Top 10 # Xem Nhiều Nhất Viết Lời Giải Câu Đố Vào Chỗ Trống Trong Bảng Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Asianhubjobs.com

Đặt Lời Giải Trong Các Bài Toán Đố

Khi dạy học sinh giải các bài toán có lời văn (toán đố), việc chọn đặt lời giải nhiều khi còn khó hơn việc chọn đúng đáp số và tính ra đáp số. Trong bài viết này tôi xin trình bày một số cách hướng dẫn học sinh đặt lời giải cho các bài toán có lời văn ở các lớp 1 và 2 hay bài toán đơn (giải bằng 1 phép tính) ở các lớp 3, 4 thông qua bài toán cụ thể sau : Bài toán : Hòa có 4 bông hoa, Bình có nhiều hơn Hòa 2 bông hoa. Hỏi Bình có mấy bông hoa ? (Bài 1 trang 24, SGK Toán 2) Hòa có : 4 bông hoa Bình có nhiều hơn Hòa : 2 bông hoa Bình có : ……… bông hoa ? Giải bài toán trên bằng phép tính : 4 + 2 = 6 (bông hoa). Đặt lời giải cho phép tính đó ta có mấy cách sau : Cách 1 : Dựa vào câu hỏi của bài toán, bỏ bớt từ đầu “hỏi” và từ cuối “mấy bông hoa” để được câu lời giải “Bình có :”. Cách 2 : Bỏ bớt từ đầu “hỏi”, thay từ “mấy” bằng từ “số” ở đầu câu, “là” ở cuối câu để được câu lời giải : “Số bông hoa Bình có là :”. Cách 3 : Đưa từ “bông hoa” ở cuối câu hỏi lên đầu thay thế cho từ “hỏi”, và thêm từ “số” ở đầu câu, “là” ở cuối câu để được câu lời giải : “Số bông hoa Bình có là :”. Cách 4 : Dựa vào dòng cuối cùng của tóm tắt, coi đó là chìa khóa của câu lời giải, và thêm thắt chút ít, chuyển thành lời giải của phép tính : “Bình có số bông hoa là :”. Cách 5 : Giáo viên nêu miệng câu hỏi “Bình có mấy bông hoa ?” để học sinh trả lời :”Bình có 6 bông hoa” rồi chèn phép tính vào số 6 để có cả bước giải (gồm câu lời giải và phép tính). Bình có : 4 + 2 = 6 (bông hoa). Cách 6 : Sau khi học sinh tính xong : 4 + 2 = 6 (bông hoa), giáo viên chỉ vào 6 và hỏi “Số bông hoa này là của ai ?”, học sinh trả lời : “Số bông hoa này là của của bạn Bình”. Từ câu trả lời của học sinh giúp các em chỉnh sửa thành câu lời giải : “Số bông hoa của bạn Bình là :”. Có thể còn có nhiều cách khác để dẫn dắt học sinh tìm lời giải. Hướng tích cực nhất là giáo viên tạo điều kiện để học sinh tự nêu câu lời giải trước, sau đó thầy và trò cùng bàn bạc để chỉnh sửa lại. Giáo viên không nên buộc học sinh nhất nhất phải theo một kiểu lời giải nào đó. Như thế không những phát huy tính tích cực của học sinh mà còn rèn các em cách diễn đạt, cách dùng từ, tạo điều kiện tốt cho các em học các bài toán hợp có nhiều phép tính ở các lớp trên.

Đề Tài Biên Pháp Rèn Kĩ Năng Viết Câu Lời Giải Trong Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 1

Dạy học trong đổi mới giáo dục Tiểu học là dạy học sinh tự tìm tòi, phát hiện thông qua tình huống ví dụ cụ thể dạy cách học cho học sinh.Giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn các hoạt động học, học sinh tham gia các hoạt động để hình thành kiến thức.

Một điều quan trọng trong đổi mới phương pháp dạy học là xâydựng một môi trường học toán tự nhiên, thoải mái với học sinh. Học sinh không cảm thấy kiến thức môn toán xa lạ với cuộc sống thực, không để giờ học toán nặng nề, có nhiều bài gây mệt mỏi cho học sinh và mất đi hứng thú trong học tập.

Kiến thức toán 1 khá đơn giản, hầu hết bắt đầu từ cuộc sống, giáo viên hoàn toàn có thể hướng dẫn học sinh từ kinh nghiệm đã có để hình thành kiến thức mới trong môn toán. Giáo viên giúp đỡ để mọi học sinh đều thích học toán và thấy mình có khả năng học được và học tốt môn toán tạo ra hứng thú và niềm tin về khả năng học toán của học sinh.

