông pha vượt qua bão bùng! Vận nước đã đến rồi… Hay hết sức! Hoan nghênh và cảm ơn các đồng chí”.

Sau đó bài Giải phóng miền Nam được mang tên chung của 3 người là Huỳnh Minh Siêng. Theo lời kể của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước thì ban đầu để tên ghép là Huỳnh Minh Liêng (từ chữ cái đầu trong họ của 3 ông). Chữ Liêng được cố tình viết sai chính tả là L-i-ê-n-g (các từ liền với nhau bằng gạch nối) để mang tính dân gian và tránh trùng tên của nhân sĩ Đặng Thúc Liêng. Nhưng khi đưa lên báo Nhân dân thì do tam sao thất bản (chữ L viết tay hoa bị nhầm thành S), nên đã in thành Siêng. Thực chất, để bí mật, nhóm bộ ba này đã đặt tên tác giả là: “Huỳnh Minh Liêng”; nhưng do sắp chữ khi in, người sắp chữ đã nhầm chữ L thành chữ S, và về sau thì nhóm bộ ba này, chủ yếu là Lưu Hữu Phước, cũng không muốn sửa nữa vì từ Siêng cũng có cái hay của nó là siêng năng. Huỳnh Minh Siêng – tác giả bài hát Giải phóng miền Nam được đặt tên tác giả là vậy.

Từ đây, bài hát nhanh chóng được phổ biến rộng rãi qua sóng phát thanh của Đài Phát thanh Giải phóng miền Nam và các đoàn văn công quân Giải phóng.

Nhận xét, phân tích

Tác phẩm thuộc thể loại chính ca có tầm tư tưởng lớn và giá trị nghệ thuật cao, lời ca và nhạc như tiếng gọi quyết liệt và như lời hiệu triệu.

Nhịp điệu 4/4; Cung Mi thứ sục sôi quyết liệt, nhịp đi – hùng tráng.

Nội dung: Tính thôi thúc, cổ vũ, hiệu triệu luôn nổi rõ trong tác phẩm. Bắt đầu bằng lời hiệu triệu “Giải phóng miền Nam, chúng ta cùng quyết tiến bước”. Lưu Hữu Phước chỉ dùng một cách triển khai giai điệu, song mạnh mẽ, hiệu quả, với ca từ đầy hào phóng về truyền thống của Việt Nam – “Đây Cửu Long hùng tráng. Đây Trường Sơn vinh quang… vai sát vai chung một bóng cờ”. Với cao trào – “Vùng lên nhân dân Việt Nam anh hùng, vùng lên xông pha vượt qua bão bùng…”; Và kết thúc bằng lời huyết thệ “Vận nước đã đến rồi, bình minh chiếu khắp nơi, dựng xây non nước sáng tươi muôn đời”.

Cách thể hiện:

Hát tập thể

Hát theo nhóm

Hát hợp xướng – đồng ca

Hát đồng ca

Hát đối đáp – đồng ca