Phòng giáo dục và đào tạo Quỳnh lưu Trường tiểu học Sơn Hải -----------&&&----------- Kinh nghiệm sáng kiến Biên pháp rèn kĩ năng viết câu lời giảI trong giảI toán có lời văn cho học sinh lớp 1 Người thực hiện: Nguyễn Thị Thuý Tổ chuyên môn: Lớp 1 Trường : Tiểu học Sơn Hải Năm học: 2009-2010 Phần i- đặt vấn đề Phần II- nội dung và phương pháp ChươngI : Lý do chọn đề tài A. Cơ sở lý luận. B. Cơ sở tâm lý C. Phương pháp dạy giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1 ChươngII:Nội dung đề tài A. Nội dung kiến thức B. Phương pháp nghiên cứu I.Tài liệu nghiên cứu II.Phạm vi nghiên cứu III. Phương pháp nghiên cứu IV. Các bước tiến hành C.Quá trình nghiên cứu và thực nghiệm I. Kết quả điều tra từ năm 2006-2009 II. Tìm ra điểm yếu của học sinh III.Quá trình nghiên cứu và thực nghiệm IV. Kết quả thực nghiệm D. Bài học kinh nghiệm Chương III: Vấn đề hạn chế và ý kiến đề xuất A. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp B. ý kiến đề xuất Phần III- kết luận chung Phần I- đặt vấn đề: Dạy học trong đổi mới giáo dục Tiểu học là dạy học sinh tự tìm tòi, phát hiện thông qua tình huống ví dụ cụ thể dạy cách học cho học sinh.Giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn các hoạt động học, học sinh tham gia các hoạt động để hình thành kiến thức. Một điều quan trọng trong đổi mới phương pháp dạy học là xâydựng một môi trường học toán tự nhiên, thoải mái với học sinh. Học sinh không cảm thấy kiến thức môn toán xa lạ với cuộc sống thực, không để giờ học toán nặng nề, có nhiều bài gây mệt mỏi cho học sinh và mất đi hứng thú trong học tập. Kiến thức toán 1 khá đơn giản, hầu hết bắt đầu từ cuộc sống, giáo viên hoàn toàn có thể hướng dẫn học sinh từ kinh nghiệm đã có để hình thành kiến thức mới trong môn toán. Giáo viên giúp đỡ để mọi học sinh đều thích học toán và thấy mình có khả năng học được và học tốt môn toán tạo ra hứng thú và niềm tin về khả năng học toán của học sinh. Song, qua nhiều năm dạy ở khối 1,và qua các đợt tổng kết chuyên đề thì còn nhiều giáo viên băn khoăn về việc dạy giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1 sao cho các em dễ hiểu dễ tiếp thu và đặc biệt là bước viết câu lời giải. Với kinh nghiệm của bản thân và tham khảo đồng nghiệp tôi mạnh dạn đưa ra một số biện pháp rèn kĩ năng viết câu lời giải trong giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1 như sau. Phần II-nội dung và phương pháp: CHƯƠNG I: Lý do chọn đề tài A.cơ sở lý luận: Khả năng giải toán có lời văn chính là phản ánh năng lực vận dụng kiến thức của học sinh. Học sinh hiểu về mặt nội dung kiến thức toán học vận dụng vào giải toán kết hợp với kíên thức Tiếng Việt để giải quyết vấn đề trong toán học. Từ ngôn ngữ thông thường trong các đề toán đưa ra cho học sinh đọc - hiểu - biết hướng giải đưa ra phép tính kèm câu trả lời và đáp số của bài toán. Giải toán có lời văn góp phần củng cố kiến thức toán, rèn luyện kỹ năng diễn đạt, tích cực góp phần phát triển tư duy cho học sinh tiểu học. Trong quá trình giảng dạy ở lớp 1,tôi thấy học sinh rất khó khăn trong việc viết câu lời giải. Đó là nguyên nhân chính mà tôi chọn đề tài nghiên cứu:Biện pháp rèn kĩ năng viết câu lời giải trong giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1. B.cơ sở tâm lý: Đối với trẻ là học sinh lớp 1, môn toán tuy có dễ nhưng để học sinh đọc-hiểu bài toán có lời văn quả không dễ dàng, vả lại việc viết lên một câu lời giải phù hợp với câu hỏi của bài toán cũng là vấn đề không đơn giản. Vậy làm thế nào để giáo viên nói - học sinh hiểu , học sinh thực hành - diễn đạt dúng yêu cầu của bài toán. Đó là mục đích chính của đề tài này. c.Phương pháp dạy toán có lời văn cho học sinh lớp Một: Dạy cho học sinh nhận biết về cấu tạo của bài toán có lời văn. Đọc hiểu - phân tích - tóm tắt bài toán. Giải toán đơn về thêm(bớt ) bằng một phép tính cộng ( trừ). Trình bày bài giải gồm câu lời giải + phép tính + đáp số. Tìm lời giải phù hợp cho bài toán bằng nhiều cách khác nhau. CHƯƠNG II: Nội dung đề tài A.Nội dung kiến thức: Mức độ 1: Chuẩn bị cho việc học giải toán: Ngay từ đầu học kỳ I các bài toán được giới thiệu ở mức độ nhìn hình vẽ- viết phép tính. Mục đích cho học sinh hiểu bài toán qua hình vẽ, suy nghĩ chọn phép tính thích hợp. Thông thường sau mỗi phép tính ở phần luyện tập có một hình vẽ gồm 5 ô vuông cho học sinh chọn ghi phép tính và kết quả phù hợp với hình vẽ. Ban đầu để giúp học sinh dễ thực hiện sách giáo khoa ghi sẵn các số và kết quả : VD: Bài 5 trang 46 a) 1 2 = 3 Chỉ yêu cầu học sinh viết dấu cộng vào ô trống để có : 1 + 2 = 3 b) Đến dạng bài này nâng dần mức độ - học sinh phải viết cả phép tính và kết quả 8 - 4 = 4 Và yêu cầu tăng dần, học sinh có thể nhìn từ một tranh vẽ bài 4a trang 77 diễn đạt theo 2 cách . Cách 1: Có 8 hộp thêm 1 hộp , tất cả là 9 hộp. 8 + 1 = 9 Cách 2: Có 1 hộp đưa vào chỗ 8 hộp , tất cả là 9 hộp. 1 + 8 = 9 Tương tự trên (bài 4b trang 77). Học sinh quan sát và cần hiểu được: Cách 1: : Có 7 bạn và 2 bạn đang đi tới. Tất cả là 9 bạn. 7 + 2 = 9 Cách 2:Có 2 bạn chạy tới chỗ7 bạn đang đứng.Tất cả là 9 bạn 2 + 7 = 9 Bài 3 trang 85 Học sinh quan sát và cần hiểu được: Lúc đầu trên cành có 10 quả. Sau đó rụng 2 quả . Còn lại trên cành 8 quả. 10 - 2 = 8 ở đây giáo viên cần động viên các em diễn dạt _ trình bày miệng câu trả lời (câu lời giải sau này) và ghi đúng phép tính . Tư duy toán học được hình thành trên cơ sở tư duy ngôn ngữ của học sinh. Khi dạy bài này cần hướng dẫn học sinh diễn đạt trình bày động viên các em nêu dươc nhiều câu trả lời và viết được nhiều phép tính để tăng cường khả năng diễn đạt cho học sinh. Mức độ 2: Bước đầu làm quen với các "Bài toán có lời văn". Đến cuối học kì I học sinh đã được làm quen với tóm tắt bằng lời: Bài 3 trang 87 10 - 3 = 7 b, Có : 10 quả bóng Cho : 3 quả bóng Còn : quả bóng Học sinh từng bước làm quen với lời thay cho hình vẽ, học sinh dần dần thoát ly khỏi hình ảnh trực quan từng bước tiếp cận đề bài toán. Yêu cầu học sinh phải đọc và hiểu được tóm tắt, biết diễn đạt đề bài và lời giải bài toán bằng lời, chọn phép tính thích hợp nhưng chưa cần viết lời giải. Tuy không yêu cầu cao,tránh tình trạng quá tải với học sinh, nhưng có thể động viên học sinh khá giỏi làm nhiều cách , có nhiều cách diễn đạt từ một hình vẽ hay một tình huống sách giáo khoa. Mức độ 3: Làm quen với các "Bài toán có lời văn". Giới thiệu bài toán có lời văn bằng cách cho học sinh tiếp cận với một đề bài toán chưa hoàn chỉnh kèm theo hình vẽ và yêu cầu hoàn thiện ( tiết 81- bài toán có lời văn ). Tư duy HS từ hình ảnh phát triển thành ngôn ngữ, thành chữ viết. Giải toán có lời văn ban đầu được thực hiện bằng phép tính cộng là phù hợp với tư duy của HS. Cấu trúc một đề toán gồm 2 phần: phần cho biết và phần hỏi. Mức độ 4: Hình thành kĩ năng giải toán . Để hình thành cách giải bài toán có lời văn, sách giáo khoa đã nêu một bài toán , phần tóm tắt đề toán và giải bài toán hoàn chỉnh để học sinh làm quen.( Bài toán- trang 117) Giáo viên cần cho học sinh nắm vững đề toán, thông qua việc tóm tắt đề toán. Biết tóm tắt đề toán là yêu cầu đầu tiên dể giải bài toán có lời văn. Bài giải gồm 3 phần : câu lời giải, phép tính và đáp số. Chú ý rằng tóm tắt không nằm trong lời giải của bài toán, nhưng phần tóm tắt cần được luyện kỹ để học sinh nắm được bài toán đầy đủ, chính xác. Câu lời giải trong bài giải không yêu cầu mọi học sinh phải theo mẫu như nhau, tạo diều kiện cho HS diễn đạt câu trả lời theo ý hiểu của mình. Quy ước viết đơn vị của phép tính trong bài giải HS cần nhớ để thực hiện khi trình bày bài giải. Bài toán giải bằng phép tính trừ được giới thiệu khi HS đã thành thạo giải bài toán có lời văn bằng phép tính cộng.GV chỉ hướng dẫn cách làm tương tự,thay thế phép tính cho phù hợp với bài toán. ở lớp 1,HS chỉ giải toán về thêm,bớt với 1 phép tính cộng hoặc trừ,mọi HS bình thường đều có thể hoàn thành nhiệm vụ học tập một cách nhẹ nhàng nếu được giáo viên hướng dẫn cụ thể. GV dạy cho Hs giải bài toán có lời văn cần thực hiện tốt các bước sau: _Đọc kĩ đề bài:Đề toán cho biết những gì?Đề toán yêu cầu gì? _Tóm tắt đề bài _Tìm được cách giải bài toán _Trình bày bài giải _Kiểm tra lời giải và đáp số Khi giải bài toán có lời văn GV lưu ý cho HS hiểu rõ những điều đã cho,yêu cầu phải tìm,biết chuyển dịch ngôn ngữ thông thường thành ngôn ngữ toán học,đó là phép tính thích hợp. Ví dụ,có một số quả cam,khi được cho thêm hoặc mua thêm nghĩa là thêm vào,phải làm tính cộng;nếu đem cho hay đem bán thì phải làm tính trừ, Gv hãy cho HS tập ra đề toán phù hợp với một phép tính đã cho,để các em tập tư duy ngược,tập phát triển ngôn ngữ,tập ứng dụng kiến thức vào các tình huống thực tiễn. Ví dụ,với phép tính 3 + 2 = 5.Có thể có các bài toán sau: _Bạn Hà có 3 chiếc kẹo,chị An cho Hà 2 chiếc nữa.Hỏi bạn Hà có mấy chiếc kẹo? _Nhà Nam có 3 con gà mẹ Nam mua thêm 2 con gà. Hỏi nhà Nam có tất cả mấy con gà? _Có 3 con vịt bơi dưới ao,có thêm 2 con vịt xuống ao.Hỏi có mấy con vịt dưới ao? _Hôm qua lớp em có 3 bạn được khen.Hôm nay có 2 bạn được khen.Hỏi trong hai ngày lớp em có mấy bạn được khen? Có nhiều đề bài toán HS có thể nêu được từ một phép tính.Biết nêu đề bài toán từ một phép tính đã cho,HS sẽ hiểu vấn đề sâu sắc hơn,chắc chắn hơn,tư duy và ngôn ngữ của HS sẽ phát triển hơn. B, phương pháp nghiên cứu I. Tài liệu nghiên cứu: Để nghiên cứu và thực nghiệm đề tài này tôi căn cứ vào các tài liệu chuẩn như: Chuẩn kiến thức toán 1 Phương pháp dạy các môn học ở lớp 1 Mục tiêu dạy học môn toán 1-sách giáo viên. Toán 1- sách giáo khoa. Một số tài liệu khác. II. Phạm vi nghiên cứu: Trong chương trình toán1 Giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1 Từ tiết 81 cho đến tiết 108. III. phương pháp nghiên cứu: Tổng hợp lý luận thông qua các tài liệu ,sách giáo khoa và thực tiễn dạy học của khối I- Trường Tiểu học Sơn Hải Đánh giá quá trình dạy toán - Loại bài giải toán có lời văn từ những năm trước và những năm gần đây . Tiến hành khảo sát chất lượng học sinh . Đúc rút kinh nghiệm qua quá trình nghiên cứu. IV. các bước tiến hành: Điều tra kết quả từ những năm 2006_2010. Tìm ra điểm yếu của học sinh để khắc phục. Tác động bằng phương pháp mới . Khảo sát chất lượng. Đối chứng kết quả trước và sau khi thực nghiệm. ý kiến đề xuất . C. Quá trình nghiên cứu và thực nghiệm: Kết quả điều tra từ năm 2006-2008 Năm Lớp sĩ số HS viết đúng câu lời giải HS viết đúng phép tính HS viết đúng đáp số HS giải đúng cả 3 bước 2006-2007 1I 32 22 68.8% 27 84.4% 27 84.4% 21 65.6% 2007-2008 1K 32 24 75% 28 87.5% 27 84.4% 22 68.8% 2008-2009 1A 31 25 80.6% 28 90.3% 27 87.1% 24 77.4% II. Tìm ra điểm yếu của học sinh: Học sinh biết giải toán có lời văn nhưng kết quả chưa cao. Số học sinh viết đúng câu lời giải đạt tỷ lệ thấp. Lời giải của bài toán chưa sát với câu hỏi của bài toán. Quá trình nghiên cứu và thực nghiệm: Trong phạm vi 27 tiết dạy từ tiết 81 đến tiết 108 tôi đặc biệt chú ý vào 1 số tiết chính sau đây: Tiết 81 Bài toán có lời văn Có bạn, có thêm bạn đang đi tới. Hỏi có tất cả bao nhiêu bạn? HS quan sát tranh và trả lời câu hỏi Điền vào chỗ chấm số 1 và số3. Bài 2 tương tự. Qua tìm hiểu bài toán giúp cho học sinh xác định được bài có lời văn gồm 2 phần: Thông tin đã biết gồm 2 yếu tố. Câu hỏi ( thông tin cần tìm ) Từ đó học sinh xác định được phần còn thiếu trong bài tập ở trang116: Có 1 con gà mẹ và 7con gà con. Hỏi có tất cả bao nhiêu con gà? Kết hợp giữa việc quan sát tranh và trả lời câu hỏi gợi ý của giáo viên, học sinh hoàn thành bài toán 4 trang 116: Có 4 con chim đậu trên cành , có thêm 2 con chim bay đến. Hỏi có tất cả bao nhiêu con chim? Tiết 82 Giải toán có lời văn. Giáo viên nêu bài toán . Học sinh đọc bài toán - Đây là bài toán gì? Bài toán có lời văn. -Thông tin cho biết là gì ? Có 5 con gà , mua thêm 4 con gà. - Câu hỏi là gì ? Hỏi nhà An có tất cả mấy con gà ? Dựa vào tranh vẽ và tóm tắt mẫu, Gv đưa ra cách giải bài toán mẫu: Bài giải Nhà An có tất cả là: 5 + 4 = 9 ( con gà ) Đáp số: 9 con gà Bài 1 trang 117 Học sinh đọc bài toán- phân tích đề bài- điền vào tóm tắt Và giải bài toán . Tóm tắt: Bài giải An có : 4 quả bóng Cả hai bạn có là: Bình có : 3 quả bóng 4+3=7(quả bóng) Cả hai bạn có :.quả bóng? Đáp số:7 quả bóng. Bài 2 trang 118 Tóm tắt: Bài giải Có : 6 bạn Có tất cả là : Thêm: 3 bạn 6+3=9( bạn ) Có tất cả : bạn? Đáp số: 9 bạn Qua 2 bài toán trên tôi rút ra cách viết câu lời giải như sau: Lấy dòng thứ 3 của phần tóm tắt + thêm chữ là: VD - Cả hai bạn có là: - Có tất cả là: Tương tự bài 3trang118 câu lời giải sẽ là: - Có tất cả là: Tiết 84 Luyện tập Bài 1 và bài 2 trang 121 tương tự bài1,2,3 trang117.Nhưng câu lời giải được mở rộng hơn bằng cách thêm cụm từ chỉ vị trí vào trước cụm từ có tất cả là Cụ thể là -Bài 1 tr 121 Trong vườn có tất cả là: -Bài 2 tr 121 Trên tường có tất cả là: Tiết 85 Luyện tập Bài 1 trang 122 HS đọc đề toán - phân tích bài toán ( như trên ) Điền số vào tóm tắt Vài ba học sinh nêu câu lời giải khác nhau GV chốt lại một cách trả lời mẫu: -Số quả bóng của An có tất cả là: Tương tự Bài 2 trang122 Số bạn của tổ em có là: Bài 3 trang122 - Số gà có tất cả là: Vậy qua 3 bài tập trên học sinh đã mở rộng được nhiều cách viêt câu lời giải khác nhau, song GV chốt lại cách viết lời giải như sau: Thêm chữ Số+ đơn vị tính của bài toán trước cụm từ có tất cả là như ở tiết 82 đã làm. Riêng với loại bài mà đơn vị tính là đơn vị đo độ dài( cm) cần thêm chữ dài vào trước chữ là. VD cụ thể Tóm tắt Bài giải Đoạn thẳng AB : 5cm Cả hai đoạn thẳng dài là: Đoạn thẳng BC : 3cm 5+ 3 = 8 ( cm) Cả hai đoạn thẳng : cm? Đáp số : 8cm Tiết 86 Tiết 104 Hầu hết đều có bài toán có lời văn vận dụng kiến thức toán được cung cấp theo phân phối chương trình . Tuy nhiên, việc phân tích đề- tóm tắt- giải bài toán phải luôn luôn được củng cố duy trì và nâng dần mức độ. Song cơ bản vẫn là các mẫu lời giải cho các bài toán thêm là: - Có tất cả là: - Số ( đơn vị tính ) + có tất cả là: - Vị trí ( trong, ngoài, trên, dưới,)+ có tất cả là: - đoạn thẳng+ dài là: Tiết 105: Giải toán có lời văn(tiếp theo) Bài toán: Nhà An có 9 con gà, mẹ đem bán 3 con gà. Hỏi nhà An còn lại mấy con gà? HS đọc - phân tích bài toán : +Thông tin cho biết là gì? Có 9 con gà. Bán 3 con gà. +Câu hỏi là gì ? Còn lại mấy con gà? GV hướng dẫn HS đọc tóm tắt- bài giải mẫu .GV giúp HS nhận thấy câu lời giải ở loại toán bớt này cũng như cách viết của loại toán thêm đã nêu ở trên chỉ khác ở chỗ cụm từ có tất cả được thay thế bằng cụm từ còn lại mà thôi.Cụ thể là : Bài giải Số gà còn lại là: 9-3=6( con gà) Đáp số: 6 con gà. Bài 1 trang148 Tóm tắt Bài giải Có :8 con chim Số chim còn lại là: Bay đi : 2 con chim 8 - 2 = 6( con chim) Còn lại : con chim? Đáp số : 6 con chim. Bài 2 trng 149 Tóm tắt Bài giải Có : 8 quả bóng Số bóng còn lại là : Đã thả :3 quả bóng 8 - 3 = 5( quả bóng) Còn lại:.quả bóng? Đáp số: 5 quả bóng Bài 3 trang 149 Tóm tắt Bài giải Đàn vịt có : 8 con Trên bờ có là: ở dưới ao : 5 con 8 -5=3 ( con vịt ) Trên bờ: con? Đáp số: 3 con vịt . Tiết 106 Luyện tập Bài 1,2 ( Tương tự tiết 105 ) Tiết 107 Luyện tập Bài 1,2 ( tương tự như trên ) ưNhưng bài 4 trang 150 và bài 4 trang151 thì lời giải dựa vào dòng thứ 3 của phần tóm tắt bài toán: Bài giải Bài giải Số hình tam giác không tô màu là : Số hình tròn không tô màu là: 8 - 4 = 4( hình ) 15 - 4 = 11( hình ) Đáp số: 4 hình tam giác. Đáp số: 11 hình tròn. ư Bài 3 trang 151 Tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng ? cm 2cm 13cm Bài giải Sợi dây còn lại dài là: 13 - 2 = 11( cm) Đáp số : 11cm Tiết 108 Luyện tập chung Đây là phần tổng hợp chốt kiến thức của cả 2 dạng toán đơn thêm và bớt ở lớp 1 Bài 1 trang 152 A, Bài toán : Trong bến cóô tô, có thêmô tô vào bến. Hỏi.? HS quan sát tranhvà hoàn thiện bài toán thêm rồi giải bài toán với câu lời giải có cụm từ có tất cả B, Bài toán : Lúc đầu trên cành có 6 con chim, có con bay đi. Hỏi ..? HS quan sát tranh rồi hoàn thiện bài toán bớt và giải bài toán với câu lời giải có cụm từ còn lại . Lúc này HS đã quá quen với giải bài toán có lời văn nên hướng dẫn cho HS chọn cách viết câu lời giải gần với câu hỏi nhất đó là: Đọc kĩ câu hỏi. Bỏ chữ Hỏi đầu câu hỏi. Thay chữ bao nhiêu bằng chữ số. Thêm vào cuối câu chữ là và dấu hai chấm Cụ thể Bài 1 trang 152 a,Câu hỏi là: Hỏi có tất cả bao nhiêu ô tô? Câu lời giải là: Có tất cả số ô tô là : b, Câu hỏi là: Hỏi trên cành còn lại bao nhiêu con chim? Câu lời giải là: Trên cành còn lại số con chim là : VD khác: Câu hỏi là: Hỏi hai lớp trồng được tất cả bao nhiêu cây ? Câu lời giải là: Hai lớp trồng được tất cả số cây là: Câu hỏi là: Hỏi con sên bò được tất cả bao nhiêu xăng-ti-mét? Câu lời giải là: Con sên bò được tất cả số xăng-ti-mét là? Câu hỏi là: Hỏi Lan còn phải đọc bao nhiêu trang nữa thì hết quyển sách? Câu lời giải là: Lan còn phải đọc số trang nữa là: Hoặc : Còn lại là: Còn HS khá giỏi các em có thể chọn cho mình được nhiều câu lời giải khác nhau nâng dần độ khó thì lời giải càng hay và sát với câu hỏi hơn. IV, kết quả thực nghiệm Năm Lớp sĩ số Hsviết đúng câu lời giải HS viết đúng phép tính HS viết đúng đáp số HS viết đúng cả 3 bước trên 2009-2010 A1 33 30 90.9% 31 93.9% 31 93.9% 30 90.9% D. Bài học kinh nghiệm Qua việc nghiên cứu và áp dụng phương pháp dạy toán có lời văn cho học sinh lớp 1 cho thấy giải toán có lời văn ở lớp 1 không khó ở việc viết phép tính và đáp số mà chỉ mắc ở câu lời giải của bài toán. Sau quá trình nghiên cứu và áp dụng kinh nghiệm sáng kiến thì HS biết viết câu lời giải đã đạt kết quả rất cao,dẫn tới việc HS đạt tỉ lệ cao về hoàn thiện bài toán có lời văn .Vì vậy theo chủ quan của bản thân tôi thì kinh nghiệm sáng kiến này có thể áp dụng và phổ biến nhằm nâng cao chất lượng cho HS về việc giải toán có lời văn. ChươngIII: Vấn đề hạn chế và ý kiến đề xuất A, Vấn đề hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp - Vì thời gian nghiên cứu xen kẽ quá trình dạy chính khoá nên việc nghiên cứu còn giới hạn trong phạm vi các lớp do tôi phụ trách . - Học sinh về nhà ít thời gian nghiên cứu thêm nên phần lớn chỉ phụ thuộc vào bài tập được giao trên lớp. -Khả năng bản thân giáo viên có hạn , tài liệu tham khảo ít nên phạm vi nghiên cứu còn hạn chế. - Tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu để tìm ra biện pháp tối ưu nhất giúp các em giải toán có lời văn một cách dễ dàng hơn và hiệu quả cao nhất. B, ý kiến đề xuất - Quá trình nghiên cứu và kinh nghiệm dạy toán có lời văn theo chương trình sách giáo khoa mới tôi nhận thấy về cơ bản nội dung sách giáo khoa và chương trình khá phù hợp .Tất nhiên để có được kinh nghiệm dạy giải toán có lời văn cho HS lớp 1, người giáo viên phải dày công nghiên cứu tài liệu và theo dõi HS qua nhiều năm, nắm bắt được điểm yếu của HS để tập trung khắc phục . Có như vậy mới đạt được đích của việc đổi mới phương pháp dạy học . - Mặt khác , qua nhiều năm dạy ở khối lớp 1 đã được thực hiện các chương trình trước và sau thay sách tôi nhận thấy nếu có thể đưa vào chương trình dạng toán nhiều hơn, ít hơn( tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng) thì HS vẫn có thể giải tốt . Đặc biệt hiện nay chương trình giải toán trên mạng có một số dạng bài toán có lời văn rất hay phù hợp với nhận thức của học sinh lớp 1 nhưng không có trong chương trình. - Các nhà giáo dục nên soạn chương trình cụ thể cho lớp học hai buổi trên ngày. PhầnIII- kết luận Phương pháp dạy giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1 giúp học sinh hoàn thiện một bài giải đủ 3 bước: câu lời giải+ phép tính + đáp số là vấn đề đang được các thầy cô trực tiếp dạy lớp 1 rất quan tâm. Vấn đề đặt ra là giúp học sinh lớp 1 viết câu lời giải của bài toán sao cho sát với yêu cầu mà câu hỏi của bài toán đưa ra . Chính vì vậy nên tôi mạnh dạn đưa ra kinh nghiệm sáng kiến mà bản thân tôi đã vận dụng vào trong quá trình dạy và đạt kết quả tương đối khả chúng tôi nhiên trong phạm vi đề tài này vấn đề giải quyết được có lớn song không tránh khỏi hạn chế, rất mong có được sự tham gia góp ý và xây dựng của quý thầy cô và bạn bè đồng nghiệp để chất lượng giải toán đạt cao hơn. Xin chân thành cảm ơn! Sơn Hải, ngày 10 tháng 4 năm 2009 Người viết Nguyễn Thị Thuý ý kiến đánh giá của hội đồng khoa học

Giải Mã Xét Nghiệm Máu Trong Bảng

Khi kiểm tra y tế hoặc sự hiện diện của bất kỳ bệnh nào, một người phải vượt qua xét nghiệm máu tổng quát. Nghiên cứu này giúp chẩn đoán các bệnh lý viêm, ác tính và nhiễm trùng trong giai đoạn đầu. Xét nghiệm máu cũng cần thiết để đánh giá hiệu quả điều trị.

Giải mã xét nghiệm máu nói chung

Xin lưu ý: đối với trẻ em, định mức của từng chỉ số có thể khác nhau rất nhiều. Tất cả phụ thuộc vào độ tuổi của trẻ.

Giải mã KLA ở người lớn đơn giản hơn, vì các giá trị bình thường không thay đổi thường xuyên trong quá trình trưởng thành.

Các chỉ số sau đây được chỉ định trong kết quả xét nghiệm máu:

Tiểu cầu đóng một vai trò quan trọng trong đông máu.

Nếu mức độ của chúng không bình thường, điều này cho thấy vấn đề với sự hình thành máu, mặc dù một số nguyên nhân của vi phạm là sinh lý. Theo số lượng tiểu cầu, các bệnh lý hoặc điều kiện đặc biệt sau đây có thể bị nghi ngờ:

Hồng cầu

Các tế bào hồng cầu mang hemoglobin trong chính chúng, vì vậy chức năng chính của chúng là chuyển oxy đến các cơ quan và mô. Sự sai lệch về mức độ của các tế bào hồng cầu so với tiêu chuẩn có lý do riêng của chúng:

Huyết sắc tố

Trong cơ thể, huyết sắc tố chịu trách nhiệm chuyển oxy, do đó chỉ số này xác định mức độ bão hòa oxy của các cơ quan và mô. Những lý do có thể khiến độ lệch của HGB so với định mức:

Tỷ lệ phần trăm thể tích máu lưu thông đến toàn bộ khối tế bào phản ánh hematocrit. Độ lệch nhỏ của chỉ số này có thể được coi là bình thường. Những thay đổi mạnh mẽ phát triển vì những lý do sau:

Bạch cầu

Các tế bào bạch cầu chịu trách nhiệm cho khả năng miễn dịch tế bào của cơ thể: đại thực bào, bạch cầu, bạch cầu trung tính và tế bào lympho. Họ chống lại các tác nhân truyền nhiễm, tổng hợp kháng thể. Theo kết quả xét nghiệm máu, mức độ bạch cầu trong một số lý do cũng có thể tăng hoặc giảm:

ESR

Việc giải thích xét nghiệm máu ở trẻ em và người lớn nhất thiết phải chứa ESR. Thông thường các chuyên gia viết chỉ số này ở dưới cùng, như thể tóm tắt. ESR có thể gián tiếp chỉ ra các quá trình viêm khác nhau:

Số lượng bạch cầu trung tính có thể thay đổi tùy thuộc vào trạng thái của hệ thống miễn dịch, vì những tế bào này là một loại tế bào bạch cầu. Tùy chọn cho độ lệch của chỉ số xét nghiệm máu so với chỉ tiêu:

Bạch cầu ái toan

Chỉ báo màu

Một chỉ số màu cho biết mức độ bão hòa của các tế bào hồng cầu với huyết sắc tố. Tùy thuộc vào số lượng hồng cầu, độ sáng của màu của máu được xác định. CP được tính bằng tỷ lệ của huyết sắc tố với số lượng hồng cầu – HGB / RBC. Kết quả có thể đo được chỉ số này:

Một hình ảnh lâm sàng chi tiết hơn về tình trạng của bệnh nhân giúp thu được phân tích sinh hóa của máu tĩnh mạch. Các chỉ số quan trọng của nghiên cứu này bao gồm:

Video

CÁCH QUYẾT ĐỊNH PHÂN TÍCH MÁU CỦA BẠN CHO MỌI TUỔI 01/03/2018

Chú ý! Các thông tin được trình bày trong bài viết chỉ dành cho hướng dẫn. Tài liệu của bài viết không kêu gọi điều trị độc lập. Chỉ có bác sĩ có trình độ mới có thể đưa ra chẩn đoán và đưa ra khuyến nghị điều trị dựa trên đặc điểm cá nhân của một bệnh nhân cụ thể.

Tìm thấy một lỗi trong văn bản? Chọn nó, nhấn Ctrl + Enter và chúng tôi sẽ sửa nó!

Câu Đố Vui Về Thầy Cô Hay Nhất Năm 2022, Có Đáp Án, Câu Đố 20/11

Không chỉ giúp báo tường trở nên bắt mắt hơn mà câu đố vui 20-11, câu đố về thầy cô còn giúp chương trình chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam diễn ra thành công và để lại nhiều ấn tượng trong lòng mọi người. Vì thế, nhân ngày 20-11 sắp đến, chúng tôi xin tổng hợp và chia sẻ các câu đố 20/11, các bạn cùng tham khảo và lựa chọn.

Những câu đố vui về thầy cô hay nhất

– Câu đố vui về thầy cô số 1:

Anh mặt đen, anh da trắng

Anh mình mỏng, anh nhọn đầu

Khác nhau mà rất thân nhau

Khi đi khi ở chẳng bao giờ rời?

– Câu đố vui về thầy cô số 2: Lịch nào dài nhất?

– Câu đố vui về thầy cô số 3:

Đố ai quét sạch quân Đường

Nổi danh Bố Cái Đại Vương thuở nào

Tiếc thay mệnh bạc tài cao

Giang sơn đành phải rơi vào ngoại bang?

– Câu đố vui về thầy cô số 4:

Có bà nữ tướng Vâng mệnh trời ra

Trị voi một ngà

Dựng cờ mở nước?

– Câu đố vui về thầy cô số 5:

Đất thiêng khí thụy Lam Sơn

Có người thánh chúa long nhan khác thường

Tiền là tiền nhật đăng quang

Hưng là hưng phục Lê Hoàn nghiệp xưa?

– Câu đố vui về thầy cô số 6:

Đố ai trên Bạch Đằng giang

Làm cho cọc nhọn dọc ngang sáng ngời

Phá quân Nam Hán tơi bời

Gươm thần độc lập giữa trời vang lên?

Câu đố về ngày 20-11 có đáp án

– Câu đố vui về thầy cô số 7:

Hè về áo đỏ như son

Hè đi thay lá xanh non mượt mà

Bao nhiêu tay toả rộng ra

Như vẫy như đón bạn ta đến trường?

– Câu đố vui về thầy cô số 8:

Đố ai gian khó chẳng lùi

Chí Linh mấy lượt nếm mùi đắng cay

Mười năm Bình Định ra tay

Thành Đông Quan, mất vía bầy Vương Thông?

– Câu đố vui về thầy cô số 9:

Mặt em phương trượng chữ điền

Da em thì trắng áo xinh mặc ngoài

Lòng em thì có đất trời

Có câu nhân nghĩa, có lời hiếu trung

Đến khi quân tử có dùng

Thì em sẽ ngỏ tấm lòng cho xem.

Câu đố về thầy cô và mái trường

– Câu đố vui về thầy cô số 10:

Đố ai nêu lá quốc kì

Mê Linh đất cũ còn ghi muôn đời

Yếm, khăn đội đá vá trời

Giặc Tô mất vía rụng rời thoát thân?

– Câu đố vui về thầy cô số 11:

Da trắng muốt

Ruột trắng tinh

Bạn với học sinh

Thích cọ đầu vào bảng

– Câu đố vui về thầy cô số 12:

Thân hình chữ nhật

Chữ nghĩa đầy mình

Ai mà muốn giỏi

Sẽ phải nhìn tôi.

Câu đố về tôn sư trọng đạo

– Câu đố vui về thầy cô số 13:

Đố ai qua Nhật, sang Tàu

Soạn thành huyết lệ lưu cầu tàn thư

Hô hào vận động Đông Du

Kết đoàn cùng với sĩ phu khắp miền?

– Câu đố vui về thầy cô số 14:

Nơi nào nắng biển trong lành

Bác dạy đàn trẻ học hành tiến nhanh?

– Câu đố vui về thầy cô số 15:

Đầu đuôi vuông vắn như nhau

Thân chia nhiều đốt rất mau rất đều

Tính tình chân thức đáng yêu

Muốn biết dài ngắn mọi điều có em?

– Câu đố vui về thầy cô số 16:

Nơi nào Bác sống một thời

Làm thầy giáo dạy trẻ vui học hành?

– Câu đố vui về thầy cô số 17:

Làng Nguyệt Ức, có một người

Khai Xuyên tên chữ, hiệu thì Hạnh Am

Đang làm tri huyện bỏ quan

Lục niên ẩn tích dạy đàn học sinh

Giúp mưu Nguyễn Huệ Bắc Bình

Đố ai biết được tiên sinh tên gì?

– Câu đố vui về thầy cô số 18:

Cày trên đồng ruộng trắng phau

Khát xuống uốmg nước giếng sâu đen ngòm?

– Câu đố vui về thầy cô số 19:

Nơi nào thành quách dọc ngang

Theo cha, Bác vượt gian nan học hành?

2. Các câu đố hay về học tập

– Câu đố vui về thầy cô số 20:

Cái mình đo đỏ

Cái mỏ nâu nâu

Xuống tắm ao sâu

Lên cày ruộng cạn?

(Đố là cái gì?)

Đáp án: Cái bút mực

– Câu đố vui về thầy cô số 21:

Cây suôn đuồn đuột

Trong ruột đen thui

Con nít lui cui

Giẫm đầu đè xuống?

(Đố là cái gì?)

– Câu đố vui về thầy cô số 22:

Chị ơi xích lại cho gần

Cho tôi chấm chút một hàng lệ rơi?

(Đố là cái gì?)

– Câu đố vui về thầy cô số 23:

Da tôi màu trắng

Bạn cùng bảng đen

Hãy cầm tôi lên

Tôi làm theo bạn?

(Đố là cái gì?)

Câu hỏi về ngày nhà giáo việt nam 20/11

– Câu đố vui về thầy cô số 24:

Mặt em phương trượng chữ điền

Da em thì trắng, áo đen mặc ngoài

Lòng em thì có đất trời

Có câu nhân nghĩa, có lời hiếu trung

Dù khi quân tử có dùng

Thì em sẽ ngỏ tấm lòng cho xem?

(Đố là cái gì?)

– Câu đố vui về thầy cô số 25:

Đường ngang, ngõ tắt tứ bề

Ai chưa thuộc nẻo đi về đều xem?

(Đố là cái gì?)

– Câu đố vui về thầy cô số 26:

Hai đầu mọc ở hai chân

Cái chân lại đúng là thân mới kỳ

Xin bạn một mẩu bút chì

Mượn bạn ngòi bút cũng vì việc chung?

(Đố là cái gì?)

– Câu đố vui về thầy cô số 27:

Mặt cô như trát nhọ nồi

Lại còn điểm phấn cho người ta trông

Đàn bà cho tới đàn ông

Nhìn cô thỏa lòng, lau mặt cho cô?

(Đố là cái gì?)

– Câu đố vui về thầy cô số 28:

Mình bầu, môi miệng nứt hai

Chỉ có một mắt, chui hoài trong hang?

(Đố là cái gì?)

– Câu đố vui về thầy cô số 29:

Có mặt mà chẳng có đầu

Bốn chân có đủ, không cần có tay

Học trò kẻ dở, người hay

Ai ai cũng phải hàng ngày nhớ em?

(Đố là cái gì?)

– Câu đố vui về thầy cô số 30:

Đi học lóc cóc theo cùng

Khi về lại bắt khom lưng cõng về?

(Đố là cái gì?)

– Câu đố vui về thầy cô số 31:

Tính ưa chính xác

Tấm lòng thẳng ngay

Giúp trò hàng ngày

Học hành tấn tới?

(Đố là cái gì?)

– Câu đố vui về thầy cô số 32:

Vừa bằng một đốt ngón tay

Day đi day lại, mất bay hình thù?

(Đố là cái gì?)

– Câu đố vui về thầy cô số 33:

Gốc gác vốn họ nhà cây

Quê cha, đất tổ, nơi đầy mầu xanh

Vì đời hiến cả tấm thân

Cắt, nghiền, nấu, tẩy, bao lần chẳng lo

Để nên cuốn vở học trò

Để thêm bức họa, trang thơ cho đời?

(Đố là cái gì?)

– Câu đố vui về thầy cô số 34:

Chân vuông, khuôn mặt cũng vuông

Quanh năm đứng vững, chẳng buồn đi đâu

Đàn con mấy đứa như nhau

Đứng vây quanh mẹ, chẳng bao giờ nằm?

(Đố là cái gì?)

– Câu đố vui về thầy cô số 35:

Mẹ tôi thân béo, gáy tròn

Mẹ tài nhờ có nghìn con tuyệt vòi

Mấy người muốn hiểu mẹ tôi

Quen biết cả đời mà dễ hiểu đâu?

(Đố là cái gì?)

Các câu đố hay về học tập

Nhân ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11, các em có thể tìm những ca dao về thầy cô hay, đặc biệt như là món quà ý nghĩa cho thầy cô.